Bản án số 83/2026/LĐ-PT ngày 05/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2026/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 83/2026/LĐ-PT ngày 05/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 83/2026/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/05/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 83/2026/LĐ-PT Bản án số 83/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/LĐ-PT Bản án số 83/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 83/2026/LĐ-PT
Ngày: 05 - 5 - 2026
V/v “Tranh chấp đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Tài
Các Thẩm phán:
Trương Thị Quỳnh Trâm
Ông Huỳnh Ngọc Quyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang - Thư Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn
Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong c ngày 04 tháng 02, ngày 04, 30 tháng 3, ngày 06 tháng 4 ngày 05
tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm
công khai vụ án lao động thụ số 125/2025/TLPT-ngày 10 tháng 12 năm 2025 về
việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do bản án lao động thẩm số 99/2025/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7789/2025/QĐ-PT ngày 26
tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 786/2026/QĐ-PT ngày 15 tháng 01
năm 2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 2169/2026/QĐPT-ngày 04 tháng 02
năm 2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 2771/2026/QĐPT-ngày 04 tháng 3
năm 2026 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 4649/2026/QĐPT-LĐ ngày 06 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
- Nguyên đơn: Mai Thị Thu H, sinh năm 1999 - Địa chỉ: F Đ, phường X - Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 2002 -
Địa chỉ liên hệ: 575 Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền s
công chứng 001742; quyển số 05/2025 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2025 tại Văn
phòng C). (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị Lệ K là Luật
của Công ty L cộng sự thuộc Đoàn Luật Thành phố H - Địa chỉ: 2 đường D,
2
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: E Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh. (Có mặt)
- B đơn: Công ty TNHH D - Địa chỉ: Lầu B, Tòa nhà A đường G, phường A,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970
- Địa chỉ: 1 đường X, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số
089/GUQ-AZ ngày 25/6/2025 của Công ty TNHH D). (Có mặt)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Mai Thị Thu H và bị đơn Công ty TNHH D
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn Mai Thị Thu HĐỗ Thị Thanh T
người đại diện theo ủy quyền trnh bày:
Mai Thị Thu H được tuyển dụng làm việc tại Công ty TNHH D1 (nay là Công
ty TNHH D) (sau đây gọi tắt “Công ty”) theo Hợp đồng lao động s230804/Hợp
đồng lao động ngày 04/8/2023 với thời hạn từ ngày 05/8/2023 đến ngày 04/8/2024.
Ngày 04/8/2024, H Công ty tiếp tục kết Hợp đồng lao động số 23-021/Hợp
đồng lao động với chức danh nhân viên viết nội dung, thời hạn hợp đồng 12 tháng
(từ ngày 04/8/2024 đến ngày 04/8/2025) với mức lương thực tế 13.000.000
đồng/tháng, mức lương ghi trên hợp đồng 7.000.000 đồng/tháng, ng các chế độ
khác theo quy định của pháp luật nội quy của Công ty. Ngày 07/11/2024, Công ty
gửi đến bà H một thư điện tử và truyền đạt thông tin bằng miệng đến bà H về việc chấm
dứt hợp đồng lao động với nội dung chấm dứt Hợp đồng lao động số 23-021/Hợp đồng
lao động ngày 04/8/2024, bà H tiếp tục làm việc tại Công ty kể từ ngày 07/11/2024 đến
hết ngày 06/12/2024 phải ngưng làm việc kể từ ngày 07/12/2024 với lý do người lao
động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Ngày
15/11/2024, Công ty tiếp tục gửi cho H Thông báo số 01/2024 về việc chấm dứt hợp
đồng lao động với nội dung chấm dứt Hợp đồng lao động với H, thời gian báo trước
là 30 ngày kể từ ngày 15/11/2024 với lý do chấm dứt tương tự thông báo ngày
07/11/2024 do người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp
đồng lao động. ng ngày 15/11/2024, H Công ty buổi gặp mặt để trao đổi
trực tiếp về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo các thông báo nêu trên. Tại buổi làm
việc, bà H xác nhận Công ty đang thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật, H đã đưa ra các yêu cầu bồi thường tuy nhiên hai bên không đạt
được thỏa thuận; cùng ngày Công ty tiếp tục gửi cho H các thư điện tử với nội dung
mang tính chất thúc ép, yêu cầu H phản hồi các đề xuất của Công ty trong thời gian
rất ngắn (03 giờ kể từ thời điểm nhận thư). Ngày 18/11/2024, Công ty B Thông báo số
03/2024 về việc hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với nội dung
Công ty thu hồi, hủy bỏ các thông báo ngày 07/11/2024, ngày 15/11/2024 và thư điện tử
gửi ngày 07/11/2024 liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Bà H
không đồng ý việc Công ty rút lại các thông báo chấm dứt hợp đồng lao động nêu trên.
Thực hiện thông báo ngày 07/11/2024, bà H ngưng làm việc tại Công ty kể từ ngày
07/12/2024, tuy nhiên đến ngày 17/12/2024 Công ty căn cứ việc H ngưng làm việc
để ban hành Quyết định số 10/2024/QĐ về việc chấm dứt hợp đồng lao động với nội
dung chấm dứt hợp đồng lao động với H kể từ ngày 17/12/2024 lý do H tự ý nghỉ
3
việc trong 06 ngày liên tiếp (từ ngày 09/12/2024 đến ngày 16/12/2024) không
do chính đáng. Việc Công ty ban hành các thông báo chấm dứt hợp đồng lao động
trái quy định pháp luật trong suốt 15 tháng làm việc tại Công ty, H luôn hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, không vi phạm hay bị xử kỷ luật, hàng tháng kết quả
công việc của bà H luôn được quản lý trực tiếp đánh giá là đạt hiệu quả và đã nhận được
nhiều phản hồi tích cực từ khách hàng. Theo quy định tại Mục 5.1 Quy chế đánh giá
mức độ hoàn thành công việc do Công ty ban hành ngày 06/02/2024 thì bà H chưa nhận
bất kỳ Biên bản cảnh cáo nào, quy chế này chưa từng được tham khảo ý kiến của người
đại diện người lao động, cũng chưa được ban hành phổ biến công khai cho tất cả
người lao động biết. Do Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với H
trái với quy định của pháp luật, trái với Quy chế của Công ty, hành vi liên tục tránh
không thực hiện nghĩa vụ của Công ty đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi
ích hợp pháp của H nên H yêu cầu Tòa án tuyên Thông báo chấm dứt hợp đồng
lao động ngày 07/11/2024 ngày 15/11/2024, Thông báo hủy bỏ việc đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động ngày 18/11/2024, Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động
ngày 17/12/2024 là trái quy định pháp luật và hủy bỏ các văn bản này; Yêu cầu Công ty
thanh toán cho H tiền lương trong những ngày H không được làm việc theo Hợp
đồng lao động ngày 04/8/2024 đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án theo mức
lương thực tế 13.000.000 đồng/tháng, tạm tính từ ngày 07/12/2024 đến ngày
07/5/2025 là 65.000.000 đồng, trả 02 tháng lương đền theo mức lương thực tế
26.000.000 đồng, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho H
trong thời gian không được làm việc theo Hợp đồng lao động từ ngày 18/12/2024 đến
ngày Tòa án giải quyết xong vụ án.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu
Công ty thanh toán cho H tiền lương trong những ngày H không được làm việc
tính từ ngày 07/12/2024 đến ngày 04/8/2025 07 tháng 17 ngày công trên mức lương
thực tế 13.000.000 đồng/tháng 101.045.454 đồng, trả thêm cho H 02 tháng tiền
lương thực tế 26.000.000 đồng; đóng BHXH, BHYT, BHTN cho H tính tngày
18/12/2024 đến hết ngày 30/4/2025; trả tiền trợ cấp thôi việc cho H đối với 02 tháng
thử việc là 3.250.000 đồng, tổng cộng là 130.295.454 đồng.
Bị đơn Công ty TNHH D Nguyễn Văn T1 người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
H bắt đầu làm việc tại Công ty từ ngày 04/8/2023; ngày 04/8/2024, H
Công ty T3 hợp đồng lao động số 23-021/Hợp đồng lao động, chức danh nhân viên
viết nội dung, mức lương 7.000.000 đồng/tháng, thời hạn hợp đồng từ ngày 04/8/2024
đến ngày 04/8/2025. H luôn cố gắng học hỏi, hòa đồng với tập thể, hoàn thành tốt
công việc được giao… nhưng không biết do cụ thể gì, lãnh đạo suy đoán do H
chơi thân với vài đồng nghiệp nhưng các đồng nghiệp đó đã xin nghỉ việc nên th
làm tâm H bất ổn, buồn vui xen chút bất mãn với Công ty về vài vấn đề nên bà H
trở nên là, bất cần, không chú tâm công việc, hay sai sót nhưng lại cố chấp không
thừa nhận lỗi để khắc phục và thay đổi theo sự nhắc nhở của trưởng bộ phận và lãnh đạo
Công ty. Ngày 05/11/2024, không thể chấp nhận được ssai sót không hoàn thành
công việc, Công ty tiến hành họp và lập Biên bản cuộc họp nhưng H không thừa
nhận sai sót không biên bản. Ngày 13/11/2024, H vẫn hay sai sót không
4
hoàn thành công việc khách hàng phàn nàn, Công ty tiến hành họp và lập Biên bản cuộc
họp nhưng bà H không thừa nhận sai sót không ký biên bản. Ngày 15/11/2024, vì
H vẫn tiếp tục cố chấp không thay đổi nên Công ty ra Thông báo số 02/2024 về việc
chấm dứt hợp đồng lao động với H gửi cho H đúng quy định. Khi nhận được
thông báo, H viết email phản hồi không đồng ý đưa ra các yêu cầu bồi thường.
Bởi H không đồng ý nghỉ việc nên 03 ngày sau, tức ngày 18/11/2024 Công ty R
Thông báo số 03/2024 về việc thu hồi toàn bộ Thông báo số 02/2024 để H tiếp tục
lao động tại Công ty như bình thường nghĩ rằng H vốn từ trước giờ nhân viên
tốt thể giai đoạn khó khăn riêng nên H làm việc không hiệu quả, cần cho
H cơ hội về thời gian để vượt qua khó khăn và tiếp tục cống hiến làm việc cho Công ty.
H phản ứng cho rằng Công ty không coi trọng chạm tự ái nên không chịu làm
việc tiếp nhất định đòi nghỉ đòi bồi thường theo yêu cầu tại email gửi Công ty.
Công ty nhiều lần mong H bỏ qua, cố gắng vượt qua khó khăn tiếp tục làm việc
nhưng H không đồng ý. Ngày 03/12/2024, Công ty tiến hành họp lập Biên bản
cuộc họp về việc chỉ ra các lỗi cụ thể mong H nhận ra khắc phục nhưng H
không nhận lỗi không biên bản, chỉ bắt Công ty bồi thường để được nghỉ việc.
Ngày 16/12/2024, Công ty tiến hành họp lập Biên bản cuộc họp về việc H nghỉ
việc không có lý do chính đáng từ ngày 09/12/2024 đến ngày 16/12/2024. Ngày
17/12/2024, Công ty B1 phải ra Quyết định số 10/2024/QĐ- về việc chấm dứt hợp đồng
lao động với H. H nhận quyết định, im lặng năm 2025 thì khởi kiện. Với yêu
cầu khởi kiện của H, Công ty không đồng ý, Công ty chỉ đồng ý giải quyết quyền lợi
của H đúng với nội dung Quyết định số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024 về việc chấm
dứt hợp đồng lao động với H. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của H.
Ngày 28/8/2025, bị đơn Đơn phản tố đề ngày 26/8/2025 với nội dung trong
giai đoạn tháng 10, 11/2024 khi còn làm việc tại Công ty, bà H đã hành vi dùng
email được Công ty cấp để thực hiện các thao tác tải xuống, xóa, thay đổi nội dung các
tài liệu, thông tin quan trọng được bảo mật, cụ thể ngày 24/10/2024 tải xuống 09 tệp tin,
ngày 16/11/2024 tải xuống 137 tệp tin, ngày 16/11/2024 thao tác xóa bỏ 09 tệp tin, tổng
cộng bà H đã tải xuống 287 files khi in ra hơn 500 trang giấy A4. Các tài liệu, thông tin
quan trọng trên thông tin khách hàng, các dán của Công ty…gây ra những hậu quả
như tài liệu, thông tin quan trọng thể bị sao chép, chia sẻ, bán một cách mất kiểm
soát khi lọt ra ngoài, gây mất thông tin, rối loạn hoạt động nội bộ các nhóm làm việc,
gây mất uy tín Công ty, bị khách hàng kiện,…Ngày 06/12/2024, Công ty tiến hành lập
biên bản vi phạm, H được mời được nghe chứng minh các hành vi vi phạm, H
thừa nhận hành vi trên nhưng cho rằng đó tài sản của bà H làm việc tại Công ty
cùng các đồng nghiệp trong nhóm làm việc nên H có quyền tải xuống, sử dụng, bà H
không đồng ý tên vào biên bản. Căn cứ vào thỏa thuận bảo mật thông tin, Công ty
yêu cầu bà H bồi thường cho Công ty số tiền 238.800.000 đồng.
Bản án lao động sơ thẩm số 99/2025/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
1. Chấp nhận một phần u cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H:
5
1.1 Tuyên bố Công ty TNHH D đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động số 23-
021/Hợp đồng lao động ngày 04/8/2024 với Mai Thị Thu H trái pháp luật và hy
b Thông o chm dt hp đồng lao động s 01/2024 ngày 07/11/2024, Thông o
chm dt hp đồng lao động s 01/2024 ngày 15/11/2024, Thông báo về việc hủy bỏ
việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 03/2024 ngày 18/11/2024, Quyết đnh
chấm dứt hợp đồng lao động số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024.
1.2 Buộc Công ty TNHH D phải thanh toán cho bà Mai Thị Thu H tiền lương của
những ngày không được làm việc là 42.750.000 đồng, trả thêm 02 tháng tiền lương theo
hợp đồng lao động là 11.000.000 đồng; tổng cộng là 53.750.000 đồng.
1.3 Buộc Công ty TNHH D và bà Mai Thị Thu H cùng đóng bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tính từ ngày 05/6/2023 đến ngày 04/8/2023 từ ngày
18/12/2024 đến ngày 30/4/2025 theo quy định của pháp luật tại của quan bảo hiểm
hội thẩm quyền theo mức lương 5.500.000 đồng/tháng Công ty TNHH D phải
chịu hậu quả pháp phát sinh từ việc chậm đóng tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp cho Mai Thị Thu H trong khoảng thời gian tính tính từ ngày
05/6/2023 đến ngày 04/8/2023 và từ ngày 18/12/2024 đến ngày 30/4/2025.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Thu H về
việc:
2.1 Buộc Công ty TNHH D phải thanh toán cho bà Mai Thị Thu H tiền trợ cấp
thôi việc là 3.250.000 đồng.
2.2 Buc Công ty TNHH D phải chịu hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo mức lương thực tế của Mai Thị Thu H
13.000.000 đồng/tháng.
3. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH D phải chịu tiền án phí 1.612.500
đồng; bà Mai Thị Thu H được miễn án phí.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án
cho các bên đương sự.
Ngày 08/10/2025, nguyên đơn Mai Thị Thu H nộp đơn kháng cáo bản án
thẩm. Ngày 10/10/2025, bị đơn Công ty TNHH D nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Mai Thị Thu H
Luật sư Nguyễn Thị Lệ K trình bày:
Cấp sơ thẩm không xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp,
nhận định trong bản án chủ quan, không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ
án, dẫn đến bản án đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích của tôi trong
việc giải quyết các yêu cầu liên quan đến nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Mặc Cấp thẩm đã tuyên các
quyết định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty trái pháp
luật buộc hủy bỏ các thông báo, quyết định liên quan, tuy nhiên chưa giải quyết hậu
quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đúng theo quy định
của Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể như sau:
6
Thứ nhất, về mức lương bồi thường: Theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, nghĩa
vụ của người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
là phải trả tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả
thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng
lao động.
- Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ chứng minh mức lương thực
tế 13.000.000 đồng/tháng, thể hiện được sự tăng tiến hợp của tiền lương qua từng
thời kỳ, gồm: Thử việc, hợp đồng lao động lần đầu, hợp đồng lao động lần 2.
Theo đó, mức lương thử việc (từ ngày 05/06/2023 đến ngày 04/08/2023) 9.000.000
đồng (theo thư mời nhận việc email mời nhận việc của Công ty) yêu cầu Tòa án
thu thập bản chính do người sử dụng lao động đang giữ, phù hợp với Điều 91 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015 nhưng Tòa án đã không thu thập từ người sử dụng lao động), mức
lương thực tế của hợp đồng lao động ký lần đầu (từ ngày 05/08/2023 đến ngày
04/08/2024) 10.500.000 đồng mức lương thực tế của hợp đồng lao động lần 2
(từ ngày 04/08/2024 đến ngày 04/08/2025) là 13.000.000 đồng.
- Trong các email thỏa thuận trong quá trình đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động, Công ty thừa nhận mức lương 13.000.000đ/tháng (email ngày 18/11/2024).
Chứng cứ này thuộc trường hợp không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015. Tuy nhiên, Cấp thẩm không xem xét đầy đủ, khách quan các
chứng cứ không áp dụng đúng quy định pháp luật, xác định mức lương để tính
các khoản nghĩa vụ nêu trên 5.500.000 đồng/tháng (mức lương này không tính các
phụ cấp khác như tiền xăng xe, tiền điện thoại, tiền cơm trưa). Cấp thẩm xác định
mức lương làm sở bồi thường không đúng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Thứ hai, bị đơn nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc cho H đối với khoảng thời
gian làm việc thực tế nhưng không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp, theo quy
định tại khoản 2 Điều 41, Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 Điều 8 Nghị định số
145/2020/NĐ-CP. Trong vụ án này, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán trợ cấp thôi
việc đối với 02 tháng thử việc (là thời gian không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp).
Tuy nhiên, Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, dẫn đến việc
giải quyết vụ án chưa đúng với quy định của pháp luật về quyền lợi của người lao động
khi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trong trường hợp này, thời gian thử
việc 2 tháng được xác định là thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động,
- Cũng theo điểm c khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thi: "Thời gian
làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính
theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp tháng lít hơn hoặc bằng 06 tháng được tính
bằng 1/2 năm, trên 06 tháng được tính bằng 01 năm làm việc". Như vậy, 02 tháng thử
việc của bà H được tính bằng 1/2 năm. Nguyên đơn xác định mức trợ cấp thôi việc được
nhận là: 1/2 (2 tháng lẻ được tính 1/2 năm) x 1/2 (cứ mỗi năm làm việc được trợ cấp
một nửa tháng tiền lương theo Điều 46 BLLĐ) x 13.000.000 đồng (mức lương thực tế
người lao động được hưởng) = 3.250.000 đồng.
Thứ ba, Cấp thẩm đã giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Cụ thể,
nguyên đơn không yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y
7
tế và bảo hiểm thất nghiệp đối với thời gian thử việc 02 tháng trước khi ký hợp đồng lao
động chính thức. Bị đơn không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề này; Pháp luật hiện
hành cũng không quy định bắt buộc phải đóng bảo hiểm hội trong thời gian thử
việc. Cấp sơ thẩm đã tuyên buộc nguyên đơn bị đơn phải cùng đóng các loại bảo
hiểm nói trên cho giai đoạn từ ngày 05/6/2023 đến ngày 04/8/2023 (thời gian thử việc)
là đã giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, không bảo đảm đúng nguyên tắc tự
quyết định tự định đoạt của đương stheo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
vậy, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa Bản án thẩm ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành
phố Hồ Chí Minh, theo đó:
- Chấp nhận yêu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ của
người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, cụ thể
buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn các khoản sau:
+ Trả tiền lương trong những ngày không được làm việc theo Hợp đồng lao động
số 23-021/Hợp đồng lao động theo mức lương thực tế 13.000.000 đồng/tháng. Tính từ
ngày 07/12/2024 đến ngày 04/8/2025 (7 tháng 17 ngày) là 101.045.454 đồng.
+ Trả 02 tháng lương đền theo mức lương thực tế 13.000.000 đồng/tháng là:
26.000.000 đồng.
+ Trả trợ cấp thôi việc theo mức lương thực tế 13.000.000 đồng/tháng
3.250.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty thanh toán cho bà H là 130.295.454 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa
bản án thẩm theo hướng chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở
xác định mức tiền lương làm căn cứ tính nghĩa vụ bồi thường do đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật là 13.000.000 đồng/tháng.
Người kháng cáo, nguyên đơn Mai Thị Thu H Đỗ Thị Thanh T người
đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguyên đơn thống nhất với ý kiến tranh luận của Người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn, sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn theo mức tiền lương làm căn cứ tính nghĩa vụ bồi thường do đơn phương
trái pháp luật là 13.000.000 đồng/tháng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm: Vi
bằng số 24/2026/VB-TPLVTSQ3 lập ngày 16/3/2026 thể hiện nội dung các tin nhắn
trao đổi giữa hai bên, bản dịch các tài liệu tiếng Anh, Hợp đồng lao đọng giữa nguyên
đơn với Công ty mới. Nguyên đơn xác định tiền lương được tính hàng tháng từ ngày 01
đến ngày cuối cùng của tháng. Đối với các tài liệu do bị đơn cung cấp, nguyên đơn cho
rằng các tài liệu này đều là bản photo, không đáp ứng điều kiện để được xác định
chứng cứ theo Điều 95 BLTTDS năm 2015. Trong khi đó, tại phiên tòa phúc thẩm lần
02 (ngày 04/02/2026), đối với các email do nguyên đơn cung cấp dưới dạng ảnh chụp
8
màn hình (photo) và thư mời nhận việc bằng tiếng Anh, Tòa án đã giải thích cho nguyên
đơn về việc cần lập vi bằng, dịch thuật để đảm bảo giá trị chứng cứ. Các tài liệu do bị
đơn cung cấp không chỉ không đáp ứng điều kiện về hình thức chứng cứ còn tồn tại
mâu thuẫn về nội dung, không đủ cơ sở để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Đối với yêu cầu của Tòa án về việc bổ sung, làm chứng cứ liên quan đến tiền
lương tháng 12/2024, nguyên đơn trình bày như sau: Theo "Sao tài khoản ngân hàng
của Mai Thị Thu H ngày 30/01/2026", vào ngày 02/01/2025, nguyên đơn đã nhận số
tiền 5.250.000 đồng với nội dung thanh toán "Al Zone tra thu nhap thang 12 2024".
Căn cứ hồ vụ án, sở để xác định rằng: H thực tế làm việc đến hết ngày
06/12/2024 (thực hiện Thông báo về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ số 01/2024
ngày 07/11/2024) hoàn tất bàn giao công việc trong cùng ngày. Số ngày công thực
tế: 05 ngày (từ 01/12/2024 đến 06/12/2024); Số ngày phép năm chưa sử dụng: 4,5 ngày.
Theo đó, tiền lương tháng 12/2024 H đáng lẽ được thanh toán là: (13.000.000
đồng/22 ngày công) × (5 ngày công + 4,5 ngày phép) = 5.613.000 đồng. Trong khi đó,
số tiền thực tế Công ty đã thanh toán chỉ là: 5,250.000 đồng. Như vậy, Công ty đã thanh
toán thiếu tiền lương tháng 12/2024 của H số tiền: (5.613.000 đồng 5.250.000
đồng) = 363.000 đồng. Tại thời điểm nhận lương tháng 12/2024, H không khiếu nại
về khoản tiền lương còn thiếu thực tế Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật H quyết định sẽ khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của mình. Trong bối cảnh quan hệ lao động đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn,
không còn khả năng thương lượng, H sở để cho rằng việc khiếu nại thêm cũng
sẽ không được Công ty giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong
vụ án này tại cấp thẩm, bà H không yêu cầu Công ty trả số tiền 363.000 đồng còn
thiếu nêu trên, nên tại cấp phúc thẩm H không thể bổ sung yêu cầu này được. Trong
vụ án này, H người lao động nên chỉ thể xác định số tiền lượng đáng lẽ được
nhận nhưng bị Công ty thanh toán sai, đồng thời giải trình do sao sự sai sót đó
nhưng không yêu cầu Công ty phải trả đúng như đã nêu. Đối với yêu cầu giải trình chỉ
tiết cách thức tính toán tiền lương, đây nội dung do phía Công ty thực hiện, H
không phải chủ thể xác lập hay quyết định phương pháp tính, nên không sở
không thể thực hiện việc giải trình này. Nguyên đơn không đồng ý với nội dung kháng
cáo của bị đơn, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Người kháng cáo, bị đơn Công ty TNHH D ông Nguyễn Văn T1 đại diện theo
uỷ quyền trình bày:
Đối với nội dung Cấp thẩm đã tuyên tại Bản án thẩm, bị đơn không đồng ý
do không bất cứ chứng cứ nào chứng minh, tất cả chỉ căn cứ vào yêu cầu khởi kiện
lời khai của nguyên đơn tại Toà án về các mốc thời gian. Bị đơn được bạn bà H
cho biết ngay sau khi ngừng lao động tại Công ty (ngày 07/12/2024), bà H đã đi làm tại
một công ty khác nên thiết nghĩ không thiệt hại gì cả. Nguyên đơn phải chứng cứ
chứng minh bằng hợp đồng lao động, bảng lương, chế độ bảo hiểm tại công ty mới
(hoặc phải yêu cầu Toà án xác minh) đcăn cứ đưa ra yêu cầu xét xử tại Toà án.
Hồ ván hiện nay không bất kỳ chứng cứ nào chứng minh các mốc thời gian
Hội đồng xét xử thẩm đã tính toán để buộc trách nhiệm bị đơn vi phạm tố tng
nghiêm trọng. Trong bản án thẩm, Toà án nhận định về yêu cầu phản tố của bị
đơn nhưng không được Toà chấp thuận do quy định. Bị đơn đã rút yêu cầu đã khởi
9
kiện bằng ván khác đang được Toà án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí
Minh thụ lý giải quyết.
H "một cơn đau đầu" của người sử dụng lao động yếu tố nước ngoài
(Công ty D thực chất do một người nước ngoài làm chủ điều hành, cung cấp dịch
vụ công nghệ, quảng cáo, marketing, người đứng tên trên giấy chứng nhận kinh doanh
chỉ người bạn Việt Nam). H nhóm bạn được tuyển dụng vào làm việc, năm
đầu tiên thì nghiêm túc, nhưng sau khi gặp vài sự việc không như ý thì lợi dụng yếu tố
sếp nước ngoài không rành luật Việt Nam để phá hoại, thao túng các hoạt động kinh
doanh của công ty. Các bạn khác thì tự ý xin nghỉ việc, riêng H thì nấn ná đợi tái
hợp đồng (ngày 04/08/2024 đến 04/08/2025) bắt đầu tỏ thái độ không chịu làm việc,
đi trễ về sớm, cố tình sai sót liên tục trong công việc đến nỗi 03 lần công ty lập biên bản
xử trong một thời gian ngắn (nhưng H không biên bản xử lý, không nhận lỗi,
sửa sai), đến khi công ty chịu hết nổi ra Thông báo cho nghỉ việc thì lập tức đòi bồi
thường; Công ty rút thông báo nhận lại thì bà H cho rằng bị xúc phạm danh dự… Bị
đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm yêu cầu nguyên đơn cung cấp hoặc xem xét
hủy án về xử lại tại Toà án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, nhập cùng
với vụ án đang thụ giải quyết để tòa án khu vực 2 xem xét giải quyết vụ án được đầy
đủ và toàn diện hơn. Bị đơn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm
sửa bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa
phúc thẩm, bị đơn đã cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm: Công văn giải trình, Bảng
theo dõi ngày phép năm; Bảng thanh toán chi tiết, Danh sách trả tiền lương. Bị đơn
xác định tiền lương được tính hàng tháng từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng. Bị
đơn không đồng ý với nội dung kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến tại
phiên tòa phúc thẩm:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nằm trong hạn luật định
nên được chấp nhận hợp lệ. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của những người
tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ ván cho đến trước
thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích những tình tiết liên quan đến vụ án, trên sở
Bộ luật lao động, xét thấy Cấp thẩm xác định Công ty D đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trái pháp luật là căn cứ. Cấp thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm buộc
Công ty TNHH D bà Mai Thị Thu H cùng đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm thất
nghiệp tính t ngày 05/6/2023 đến ngày 04/8/2023 là thời gian thử việc trong khi
nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện đối với vấn đnày. Trên sở thỏa thuận của
hai bên về tiền lương tại các Hợp đồng lao động đã ký kết. đề nghị xác định lại mức tiền
lương theo hợp đồng lao động là 7.000.000 đồng để tính bồi thường. Viện kiểm sát nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và
bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
10
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nằm trong thời hạn luật định phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp
nhận.
[1.2] Về quan hpháp luật: Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” là đúng nhưng áp dụng
điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 viện dẫn chưa chính xác
điều luật, cần điều chỉnh lại là theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xác định vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh theo
quy định tại đim d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39
B lut T tng dân s năm 2015 là đúng quy định.
[1.4] Cấp thẩm căn cứ khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân s2015 không
thụ giải quyết yêu cầu phản tcủa bị đơn tại “Đơn yêu cầu phản tố” nộp ngày
28/8/2025, bị đơn thực hiện quyền khởi kiện thành vụ án khác là đúng quy định.
[1.5] Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ theo
yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự
2015. Nghĩa vụ chứng minh và việc xác định chứng cứ được thực hiện theo quy định v
chứng cứ tại các Điều 91, 92, 93, 94, 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét quan hệ lao động việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động
số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024:
[2.1] Về quan hệ lao động:
- Ngày 02/6/2023, H nhận được T2 mời làm việc của Công ty TNHH D1
nay Công ty TNHH D (qua email) nội dung thể hiện: Thử việc từ 05/6/2023 đến
04/8/2023 với mức lương Net 9.000.000 đồng/tháng; Hợp đồng 1 năm từ 05/8/2023
đến 04/8/2024 với mức lương Net là 10.500.000 đồng/tháng.
- Ngày 05/6/2023, hai bên Hợp đồng thử việc số 230605/HĐTV với thời hạn
từ 05/6/2023 đến 04/8/2023. Nội dung thỏa thuận vtiền lương thể hiện “Tiền lương
bao gồm: (a) Mức lương thử việc: 5.500.000 đồng; (b) Phụ cấp: Ăn uống 500.000 đồng,
Xăng xe 500.000 đồng, Điện thoại 500.000 đồng. Tổng cộng 7.000.000 đồng.
- Ngày 04/8/2023, hai bên giao kết Hợp đồng lao động số 230804/Hợp đồng lao
động ký ngày 04/8/2023 với thời hạn 12 tháng từ ngày 05/8/2023 đến ngày 04/8/2024.
- Ngày 04/8/2024, hai bên tiếp Hợp đồng lao động số 23-021/Hợp đồng lao
động với chức danh nhân viên viết nội dung, thời hạn hợp đồng 12 tháng từ ngày
04/8/2024 đến ngày 04/8/2025.
Nội dung thỏa thuận vtiền lương của hai Hợp đồng lao động này giống Hợp
đồng thử việc. Tiền lương đóng BHXH là 5.500.000 đồng/tháng
11
Tòa án cấp thẩm căn cứ vào các Hợp đồng lao động các bên kết, thực
hiện để xác định hai bên có quan hệ lao động là có căn cứ.
[2.2] Về quá trình chấm dứt hợp đồng lao động:
- Ngày 07/11/2024, Công ty gửi đến bà H một thư điện tử và truyền đạt thông tin
bằng miệng đến H về việc chấm dứt hợp đồng lao động với nội dung chấm dứt Hợp
đồng lao động số 23-021/Hợp đồng lao động ngày 04/8/2024, bà H tiếp tục làm việc tại
Công ty kể từ ngày 07/11/2024 đến hết ngày 06/12/2024 phải ngưng làm việc kể từ
ngày 07/12/2024 với do người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc
theo hợp đồng lao động.
- Ngày 15/11/2024, Công ty tiếp tục gửi cho H Thông báo s01/2024 về việc
chấm dứt hợp đồng lao động với nội dung chấm dứt Hợp đồng lao động với H, thời
gian báo trước là 30 ngày kể từ ngày 15/11/2024 với lý do chấm dứt tương tự thông báo
ngày 07/11/2024 do người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc
theo hợp đồng lao động.
- Cùng ngày 15/11/2024, H Công ty buổi gặp mặt để trao đổi trực tiếp
về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo các thông báo nêu trên. Tại buổi làm việc,
H xác nhận Công ty đang thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật, H đã đưa ra các yêu cầu bồi thường tuy nhiên hai bên không đạt được
thỏa thuận; cùng ngày Công ty tiếp tục gửi cho H các thư điện tử với nội dung mang
tính chất thúc ép, yêu cầu H phản hồi các đề xuất của Công ty trong thời gian rất
ngắn (03 giờ kể từ thời điểm nhận thư).
- Ngày 18/11/2024, Công ty B Thông báo số 03/2024 về việc hủy bỏ việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động với nội dung Công ty thu hồi, hủy bỏ các thông
báo ngày 07/11/2024, ngày 15/11/2024 thư điện tử gửi ngày 07/11/2024 liên quan
đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. H không đồng ý việc Công ty rút
lại các thông báo chấm dứt hợp đồng lao động.
- Thực hiện thông báo ngày 07/11/2024, H ngưng làm việc tại Công ty ktừ
ngày 07/12/2024.
- Ngày 17/12/2024 Công ty căn cứ việc H không làm việc để ban hành Quyết
định số 10/2024/QĐ về việc chấm dứt hợp đồng lao động với nội dung chấm dứt hợp
đồng lao động với H kể từ ngày 17/12/2024 do bà H tự ý nghỉ việc trong 06 ngày
liên tiếp (từ ngày 09/12/2024 đến ngày 16/12/2024) mà không có lý do chính đáng.
[2.3] Người lao động căn cứ Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày
07/11/2024 thông qua thư điện tử truyền đạt qua thông tin miệng từ Công ty để xác
định Công ty chấm dứt hợp đồng lao động theo thông báo này hành vi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
- Việc Công ty sau đó ban hành các Thông báo số 01/2024 về việc chấm dứt hợp
đồng lao động ngày 15/11/2024 không nội dung thay thế Thông báo số 01/2024 về
việc chấm dứt hợp đồng lao động ngày 07/11/2024, Thông báo số 03/2024 về việc hủy
bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngày 18/11/2024 không được sự đồng
ý của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động 2019 về hủy
bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động “Mỗi bên đều quyền hủy bỏ việc
12
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải
thông báo bằng văn bản phải được bên kia đồng ý” nhận thấy Công ty ban hành
Thông báo số 03 còn trong thời hạn báo trước, bằng hình thức văn bản tuy nhiên do
H không đồng ý nội dung Thông báo 03 nên xác định Thông báo này không có hiệu lực
thi hành là đúng quy định.
- Cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019
về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động, nhận định
H biết về quy chế này nhưng Công ty chưa giao nộp chứng cứ chứng minh Công ty
đã tham khảo ý kiến của tổ chức người lao động về “Quy chế đánh giá mức độ hoàn
thành công việc”, nhận định lý do Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với
H không đúng quy định pháp luật sở, đúng quy định về đánh giá chứng
cứ.
- Cấp thẩm trên sở lời trình bày của nguyên đơn xác định làm việc tại
Công ty đến hết ngày 06/12/2024 thì H không đến Công ty do tuân thủ nội dung tại
Thông báo ngày 07/11/2024; Thông báo ngày 15/11/2024 không nội dung ghi thông
báo này thay thế thông báo ngày 07/11/2024 xác định sau ngày 06/12/2024 H không
đến Công ty là có lý do chính đáng, không phải là “tự ý nghỉ việc trong 06 ngày liên tiếp
mà không có lý do chính đáng” như nội dung Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao
động số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024 của Công ty ban hành.
- Căn cứ quy định tại Điều 39 Bộ luật Lao động 2019, Cấp sơ thẩm xác định Công
ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với H Thông báo ngày 07/11/2024
trái pháp luật căn cứ. Cần hủy bỏ Thông báo ngày 15/11/2024, Thông báo số
03/2024 về việc hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngày 18/11/2024
Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024
đúng quy định.
[2.2] Về mức lương làm căn cứ tính nghĩa vụ, bồi thường:
- Cấp thẩm căn cứ khoản 3.1 Điều 3 Hợp đồng lao động số 23-021/Hợp đồng
lao động thỏa thuận về tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh
5.500.000 đồng, phụ cấp ăn trưa là 500.000 đồng, phụ cấp điện thoại 500.000
đồng, phụ cấp xăng xe 500.000 đồng, tổng cộng 7.000.000.đồng - xác định tiền
lương làm căn cứ buộc Công ty phải chịu trách nhiệm do đơn phương chấm dứt hợp
đồng trái pháp luật với bà H là 5.500.000 đồng/tháng.
- Cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của H yêu cầu tính mức lương thực tế
13.000.000 đồng/tháng. do: 04 tờ tài liệu tiếng Anh chứng minh mức lương thực
tế của H là 13.000.000 đồng/tháng bản in không công chứng chứng thực, căn cứ
Điều 20, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên không xem xét các tài liệu
này.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, H cung cấp Vi bằng các tin nhắn trao đổi giữa hai
bên, bản dịch các tài liệu tiếng Anh, đảm bảo quy định về chứng cứ nên được xem xét.
Tuy nhiên, đối với nội dung thể hiện số tiền 13.000.000 đồng trên tin nhắn của H
“tiền lương”, thì trên tin nhắn của Công ty “thu nhập”. rằng trong thư mời thử
việc thể hiện “Net salary” nếu kết hợp đồng một năm từ 05/8/2023 đến 04/8/2024
13
10.500.000 đồng, tuy nhiên H không cung cấp được chứng từ thanh toán tiền lương
từ Công ty cho H tổng 13.000.000 đồng/tháng, các bằng chứng thể hiện phần
tiền còn lại 6.000.000 đồng được thanh toán bằng tiền mặt Công ty chỉ cung cấp Bảng
chi tiết tiền lương hàng tháng chứng từ chuyển lương thông qua Ngân hàng,
không thừa nhận phần thanh toán lương bằng tiền mặt. Do đó không đủ căn cứ để xác
định mức lương 13.000.000 đồng/tháng theo trình bày của nguyên đơn.
- Theo khoản 3.1 Điều 3 Hợp đồng lao động số 23-021/Hợp đồng lao động thỏa
thuận về tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh 5.500.000
đồng, phụ cấp ăn trưa là 500.000 đồng, phụ cấp điện thoại 500.000 đồng, phụ cấp
xăng xe 500.000 đồng, tổng cộng 7.000.000.đồng. Căn cứ quy định tại c2 điểm c
khoản 5 Điều 3, Chương II Thông số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của
Bộ L1 thì các khoản phụ cấp ăn trưa, phụ cấp điện thoại, phụ cấp xăng xe được xác định
là các chế độ và phúc lợi khác.
Hội đồng xét xử phúc thẩm không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác định mức lương là 7.000.000 đồng/tháng.
[2.3] Về các khoản nghĩa vụ mà Công ty phải thực hiện khi đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật:
- Sau khi Công ty có Thông báo 03 hủy bỏ các Thông báo 01, 02 về việc chấm dứt
hợp đồng lao động đnghị H tiếp tục làm việc theo Hợp đồng lao động, H
văn bản phản hồi không đồng ý. Tại email ngày 05/12/2024 về việc đề nghị cử người
bàn giao công việc vào 15h30 chiều ngày 06/12/2024, H xác định “Tôi không ý
định tiếp tục làm việc tại công ty và tôi cũng không đồng ý đối với lời mời tiếp tục làm
việc công ty AI ZONE gửi cho tôi”. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có đủ cơ
sở xác định Hợp đồng lao động không thể tiếp tục thực hiện do bà H không đồng ý tiếp
tục làm việc. Thời gian không được làm việc sau ngày 06/12/2024 không thể thực
hiện do người lao động không đồng ý làm việc.
- Do Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, căn cứ
khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động 2019, Công ty phải bồi thường ít nhất là 02 tháng tiền
lương là 11.000.000 đồng.
Cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty phải trả cho H
tiền lương của những ngày không được làm việc còn lại của Hợp đồng lao động số 23-
021/Hợp đồng lao động là 07 tháng 17 ngày công là 42.750.000 đồng là chưa chính xác.
Cấp thẩm cần rút kinh nghiệm về việc xác định ngày bắt đầu tính tiền
lương cho những ngày không được làm việc:
- Hợp đồng lao động số 23-021/HĐLĐ ngày 04/8/2024, H Công ty T4 thời
hạn hợp đồng bắt đầu từ ngày 04/8/2024 đến ngày 04/8/2025. Hai bên đều xác nhận
H làm việc tại Công ty đến hết ngày 06/12/2024 thì không đến Công ty làm việc. Cần
xác định Hợp đồng lao động số 23-021/HĐLĐ ngày 04/8/2024 chấm dứt vào ngày
06/12/2024.
- Nguyên đơn yêu cầu tính tiền lương cho những ngày không được làm việc 7
tháng 17 ngày tính từ ngày 07/12/2024. Tuy nhiên chứng từ thanh toán lương của Công
ty cung cấp thể hiện việc thanh toán lương theo Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng
14
lao động số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024, tiền lương được trả đến ngày 16/12/2024.
Như vậy việc tính lương cho những ngày không được làm việc chưa chính xác.
[2.4] Công ty đã đóng BHXH, BHYT, BHTN đến hết tháng 12/2024, nên hai bên
không phải đóng các khoản trên. Đề nghị sửa án đối với nội dung đã tuyên này ở Cấp sơ
thẩm.
[2.5] Đối với yêu cầu Công ty trả cho H trợ cấp thôi việc theo quy định tại
khoản 2 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 do 02 tháng bà H thử việc tại Công ty, Công ty
H không đóng BHXH, BHYT, BHTN. Cấp thẩm căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật
Bảo hiểm xã hội 2014, không chấp nhận yêu cầu này của H đúng quy định được
hướng dẫn tại điểm b khoản 4 Nghị định 145/2020/NĐ-CP:“b) Trưng hợp người lao
động làm việc cho người s dụng lao động theo nhiu hợp đồng lao đng kế tiếp nhau
theo quy đnh ti khoản 2 Điều 20 ca B luật Lao động khi chm dt tng hp
đồng lao động chưa được chi tr tr cp thôi vic, tr cp mt vic làm thì thi gian
thc tế làm việc cho ngưi s dụng lao động tng thi gian làm vic theo các hp
đồng lao động tr thi gian làm vic thc tế theo hợp đồng lao động b tuyên b vô hiu
toàn b do toàn b ni dung ca hợp đồng lao động vi phm pháp lut hoc công vic
đã giao kết trong hợp đồng lao động là công vic mà pháp lut cm, hợp đồng lao đng
người lao động b x k lut lao động sa thi, hợp đồng lao động người lao
động đơn phương chấm dt trái pháp lut (nếu có).”
- Tuy nhiên Cấp thẩm lại tuyên buộc Công ty H cùng đóng BHXH,
BHYT, BHTN tính từ ngày 05/6/2023 đến ngày 04/8/2023 theo quy định của pháp luật
tại của quan bảo hiểm hội thẩm quyền theo mức lương 5.500.000 đồng/tháng
Công ty phải chịu hậu quả pháp phát sinh từ việc chậm đóng tiền BHXH, BHYT,
BHTN cho H trong khoảng thời gian tính tngày 05/6/2023 đến ngày 04/8/2023
không đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm hội năm 2014, đối
tượng đóng bảo hiểm hội bắt buộc là người làm việc theo Hợp đồng lao động. Hợp
đồng lao động thử việc không bắt buộc phải đóng tiền BHXH, BHYT, BHTN. Nội dung
được tuyên này của Cấp thẩm vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không
đúng quy định tại Luật việc làm Luật Bảo hiểm hội. Do đó, cần chấp nhận một
phần kháng cáo, sửa bản án thẩm về việc buộc Công ty H đóng bảo hiểm
hội đối với 02 tháng thử việc.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH D:
Bị đơn kháng cáo cho rằng Công ty Đ chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết
định về việc chấm dứt hợp đồng lao động số 10/2024/QĐ ngày 17/12/2024 là đúng quy
định, H đã việc làm khác ngay sau khi nghỉ việc tại Công ty nên không bị thiệt
hại, đồng thời cho rằng cấp sơ thẩm buộc Công ty phải trả tiền lương trong thời gian bà
H không làm việc không căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, theo quy
định tại Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019, khi người sử dụng lao động đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì nghĩa vụ bồi thường phát sinh một cách
khách quan, không phụ thuộc vào việc người lao động hay không việc làm khác
sau đó. Ngoài ra, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc H
tự ý nghỉ việc không do chính đáng cũng như không chứng minh được việc đã
thực hiện đúng trình tự, thủ tục xử kỷ luật lao động theo quy định. Do đó, lập luận
15
của bị đơn cho rằng nguyên đơn không bị thiệt hại không sở pháp luật để chấp
nhận.
Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của bị đơn cho rằng Công ty Đ chấm dứt
hợp đồng lao động theo Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động số 10/2024/
ngày 17/12/2024, đề nghị sửa án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ các yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Án phí lao động sơ thẩm:
Cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn được miễn án phí lao động sơ thẩm là phù hợp
với quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1
Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
Căn cứ theo Điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị đơn phải
chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận
là 330.000 đồng.
[5] Hội đồng xét xthống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn,
một phần kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí lao động phúc thẩm: Do sửa án thẩm nên người kháng cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015:
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H, một phần
kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH D. Sửa một phần Bản án lao động thẩm số
99/2025/LĐ-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí
Minh
Căn cứ:
- Điều 5, Điều 20, Điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 148, khoản 3 Điều 200,
Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280, Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015;
- Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Luật việc làm;
- Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 21, Điều 36, Điều 38, Điều 39, Điều 41 Bộ luật
Lao động năm 2019; Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, năm 2022.
- Điểm b khoản 4 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ;
Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ L1;
16
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H:
- Tuyên bố Công ty TNHH D đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động số 23-
021/Hợp đồng lao động ngày 04/8/2024 với Mai Thị Thu H theo Thông báo chấm
dứt hợp đồng lao động số 01/2024 ngày 07/11/2024 là trái pháp luật.
- Hủy bỏ các Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2024 ngày
15/11/2024, Thông báo về việc hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số
03/2024 ngày 18/11/2024, Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 10/2024/QĐ
ngày 17/12/2024.
- Buộc Công ty TNHH D phải thanh toán cho Mai Thị Thu H 02 tháng tiền
lương theo hợp đồng lao động là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).
2. Không chấp nhận một phần các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị
Thu H:
- Yêu cầu Công ty TNHH D phải chịu hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo mức lương thực tế của Mai Thị Thu H
13.000.000 đồng/tháng.
- Yêu cầu Công ty thanh toán cho H tiền lương trong những ngày bà H không
được làm việc tính từ ngày 07/12/2024 đến ngày 04/8/2025 07 tháng 17 ngày công
trên mức lương thực tế là 13.000.000 đồng/tháng là 101.045.454 đồng.
- Buộc Công ty TNHH D phải thanh toán cho Mai Thị Thu H tiền trợ cấp thôi
việc là 3.250.000đ
- Buộc Công ty TNHH D Mai Thị Thu H cùng đóng bảo hiểm hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật tại của cơ quan bảo hiểm
hội có thẩm quyền tính từ ngày 18/12/2024 đến hết ngày 30/4/2025.
Thi hành ngay khi bản án hiệu lực pháp luật. Việc thanh toán tiền do Công ty
TNHH D Mai Thị Thu H tự thực hiện hoặc thực hiện tại quan thi hành án
thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành
án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể tngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi
hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của
Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí lao động thẩm: Công ty TNHH D phải chịu tiền án phí 330.000đ
(ba trăm ba mươi ngàn đồng); bà Mai Thị Thu H được miễn án phí.
4. Về án phí lao động phúc thẩm: Người kháng cáo Mai Thị Thu H Công ty
TNHH D không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH D số tiền
17
300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0027771 ngày
17/10/2025 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Thi hành án dân sự TP.HCM;
- Tòa án nhân dân KV2-TP.HCM;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Tài
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 83/2026/LĐ-PT Bản án số 83/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/LĐ-PT Bản án số 83/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất