Bản án số 76/2026/HS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 76/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 76/2026/HS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 76/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo kháng cáo giảm nhẹ hình phạt
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 76/2026/HS-PT
Ngày: 30 - 3 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú
Các Thẩm phán: Ông Đinh Tấn Long
Ông Phan Vĩnh Chuyển
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư Tòa án nhân n
thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 318/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 12 năm
2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn S, do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S đối với
Bản án nh sự thẩm số: 82/2025/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1959, tại thành phố Đà Nẵng; giới
tính: Nam; nơi trú: Số A X, tổ C, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng (nay
phường T, Đà Nẵng); nghề nghiệp: Kinh doanh (Giám đốc Trung tâm G (GDNN GTVT)
Chi nhánh Công ty cổ phần G1; Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ
sinh hoạt đảng theo Quyết định số 119-QĐ/UBKTTU ngày 09/7/2024 của Ủy ban kiểm
tra Thành ủy T1); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học
vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn N Trần Thị C (đều đã chết); vĐoàn Thị
Kim C1 và 03 con (con lớn nhất, sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2006).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 27/6/2024 đến ngày
30/8/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. B cáo hiện đang bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra, trong vụ án còn các bị cáo: Đào Ngọc L Thủy T không kháng
cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần Giao thông vận tải tỉnh G1, đăng kinh doanh lần đầu vào
ngày 30/01/1999, có trụ sở tại địa chỉ: Quốc lộ A, Khối phố B, phường H, thành phố T,
tỉnh Quảng Nam, người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Anh D.
Năm 2005, Công ty Cổ phần G1 thành lập Trung tâm G, tngày 25/7/2022 đến
nay đổi tên Trung m G - Chi nhánh Công ty cổ phần G1 (theo Quyết định số
1945/QĐ-UBND ngày 25/7/2022 của UBND tỉnh Q).
2
Ngày 16/9/2010, Nguyễn Văn S được bổ nhiệmm Giám đốc Trung tâm G (theo
Quyết định số 15/QĐ.HĐQT-CT của Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần G1).
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 của Điều lệ Trung tâm Giáo dục nghề
nghiệp thì Giám đốc Trung tâm G phải được Chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận chức
danh giám đốc Trung tâm G. Đến ngày 28/12/2023, Giám đốc Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội tỉnh Q ban hành Quyết định số 27679/QĐ-LĐTBXH công nhận Nguyễn
Văn S giữ chức danh Giám đốc Trung tâm.
Ngày 13/02/2018, Trung tâm G được Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp giấy phép
đào tạo lái xe số 302/SGTVT-QLVT,PT&NL được phép đào tạo lái xe hạng B1, B2, C,
D với Lưu lượng 966 học viên. Ngày 19/12/2018, Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp giấy
phép đào tạo lái xe số 3524/SGTVT-QLVT,PT&NL được phép đào tạo lái xe hạng B1,
B2, C, D với lưu lượng 996 học viên. Ngày 07/6/2021, Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp
giấy phép đào tạo lái xe số 1662/SGTVT-QLVT, PT&NL được phép đào tạo lái xe
hạng B1, B2, C, D với lưu lượng 1196 học viên. Ngày 06/12/2022, Sở Giao thông vận
tải tỉnh Q cấp giấy phép đào tạo lái xe số 3835/SGTVT-QLVT,PT&NL được phép đào
tạo lái xe hạng B1, B2, C, D với lưu lượng 1196 học viên.
Quá trình đào tạo học viên, Trung tâm G căn cứ vào các tiêu chí như: chương
trình đào tạo lái xe được quy định tại Thông số 12/2017/TT-BGTVT ngày
15/04/2017 của Bộ G2 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe giới
đường bộ; Thông s 38/2019/TT-BGTVT ngày 08/10/2019; Thông số
04/2022/TT-BGTVT ngày 22/04/2022 của Bộ G2 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Thông 12/2017/TT-BGTVT quy định về đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe
giới đường bộ; tiêu chuẩn giáo viên đđiều kiện giảng dạy theo quy định đã được
hợp đồng giảng dạy; danh sách xe tập lái sở hữu của Trung tâm xe tập lái Trung tâm
đã ký hợp đồng với giáo viên; số lượng học viên nộp hồ sơ dự học lái xe của từng khoá.
Sau đó, Ban lãnh đạo Trung tâm X (bao gồm thời gian đào tạo, số lượng học viên, phân
phối giờ học, lịch học toàn khoá, danh sách giáo viên, xe tập lái). Từ cuối năm 2020, số
lượng học vn đăng ký đầu vào học lái xe ô tại Trung tâm tăng cao, tuy nhiên theo
quy định tại Thông số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/4/2017 của Bộ G2 quy định:
Chương trình đào to mỗi giáo viên được dạy tối đa 10 học viên/khóa (hạng B2), 16
học viên/khóa (hạng C). Theo đó, số lượng giáo viên dạy thực hành (dạy tập lái), số
lượng giáo viên dạy lý thuyết, số lượng xe số sàn và xe số tự động của Trung tâm không
đủ để đào tạo theo số lượng học viên đăng đầu vào. Để đảm bảo đào tạo được tất cả
học viên đăng đầu vào theo đúng quy định hiện hành, đồng thời giảm chi phí quản
lý, tạo việc làm cho giáo viên dạy thực hành, tăng doanh thu cho Trung tâm nên Nguyễn
Văn S Giám đốc Trung tâm cùng với Thủy T Đào Ngọc L Phó giám đốc
Trung tâm ng nhau bàn bạc, thống nhất chủ trương là đưa những giáo viên hợp thức
xe hợp thức o hồ đào tạo dạy lái xe. Nguyễn Văn S thống nhất mức chi thù lao
cho giáo viên hợp thức từ 2.000.000đ đến 3.500.000 đồng/tháng, đối với giáo viên hợp
thức viết sổ theo dõi thực hành lái xe (do giáo viên làm việc tại Trung tâm giới thiệu
vào) thì chi từ 500.000 đồng đến 850.000 đồng/tháng/học viên; đối với xe số tự động
hợp thức Trung tâm sẽ chi cho chủ phương tiện từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000
đồng/xe/tháng (tùy thuộc vào xe mới hay xe cũ), xe số sàn chi từ 2.000.000 đồng đến
2.500.000 đồng/học viên/khóa học. Tổng cộng, từ tháng 10/2020 đến tháng 4/2023,
Trung tâm đã tuyển sinh, đào tạo cấp Chứng chcấp nghề được 46 khóa hạng B2, C
cho 6.620 học viên đủ điều kiện dự sát hạch cấp giấy phép lái xe.
3
Kết quả điều tra xác định:
Từ tháng 10/2020 đến tháng 4/2023, Nguyễn Văn S, Thủy T, Đào Ngọc L đã
trực tiếp m giả 46 kế hoạch đào to, 110 quyết định phân công giáo viên dạy thực
hành lái xe, 110 sổ theo dõi dạy thực hành lái xe, 96 sổ lên lớp dạy thuyết của 46
khóa đào tạo với số lượng 894 học viên (BL từ 561 -1700), thu lợi bất chính với tổng số
tiền 943.977.365 đồng. Theo đó, S, L, T đã thống nhất đưa 23 giáo viên không dạy
thực tế (trong đó có 17 người nằm ngoài trung tâm, 04 nhân viên của Trung tâm đủ điều
kiện giảng dạy và 02 giáo viên của Trung tâm đang nghỉ để giải quyết việc gia đình) và
07 phương tiện xe ô tập lái không thuộc biên chế của Trung tâm để làm phợp hồ
giảng dạy. Cụ thể: Nguyễn Văn S: Theo chủ trương đã được thống nhất, S giao T
soạn thảo hợp đồng thuê phương tiện xe ô tập lái hợp đồng thuê giáo viên trình S
ký; giao L lập kế hoạch đào tạo hoàn chỉnh hồ đào tạo từng khóa theo các hợp
đồng thuê phương tiện xe ô tập lái hợp đồng thuê giáo viên T soạn thảo (Sáu
phê duyệt). S trực tiếp 07 hợp đồng thuê phương tiện thuê xe ô tập lái với 07
chủ phương tiện, 23 hợp đồng giảng dạy với 23 giáo viên, 109 quyết định phân công
giáo viên dạy thực hành, 02 kế hoạch đào tạo, 02 tờ trình điều chỉnh kế hoạch đào tạo.
Số tiền thu lợi bất chính là 943.977.365 đồng thì Nguyễn Văn S chỉ đạo các nhân
viên nộp về Công ty để phục vụ các hoạt động chung như chi trả lương, các hoạt động
khác,…
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2025/HS-ST ngày
19/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ: Điểm a, c khon 3 Điều 341; điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
a khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015
(Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên b: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Làm giả tài liệu của quan, tổ
chức”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn được tính
từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 27/6/2024
đến ngày 30/8/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật
chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26/11/2025, bị cáo Nguyễn Văn S đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và
xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn
Văn S về tội “Làm gitài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a, c khoản
3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có căn cứ
đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 33 tng tương xứng
với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát
sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đnghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S, giữ nguyên mức hình phạt của bản án
sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S đơn kháng cáo theo đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn S phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
được Cơ quan điều tra chứng minh có ti hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà.
Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Trung tâm G (Sau đây viết tắt là: Trung tâm G3) Chi nhánh Công ty cổ phần
G1, được cấp phép đào tạo nghề lái xe ô hạng B1, B2, C, D, do Nguyễn Văn S làm
Giám đốc các Phó giám đốc Thủy T, Đào Ngọc L. Chương trình đào tạo lái xe
được quy định ti Thông số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/04/2017 của Bộ G2 quy
định về đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ; Thông tư số
38/2019/TT-BGTVT ngày 08/10/2019 Thông số 04/2022/TT-BGTVT ngày
22/04/2022 của Bộ G2 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 12/2017/TT-BGTVT
quy định về đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ.
Theo đó, chương trình đào to mỗi giáo viên được dạy tối đa 10 học viên/khóa
(hạng B2), 16 học viên/khóa (hạng C). Từ đầu năm 2020, nhu cầu người học tăng cao
nhưng số lượng giáo viên dạy thực hành (dạy tập lái), số lượng giáo viên dạy thuyết,
số lượng xe số sàn xe số tự động của Trung tâm không đủ để đào tạo theo số lượng
học viên đăng ký đầu vào. Để đảm bảo đào tạo được tất cả học viên đăng đầu vào
theo đúng quy định hiện hành, đồng thời giảm chi phí quản lý, tạo việc làm cho giáo
viên dạy thực hành, tăng doanh thu cho Trung tâm nên Nguyễn Văn S cùng với
Thủy T Đào Ngọc L cùng nhau bàn bạc, thống nhất chủ trương đưa những giáo
viên hợp thức và xe hợp thức vào hồ sơ đào tạo dạy lái xe.
Theo đó, Nguyễn Văn S cùng Thủy T Đào Ngọc L đã bàn bạc, thống nhất
làm giả 46 kế hoạch đào tạo, 110 quyết định phân công giáo viên dạy thực hành lái xe,
110 sổ theo dõi dạy thực hành lái xe, 96 sổ lên lớp dạy lý thuyết của 46 khóa đào tạo với
894 học viên, thu li bất chính 943.977.365 đồng. Số tiền này, các bị cáo nộp về Công
ty để phục vụ cho các hoạt động chung của Công ty.
Do đó, Bản án hình sự thẩm số 82/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 Đà Nẵng đã kết án bị o Nguyễn Văn S về tội “Làm giả tài liệu
của quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a, c khoản 3 Điều 341 Bộ lut Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo
Nguyễn Văn S, thì thấy: Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức
độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; đã áp dụng đầy đtình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 đồng thời áp
dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo
Nguyễn Văn S mức hình phạt 33 tháng tù là có căn cứ pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
mới, bị cáo người chủ mưu cầm đầu trong vụ án tổ chức, do đó, không đủ điều
kiện được hưởng án treo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chp nhận kháng cáo
của bị cáo Nguyễn Văn S, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của
Kiểm sát viên.
5
[4] Về án phình sự phúc thẩm: bị o Nguyễn Văn S người cao tuổi nên
được miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S, giữ nguyên Bản án hình
sự thẩm số: 82/2025/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 5 – Đà Nẵng về hình phạt.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm a, c khoản 3 Điều 341; điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
a khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015
(Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm 09 (chín) tháng về tội “Làm giả
tài liệu của quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi
hành án, được trừ thời gian đã tạm giam trước đó từ ngày 27/6/2024 đến ngày
30/8/2024.
3. Bị cáo Nguyễn Văn S được miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/3/2026).
Nơi nhận:
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Phòng PV06 Công an thành phố Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Tòa HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Văn Phú
Tải về
Bản án số 76/2026/HS-PT Bản án số 76/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 76/2026/HS-PT Bản án số 76/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất