Bản án số 75/2026/HS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 75/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 75/2026/HS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 75/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Các bị cáo kháng cáo giảm nhẹ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 75/2026/HS-PT
Ngày: 30 - 3 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú
Các Thẩm phán: Ông Đinh Tấn Long
Ông Phan Vĩnh Chuyển
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư Tòa án nhân n
thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 02/2026/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm
2026 đối với bị o Nguyễn Thị Thanh T cùng các đồng phạm, do có kháng cáo của các
bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Tường V đối với Bản
án hình sự thẩm số: 71/2025/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Đà Nẵng.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày: 15/7/1987; nơi thường trú: K Ông Í, phường
H. Đà Nẵng; chỗ hiện nay: B L, phường A, thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nữ; quốc
tịch: Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; trình độ văn hoá: 12/12; nghề
nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn T2, sinh năm 1961 Trần Thị Lệ D, sinh
năm 1961; chồng Nguyễn Quang D1 10 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con
nhỏ nhất sinh năm 2025.
Tiền án, tiền sự:
+ Ngày 15/01/2019 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (cũ)
xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nước" (Theo Bản án số 08/2019/HSST ngày 15/01/2019), hiện đang hoãn thi hành án.
+ Ngày 15/5/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt tiền 140.000.000
đồng về tội “Mua bán trái phép hóa đơn" (Theo Bản án số 13/2019/HS-ST ngày
15/5/2019).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi trú”. mặt tại
phiên toà.
2. Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày: 23/5/1985; nơi hiện tại: 2 Hải Phòng,
phường T. Đà Nẵng; giới tỉnh: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo: Phật
giáo; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn T2, sinh
năm 1961 Trần Thị Lệ D, sinh năm 1961; chồng 04 con, con lớn nhất sinh
2
năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tam giam từ ngày 10/01/2025 đến ngày 05/6/2025 áp dụng biện pháp
Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 06/02/1986; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện
nay: K N, phường H, thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: lao động tdo;
trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1964 Nguyễn Thị C, sinh năm: 1964; chồng
nhưng đã ly hôn, bị cáo có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh
năm 2016; tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05/9/2024 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, tp . xử phạt tiền
400.000.000 đồng về tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp
ngân sách nhà nước" (Bản án số 84/2024/HS-ST).
Bị cáo bị tam giam tngày 10/01/2025 đến ngày 05/6/2025 áp dụng biện pháp
Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1: Luật sư Hoàng Thị Tuấn
T3 Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: I N, phường A, thành phố
Đà Nẵng.Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Tường V: Luật Nguyễn Văn P,
Công ty L1 và Cộng sự. Địa chỉ: H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Ngày 17/12/2024, Chi cục Thuế khu vực C1 Công văn số 4523/CCTKV-KT12
“Về việc chuyển tin báo doanh nghiệp dấu hiệu mua bán trái phép hóa đơn sang
quan điều tra”. Nội dung Công văn này thể hiện việc qua rà soát, phân tích hồ sơ sơ khai
thuế của người nộp thuế gửi quan thuế qua hệ thống quản lý thuế tập trung qua rà
soát việc sử dụng hóa đơn của người nộp thuế tại ứng dụng hóa đơn điện tcủa ngành
thuế, Chi cục Thuế khu vực C1 phát hiện Công ty TNHH T7, MST: 0402088501. Địa
chỉ: C T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay phường A, thành phố Đà
Nẵng), đại diện theo pháp luật ông Trần Văn S1 - hành vi vi phạm pháp luật về
thuế dấu hiệu phạm tội nên chuyển hồ sơ đến quan điều tra đnghị xác mình,
Điều tra để giải quyết theo quy định.
Quá trình điều tra xác định:
Mặc Nguyễn Thị Thanh T đã bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố
Đà Nẵng (cũ) Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam (cũ) xét xử các tội: “Mua bản trái
phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước" "Trốn thuế", hiểu hành vi
mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tẵng (GTGT) vi phạm pháp luật hình sự nhưng
nhận thấy nhiều doanh nghiệp có nhu cầu mua hóa đơn GTGT và thu lợi lớn nên từ năm
2021 đến nay, T tiếp tục thuê các tổ chức, cá nhân làm dịch vụ thành lập mới hoặc nhận
chuyển nhượng lại các công ty đcùng Nguyễn Thị Thanh T1 Nguyễn Thị Tường V
thực hiện hoạt động xuất bán trải phép hóa đơn GTGT cho nhiều doanh nghiệp.
3
Để làm thủ tục thành lập mới hoặc nhận chuyển nhượng lại các công ty, T mượn
Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân của người thân quen chụp ảnh, gửi kèm
thông tin liên quan đến doanh nghiệp như: Tên công ty, địa chỉ trụ sở, tên người đại
diện theo pháp luật, số điện thoại của chủ sở hữu, nội dung ngành nghề kinh doanh gửi
qua zalo cho các tổ chức, nhân chuyên làm dịch vụ đăng thành lập doanh nghiệp
để thuê làm thủ tục thành lập doanh nghiệp hoặc nhận chuyển nhượng lại doanh nghiệp
tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Tài chính thành phố Đ.
Dịch vụ làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp soạn và gửi file hồ sơ thành lập doanh
nghiệp qua mạng hội zalo của T gồm: Giấy đề nghị đăng doanh nghiệp; Điều lệ
Công ty, Giấy y quyền làm việc với Phòng Đăng kinh doanh với bên ủy quyền
Giám đốc Công ty bên nhận y quyền dịch vụ thành lập doanh nghiệp đT trực
tiếp vào phần Giám đốc người ủy quyền, sau đó T scan hồ kèm Chứng minh
nhân dân, Căn cước công dân gửi qua zalo cho phía dịch vụ để đăng ký hồ sơ. Ngoài ra,
T thuê dịch vụ làm con dấu doanh nghiệp, đặt mua chữ số, thuê địa điểm gần bảng
hiệu công ty.
Đối với thủ tục thay đổi nội dung đăng doanh nghiệp, T nhắn cho dịch vụ tên
công ty các nội dung cần thay đổi. Phía dịch vụ soạn thảo các tài liệu: Thông báo
thay đổi nội dung đăng doanh nghiệp, Quyết định bổ sung ngành nghề, Giấy y
quyền rồi mang đến đưa cho T để ký tên vào mục người đại diện pháp luật, chủ sở hữu
công ty, người ủy quyền để làm thủ tục thay đổi.
Qua điều tra xác định từ năm 2021 đến nay, T trả tiền thuê các tổ chức, nhân
thành lập, làm thtục nhận chuyển nhượng lại các công ty gồm: Công ty TNHH T8 kế
toán với chi phí 31.500.000 đồng; Công ty TNHH T9 - Chi nhánh Đ với chi phí
14.550.000 đồng; Võ Minh H với chi phí 150.000.000 đồng; Nguyễn Như O với chi phí
20.600.000 đồng; Trần Thị Thúy H1 với chi phí 6.600.000 đồng Thị T4 với chi
phí 1.200.000 đồng.
Thông qua các đơn vị, nhân này, T đã thành lập mới 27 công ty nhận
chuyển nhượng lại 04 công ty để thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT,
bao gồm các công ty sau:
1. Công ty TNHH T10.
2. Công ty TNHH X
3. Công ty TNHH T11.
4. Công ty TNHH Thương mại tổng hợp và xây dựng Đại Thành Công
5. Công ty TNHH Hải Nguyên Thịnh
6. Công ty TNHH X1.
7. Công ty TNHH X2.
8. Công ty TNHH T7.
9. Công ty TNHH Lâm Ngọc Vỹ
10. Công ty TNHH X1 86.
11. Công ty TNHH L3.
4
12. Công ty TNHH T12.
13. Công ty TNHH N.
14. Công ty TNHH T13.
15. Công ty TNHH D2
16. Công ty TNHH D3.
17. Công ty TNHH P1.
18. Công ty TNHH T14.
19. Công ty TNHH D4
20. Công ty TNHH X và thương mại Nguyễn Nguyễn Gia .
21. Công ty TNHH D5 68.
22. Công ty TNHH D6.
23. Công ty TNHH T7.
24. Công ty TNHH T15.
25. Công ty TNHH MTV T16.
26. Công ty TNHH X3.
27. Công ty TNHH X4.
28. Công ty TNHH T17.
29. Công ty TNHH T18.
30. Công ty TNHH T19 và Thi công xây dựng Lê Nguyễn .1
31. Công ty TNHH V2.
Các ng ty này không phát sinh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao đầu ra
cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu. Các hóa đơn GTGT xuất đầu ra này
không được hạch toán, khai báo cáo tài chính, báo cáo thuế hoặc hoạch toán,
khai nhưng nộp thuế rất ít, còn để nợ thuế.
Từ năm 2021 đến năm 2024, tổng cộng Nguyễn Thị Thanh T sử dụng pháp nhân
của 31 doanh nghiệp nêu trên xuất bản trái phép tổng cộng 8.494 hoá đơn GTGT với
tổng gtrị hoá đơn trước thuế 561.738.685.809 đồng, thuế suất GTGT trên các hoá
đơn 8% hoặc 10% theo quy định của pháp luật, tổng giá trị sau thuế
613.874.506.633 đồng. Cụ thể:
+ Quá trình kinh doanh, T mua các mặt hàng như đất, cát, đá trôi nổi trên thị
trường, không có hóa đơn đầu vào sau đó bán lại cho khách hàng có nhu cầu. T sử dụng
pháp nhân 02 công ty (Công ty X3 Công ty X1) đxuất hoá đơn GTGT đầu ra cho
khách hàng theo yêu cầu, lấy chi phí 8% giá trị hoá đơn trước thuế đối với hàng hoá
dịch vụ vận chuyển 10% đối với hàng hoá đất, cát, đá theo mức thuế suất do
Nhà nước quy định. Các khách mua hàng của T thanh toán tiền hàng theo trị giá hóa
đơn GTGT do T xuất ra, không biết nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ T cung cấp.
+ Đối với các doanh nghiệp còn lại, T xuất khống hóa đơn cho tổ chức, nhân
nhu cầu, lấy chi phí là 6% giá trị hoá đơn trước thuế. Tổng cộng số tiền T thu được
từ việc xuất bán trái phép hoá đơn GTGT là 35.031.467.712 đồng, sau khi trừ đi các chi
phí tổng cộng 2.085.461.363 đồng (gồm chi plàm dịch vụ thành lập doanh nghiệp
5
224.450.000 đồng, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước 599.272.677 đồng, trả cho
Nguyễn Thị Thanh T1 561.738.686 đồng, trả cho Nguyễn Thị Tường V 700.000.000
đồng), T hưởng lợi bất chính 32.946.006.349 đồng (Ba ơi hai tỷ chín trăm bốn mươi
sáu triệu sáu ngàn ba trăm bốn mươi chín đồng).
Về hình thức mua bán, khách hàng nhu cầu sẽ liên hệ T qua số điện thoại
0935721468 hoặc Nguyễn Thị Thanh T1 qua số điện thoại 0935 808 651 hoặc Nguyễn
Thị Tường V số 0989 914 914 để thoả thuận nội dung, trị giá hoá đơn cần xuất, giá bán
hoá đơn, lập hợp đồng, biên bản thanh hợp đồng,... Sau khi hai bên thống nhất nội
dung hóa đơn, T đăng nhập tài khoản doanh nghiệp lên trang website: Vin-hoadon.com,
điền thông tin hoá đơn GTGT: Tên người mua, thuế, địa chỉ, nội dung hoá đơn, khối
lượng, đơn giá, thành tiền, giá trị hoá đơn trước thuế, thuế suất, gtrị h đơn sau
thuế,… rồi xuất ra, gửi trực tiếp cho khách hàng, người trung gian qua zalo, mail hoặc
các khách hàng do T1, V liên hlàm việc tgửi cho T1 V để chuyển lại cho khách
hàng.
Để hợp thức hoá dòng tiền theo giá trị hoá đơn xuất khống, T làm thủ tục đăng ký
mở 29 tài khoản ngân hàng cho 29 doanh nghiệp bản hóa đơn. T sử dụng các tài khoản
ngân hàng của T, Nguyễn Thị Thanh T1 Nguyễn Thị Tường V, sdụng tiền cá nhân
chuyển vào tài khoản nhân của khách hàng mua hoá đơn, khách hàng dùng tiền này
chuyển vào tài khoản của tchức, doanh nghiệp mua hóa đơn, sau đó doanh nghiệp
chuyển ngược lại vào tài khoản của các công ty của T nhằm hợp thức dòng tiền thanh
toán theo hóa đơn GTGT đã xuất ra. Chi phí mua a đơn GTGT được người mua trả
bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản nhân của T, V, T1 hoặc khi chuyển
hợp thức tài khoản cá nhân của người mua, T giữ lại phần chi phí.
Để tránh bị quan chức năng phát hiện, mỗi doanh nghiệp chỉ được T sử dụng
một thời gian ngắn rồi làm thủ tục tạm ngừng hoạt động. Sau khi hoàn thành giao dịch
mua bán hóa đơn GTGT khống với người mua thì hai bên xóa hết tin nhắn trao đổi.
Ngoài ra, do các doanh nghiệp do T thành lập phát sinh số lượng hóa đơn GTGT
doanh thu đầu ra lớn nhưng hóa đơn GTGT chi phí đầu vào thấp, để tránh bị
quan thuế chú ý, T sử dụng các công ty do T thành lập để xuất hoá đơn GTGT đầu vào
cho nhau như: Công ty T7 xuất cho Công ty X1 30 hoá đơn GTGT, giá trị trước thuế:
14.764.087.318 đồng, thuế GTGT: 1.451.654.650 đồng, giá trị sau thuế: 16.215.741.968
đồng; Công ty X1 xuất cho Công ty X3 10 hoá đơn GTGT, giá trị trước thuế:
2.554.077.779 đồng; thuế GTGT: 255.407.777 đồng; giá trị sau thuế: 2.809.485.556
đồng, Công ty X3 xuất cho Công ty X4 03 hoá đơn GTGT, giá trị trước thuế:
1.729.654.546 đồng, thuế GTGT: 172.965.454 đồng, giá trị sau thuế: 1.902.620.000
đồng.
Quá trình thành lập các công ty và thực hiện hành vi xuất bán hóa đơn GTGT
khống, Nguyễn Thị Thanh T1 hỗ trợ T làm thủ tục mở quản tài khoản ngân hàng
của Công ty T7, số tài khoản 112002882989 tại Ngân hàng V3. Đồng thời thực hiện các
giao dịch ngân hàng, rút sec tiền mặt. Đăng nhập tài khoản ngân hàng doanh nghiệp để
6
hợp thức dòng tiền thanh toán. T1 sử dụng số điện thoại 0935808651 trực tiếp liên hệ,
trao đổi qua zalo. Điện thoại với khách hàng mua hoá đơn, thống nhất thông tin hoá đơn
cần xuất: Tên đơn vị, sthuế, mặt hàng, giá trhoá đơn cần xuất... Khi T bận, T1
trực tiếp thực hiện các thao tác trên trang web vin-hoadon.com đxuất hoá đơn GTGT
gửi qua zalo, mail cho khách hàng, in hồ thanh toán, ký. Đóng dấu rồi gửi về địa
chỉ các khách hàng cung cấp. T1 sử dụng tài khoản s 3050108860004 mang tên
Nguyễn Thị Thanh T1 mở tại Ngân hàng TMCP Q để chuyển tiền vào tài khoản cá nhân
của người mua hoá đơn. Sau khi khách hàng chuyển số tiền trên vào lại tài khoản ngân
hàng của công ty xuất hoá đơn, T1 chuyển số tiền này về lại tài khoản nhân của T1
hoặc của T. T1 được hưởng lợi 0,1% trên tổng giá trị hóa đơn GTGT trước thuế, tổng
cộng 561.738.686 đồng.
Nguyễn Thị Tường V giúp T mượn sử dụng Căn cước công dân của Ông
Minh T5 để làm hồ đăng thành lập Công ty TNHH T20, Công ty T15, Công ty
T16, sử dụng số Hoàng Lê Thiên B. Ngoài ra, V giúp T mở tài khoản ngân hàng theo số
điện thoại 09899914914 của V đăng dịch vụ Internet banking đnhận, chuyển tiền
hợp thức việc mua bán hoá đơn qua tài khoản của các công ty theo yêu cầu T. Bên cạnh
đó, V còn đăng mở tài khoản số 102874370647 mang tên Lê Văn H2 tại Ngân hàng
V3, sdụng để luân chuyển, hợp thức ng tiền theo trị giá hoá đơn GTGT T xuất
bản cho khách hàng qua tài khoản của Công ty T18, Công ty T20, Công ty T15, Công ty
T16... Khi T chưa tiền, V sử dụng tiền nhân để chuyển. V tham gia tìm kiếm
khách hàng nhu cầu mua hoá đơn GTGT về vật tư, nguyên vật liệu, thuê nhân công,
thuê máy móc thi công... V sử dụng số điện thoại 0989 914 914 liên hệ trao đổi các
thông tin về hóa đơn với khách hàng, sau đó chuyến thông tin cho T đT thực hiện việc
phát hành, xuất hóa đơn GTGT. Các hồ , tài liệu kèm theo hoá đơn GTGT như hợp
đồng, biên bản công nợ, biên bản đối chiếu công nợ, biên bản nghiệm thu, thanh lý được
khách hàng mang đến nhà V tại Số nhà A đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng để
V đưa cho T tên, đóng dấu giao lại cho khách hàng. Đối với hoá đơn tiền mặt thì
chỉ cần xuất hoá đơn, không làm hợp đồng, biên bản nghiệm thu, thanh lý. T trả công
cho V 700.000.000 đồng.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2025/HS-ST ngày
25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng đã quyết định:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Tường V, Nguyễn Thị
Thanh T1 và Nguyễn Hoàng T6 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân
sách nhà nước”.
2. Căn cứ điểm a, b, d, đ khoản 2 điều 203, điểm b, s, t, n khoản 1 Điều 51, điểm
g và h khoản 1 Điều 52 Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ Điều 55 BLHS, tổng hợp hình phạt với Bản án số 08/2019/HSST ngày
15/01/2019 của TAND quận Liên Chiểu, buộc bị cáo chấp hành hình phạt 06 năm 06
tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Căn cứ điểm a, d, đ khoản 2 Điều 203, điểm b, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51
BLHS, điểm g khoản 1 Điều 52 , Điều 38 BLHS.
7
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 02 (hai) năm tù. Trừ vào thời gian bị tạm
giam 04 tháng 25 ngày, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt từ là 01 (một) năm 07 (bảy)
tháng 05 (năm) ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4. Căn cứ điểm a, d, đ khoản 2 Điều 203, điểm b, s, t khoản 1 2 Điều 51, điểm
g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V 02 (hai) năm tù. Trừ vào thời gian bị tạm
giam 04 tháng 25 ngày, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt từ là 01 (một) năm 07 (bảy)
tháng 05 (năm) ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng
T6, về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 26/11/2025 và ngày 02/12/2025, các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị
Tường V đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Vào ngày 26/11/2025, bị cáo
Nguyễn Thị Thanh T1 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xét xử các bị cáo
Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Tường V về tội “Mua bán
trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật
Hình snăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là căn cứ đúng pháp luật. Đồng
thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn
cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 04 năm tù, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 02 năm
tù, bị cáo Nguyễn Thị Tường V 02 năm tù tương xứng với tính chất, mức đhành vi
phạm tội của các bị cáo.
Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T nộp 10.000.000 đồng tiền
thu lợi bất chính, tuy nhiên, bị cáo người chủ mưu, cầm đầu, tổ chức cho người khác
thực hiện hành vi phạm tội, thu lợi bất chính đặc biệt lớn nhưng số tiền khắc phục quá
nhỏ, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ
nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Th Tường V nộp 655.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính
200.000 đồng tiền án phí HSST; bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 nộp 100.000.000 đồng
tiền thu lợi bất chính, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định
tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận kháng cáo của
các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 Nguyễn Thị Tường V, giảm hình phạt cho bị cáo
Nguyễn Thị Thanh T1 03 tháng tù, giảm cho bị cáo Nguyễn Thị Tường V 06 tháng tù.
Đồng thời chấp nhận ý kiến của bị cáo Nguyễn Thị Tường V, hủy bLệnh biên tài
sản và Lệnh phong tỏa tài khoản ngân hàng đối với bị cáo V, vì cho đến nay bị cáo V đã
thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ thi hành án như bản án sơ thẩm đã tuyên.
* Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt.
* Luật Hoàng ThTuấn T3 (người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh
T1) trình bày luận cứ bào chữa: Thống nhất với quan điểm giải quyết ván của Kiểm
sát viên đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1. Tuy nhiên, ngoài số tiền 100.000.000
đồng mà bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả thì bị cáo còn thống nhất giao cho cơ quan
điều tra các tài khoản khác để khắc phục hậu quả, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1.
* Luật Nguyễn Văn P (người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Tường V trình
bày luận cứ bào chữa: Thống nhất với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đối
8
với bị cáo Nguyễn Thị ờng V. Cho đến nay, bị cáo V đã nộp đủ số tiền thu lợi bất
chính bản án thẩm đã tuyên 655.000.000 đồng để khắc phục hậu quả
200.000 đồng án phí hình sthẩm, thể hiện săn năn hối cải của bị cáo, do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
T1. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử hủy bỏ Lệnh biên tài sản Lệnh phong tỏa
tài khoản ngân hàng đối với bị cáo V, cho đến nay bị cáo V đã thi hành xong toàn bộ
nghĩa vụ thi hành án như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo T1 bị cáo V1 thống nhất với nội dung bào chữa của luật bào chữa
cho mình và không tranh luận gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Thanh
T1, Nguyễn Thị Tường V đơn kháng cáo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự nên kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Thanh
T1, Nguyễn Thị Tường V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp
thẩm đã quy kết.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan
điều tra chứng minh tại hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét
xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2024, Nguyễn Thị Thanh T
hành vi thông qua các đơn vị, nhân chuyên làm dịch vụ đăng thành lập doanh
nghiệp đthành lập mới 27 công ty nhận chuyển nhượng lại 04 công ty để thực hiện
hành vi mua bán trái phép 8.494 hoá đơn GTGT với tổng gtrị hoá đơn trước thuế
561.738.685.809 đồng, thuế suất GTGT trên các hoá đơn là 8% hoặc 10% theo quy định
của pháp luật, tổng giá trị sau thuế là 613.874.506.633 đồng. Đối với số hóa đơn GTGT
xuất khống, T lấy chi phí 6% giá trị hoá đơn trước thuế, tổng cộng 35.031.467.712
đồng. Số tiền này, sau khi trừ đi chi phí làm dịch vụ thành lập doanh nghiệp
224.450.000 đồng, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước 599.272.677 đồng, trả công cho
T1 và V, T hưởng lợi bất chính 32.946.006.349 đồng.
Nguyễn Thị Thanh T1 giúp T làm thủ tục mở quản tài khoản ngân hàng
112002882989 của Công ty T7 mở tại Ngân hàng V3: thực hiện các giao dịch nhận,
chuyển khoản để hợp thức dòng tiền thanh toán, xuất không hóa đơn GTGT cho khách
hàng và được T trả công 561.738.686 đồng.
Nguyễn Thị Tường V giúp T thành lập Công ty T15 mở tài khoản ngân hàng
của các Công ty T20, Công ty T15, Công ty T16, tài khoản số 102874370647 mang tên
Lê Văn H2 tại Ngân hàng V3 để nhận, chuyển tiền hợp thức hóa dòng tiền mua bán hóa
đơn GTGT cho khách hàng. Được T trả công 700.000.000 đồng.
Do đó, Bản án hình sự thẩm s71/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 Đà Nẵng đã kết án bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Mua bán
trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” quy định tại điểm a, b, d, đ khoản 2
Điều 203 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Tường V
về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nnước” quy định tại điểm a,
9
d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có căn
cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T,
Nguyễn Thị Tường V, kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh
T1, thì thấy: Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu
quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; đã áp dụng đầy đủ nh tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình snăm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T mức hình phạt 04 năm
tù, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 02 năm tù, bị cáo Nguyễn Thị Tường V 02 năm là
có căn cứ pháp luật.
Xét tài liệu, chứng cứ mới của các bị cáo cung cấp sau khi xét xử thẩm thì
thấy:
1. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T: Bị cáo T nộp 10.000.000 đồng tiền thu lợi
bất chính, tuy nhiên, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, tổ chức cho người khác thực
hiện hành vi phạm tội, thu lợi bất chính đặc biệt lớn nhưng chỉ mới nộp số tiền quá nhỏ,
do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bcáo T, giữ nguyên bản án
thẩm về hình phạt.
2. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 và bị cáo Nguyễn Thị Tường V:
Hội đồng xét xử xét thấy, bị o T1 bị cáo V givai trò giúp sức cho bị cáo
Nguyễn Thị Thanh T. Số tiền thu lợi bất chính mà các bị cáo có được là từ việc bị cáo T
trả tiền công cho các bị cáo trong nhiều năm (4 năm), tính bình quân mỗi tháng không
nhiều. Sau khi xét xử thẩm, bị cáo V nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính
655.000.000 đồng 200.000 đồng tiền án phí hình s thẩm; bị cáo Nguyễn Thị
Thanh T1 nộp 100.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
thẩm sở chấp nhận kháng o của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 Nguyễn
Thị Tường V, giảm hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.
3. Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Tường V về việc đề nghị huỷ bỏ
Lệnh kê biên tài sản số 2542/LKB-CSKT, ngày 04/9/2025 của quan CSĐT Công
an thành phố Đ hủy b Lệnh phong toả tài khoản số 2546/LPT-CSKT ngày
04/9/2025 của của cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại Bản án Hình sự thẩm số 71/2025/HS-ST, ngày
25/11/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 thành phố Đà Nẵng đã tuyên buộc bị cáo
Nguyễn Thị Tường V phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 655.000.000 đồng và 200.000
đồng tiền án phí nh sự thẩm. Đồng thời tuyên: Tiếp tục duy tkê biên tài sản theo
Lệnh biên tài sản số 2542/LKB-CSKT, ngày 04/9/2025 của quan CSĐT Công an
thành phố Đ tiếp tục duy trì phong toả tài khoản ngân hàng theo Lệnh phong toả tài
khoản số 2546/LPT-CSKT ngày 04/9/2025 của của quan CSĐT Công an thành phố
Đ để đảm bảo thi hành án.
Sau khi xét xthẩm, bị cáo V đã nộp toàn bộ khoản tiền thu lợi bất chính
655.000.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm 200.000 đồng. Như vậy, bcáo đã
thi hành xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên buộc đối với bị
cáo V. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị cáo Nguyễn Thị Tường V về
việc đề nghị huỷ bLệnh biên tài sản số 2542/LKB-CSKT, ngày 04/9/2025 của
quan CSĐT Công an thành phố Đ hủy bỏ Lệnh phong toả tài khoản số 2546/LPT-
CSKT ngày 04/9/2025 của của quan CSĐT Công an thành phố Đ đđảm bảo thi
hành án.
10
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu
200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo
Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị ờng V không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm, theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, giữ nguyên Bản
án hình sự thẩm số: 71/2025/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Đà Nẵng về hình phạt.
- Chấp nhận kháng cáo của các bcáo Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Tường
V, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2025/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng về hình phạt.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a, b, d, đ khoản 2 điều 203; điểm b, s, t, n khoản 1 Điều 51; điểm g,
h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép
hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt
thi hành án.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt với Bản án số
08/2019/HSST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà
Nẵng (cũ), buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ điểm a, d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng về tội
“Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước”. Bị cáo được trừ thời gian bị
tạm giam 04 tháng 26 ngày (từ ngày 10/01/2025 đến ngày 05/6/2025). Thời gian chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ điểm a, d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tường V 01 (Một) năm 03 (ba) tháng vtội “Mua
bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước”. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm
11
giam 04 tháng 26 ngày (từ ngày 10/01/2025 đến ngày 05/6/2025). Thời gian chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Huỷ bỏ Lệnh kê biên tài sản số 2542/LKB-CSKT, ngày 04/9/2025 của cơ quan
CSĐT Công an thành phố Đ, về việc kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 222, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: A N,
quận H, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy chứng nhận số: DG247594 do Sở Tài nguyên và
Môi trường thành phố Đ cấp ngày 07/9/2022 (nhận chuyển nhượng từ ba mẹ ruột vào
năm 2023, hiện đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Á (A) vay 7,4 tỷ đồng). Huỷ bỏ
Lệnh phong toả tài khoản số 2546/LPT-CSKT ngày 04/9/2025 của của quan CSĐT
Công an thành phố Đ về phong toả tài khoản ngân hàng số 2001201035597, Ngân hàng
N1 (A1), chủ tài khoản Nguyễn Thị Tường V.
4. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí
hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Tường V không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/3/2026).
Nơi nhận:
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Phòng PV06 Công an thành phố Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Tòa HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Văn Phú
12
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
13
14
Tải về
Bản án số 75/2026/HS-PT Bản án số 75/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 75/2026/HS-PT Bản án số 75/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất