Bản án số 75/2019/HS-ST ngày 20/09/2019 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 75/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 75/2019/HS-ST ngày 20/09/2019 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 75/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 75/2019/HS-ST
Ngày 20 - 9 - 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phn Hi đng xét x sơ thm gm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Phong và ông Nguyễn Đăng Hải
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lưu Bình Phương - Cán bộ
Toà án thành ph Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên
toà: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở nhà văn hóa tổ 15, phường Hùng
Vương, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân thành phố Phúc
Yên, xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 76/2019/TLST-HS ngày
30 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
74/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 m 2019 đối với bị cáo: Trần Văn B,
sinh năm 1985 ti huyện S, thành phố Nội. Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ,
M, huyện S, thành phố Nội. Ngh nghip: Lao động t do; trình độ văn hóa:
6/12; dân tc: Kinh; gii tính: Nam; n giáo: không; quc tch: Vit Nam; Con
ông Trần Văn B, sinh năm 1960, con Nguyễn Thị H (đã chết); v Trần
Thị T (đã ly hôn), con 02 con lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; Tin
án: ti Bn án s 128/2017/HSST ngày 29/6/2017 ca Tòa án nhân dân qun
Nam T Liêm, thành ph Ni x pht b cáo 12 tháng v ti Trm cp tài
sn. Ngày 18/3/2018 chp hành xong hình pht tù. Chp hành xong phn án phí
ngày 16/3/2018. Hiện chưa được xóa án tích. Tin s: không
Quá trình hot động bn thân: Ngày 26/7/2011 Tòa án nhân dân huyn T
Liêm, thành ph Ni x pht 06 tháng v ti Trm cp tài sn ti Bn án
s 277/2011/HSST, chp hành xong hình pht ngày 17/10/2011, chp hành
2
xong phn án phí ngày 02/3/2012. Hiện đã được xóa án tích. Ngày 05/7/2012,
Ch tch y B nhân dân huyện Sóc Sơn, thành ph Ni B hành Quyết định
s 6249/QĐ-UBND, quyết định áp dng biện pháp đưa vào sở cha bnh bt
buc ti Trung tâm Giáo dc-Lao đng-Xã hi s III thành ph Nội đối vi
Trần Văn B, thi hn 24 tháng, do: nghin cht ma túy. Ngày 19/2/2015 chp
hành xong. Ngày 23/01/2015, Ch tch y B nhân dân huyện Sóc Sơn, thành
ph Ni B hành Quyết định s 445/QĐ-UBND, quyết đnh áp dng bin
pháp qun sau cai nghin ti Trung tâm Giáo dc-Lao động-Xã hi s VI
thành ph Nội đối vi Trần Văn B, thi hn 24 tháng, k t ngày
19/02/2015. Đến ngày 27/10/2016 được bàn giao lại cho gia đình để cha bnh
ti bnh viện. Đến 19/2/2017 thì ct quân s qun lý tại cơ sở. Ngày 20/01/2017,
b Công an th xã Ph Yên, tnh Thái Nguyên ra Quyết định s 21/QĐ-
XPVPHC, x pht vi phm hành chính đối vi Trần Văn B v hành vi Tàng tr
trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 21 Ngh đnh 167,
mc phạt 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 23/01/2017.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2019 đến nay tại trại tạm
giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, mặt.
Người làm chng:
1.
Anh Nguyễn Đình T, vắng mặt.
2.
Anh Đỗ Thế A, vắng mặt.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liu trong h vụ án din biến ti phiên tòa, ni dung
v án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/6/2019, Trần Văn B
là đối tượng nghiện chất ma túy, đang đi bộ một mình tại khu vực thôn T, T,
huyện P, tỉnh Thái Nguyên, để tìm ma túy sử dụng thì gặp 01 người đàn ông
không quen biết, đi xe Honda Wave màu đỏ không xác định biển kiểm
soát đến làm quen, bắt chuyện với B. Qua nói chuyện B người đàn ông này
nhận biết cùng người nghiện chất ma túy, người này rủ B đi mua ma y để
cùng sử dụng. B đồng ý, ngồi sau xe, người này chở B đến 01 ngôi nhà cấp bốn
ria đường QL3 thuộc thôn T, T, thị P, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, người
đàn ông đi cùng B đưa tiền vào bên trong cánh cửa xếp của ngôi nhà mua
được 01 gói ma túy. Sau đó, người này rủ B về thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để
cùng sử dụng ma túy, B đồng ý. Trên đường đi, người này đưa cho B gói ma túy
3
vừa mua được, bảo B cầm để về ng sử dụng. B biết đó gói ma túy Heroine,
đồng ý cầm i ma túy trong lòng bàn tay trái của mình. Khi đi đến quán
nước của anh Nguyễn Đình T, người đàn ông này bảo B vào quán nước ngồi chờ
để người này đi lấy chìa khóa rồi phóng xe đi về hướng bến xe P. Khi B vừa vào
ngồi tại quán nước của anh Thoại thì Công an phường Hùng Vương, thành phố
Phúc Yên đến kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay trái của Trần Văn B 01 gói
giấy màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng, được niêm phong trong phong
hiệu A1 theo quy định pháp luật. Tại Kết luận giám định số 1064/KLGĐ
ngày 16/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:
“Chất cục bột màu trắng của mẫu hiệu A1 gửi giám định ma túy, khối
lượng 0,3949g (Không phảy ba chín bốn chín gam, không kể bao bì) loại
Heroine (Heroine chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 09, Nghị định số
73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ’’. Hoàn lại mẫu vật còn lại sau
giám định gồm A1 = 0,1965 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.
Đối với người đàn ông đã rủ B đi mua ma túy, quan điều tra đã xác
minh tại khu vực phường H, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc và xã T, thị
P, tỉnh Thái Nguyên, đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối
tượng đưa cho B gói ma túy. quan điều tra tiếp tục xác minh, làm xử
sau.
Đối với ngôi nhà cấp bốn mà B khai đối tượng B mới quen rủ B đến mua
ma y, quá trình điều quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên đã phối
hợp với Công an Trung Thành, thị Phổ Yên soát, xác minh nhưng chưa
xác định được ngôi nhà có đặc điểm như B đã khai. Cơ quan điều tra tiếp tục xác
minh, làm rõ xử lý sau.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trần Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 71/CT- VKSPY ngày 28 tháng 8 m 2019, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố Trần n B về tội tàng trữ
trái phép chất ma y” theo khon 1 Điu 249 Bộ luật hình sự m 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định
truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều
249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình s; Xử phạt
bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 13 tháng 6 năm 2019. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.
4
Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại , đại diện Viện kiểm sát không
có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và của Tòa án.
Bị o thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xvào
nghị án: Bản thân bị cáo rất ăn năn, hối hận, bị cáo biết mình đã sai mong
hi đồng xét xử xem t cho bo đưc hưởng ng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tng tại phn tòa, Hội đng t xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn B thừa nhận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày
13/6/2019, tại quán nước khu vực tổ x, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh
Phúc của anh Nguyễn Đình T, bị cáo Trần Văn B hành vi Tàng trữ trái phép
0,3949 gam chất ma túy (loại Heroine) để sử dụng thì bị Công an phường Hùng
Vương phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành
tội “tàng trữ trái phép chất ma y” được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật
hình sự năm 2015. vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bcáo theo ncáo trạng số: 71/CT- VKSPY ngày 28
tháng 8 năm 2019 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép 0,3949
gam chất ma túy (loại Heroine) của bcáo nguy hiểm cho hội. Hành vi đó
đã xâm phạm đến trật thội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản
của nhà nước đối với chất ma tuý, chất gây nghiện. Như chúng ta đã biết nghiện
ma tuý có thể gây lây nhiễm HIV cho người khác qua con đường tiêm chích, gây
ảnh hưởng tới sức khoẻ, kinh tế của người nghiện, làm suy thoái đạo đức, giống
nòi. còn một trong những nguyên nhân gây ra những loại tội phạm khác.
vậy việc đưa bị cáo ra xét xử lưu đô
̣
ng ta
̣
i nhà văn hóa tổ 15, phường Hùng
Vương, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc không chỉ nhằm giáo dục riêng cho
bị cáo mà còn mang tính giáo dục chung và phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hội
đồng xét xử thấy: Bcáo nhân thân xấu, bản thân bị cáo sức khỏe, sinh ra
và lớn lên trong gia đình nông dân lao động, bị cáo đã có vợ và hai con nhưng bị
cáo không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân đua đòi theo bạn nên đã bị
nghiện ma túy. Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án nhân dân qun Nam T Liêm, thành
ph Ni xét x v ti Trm cp tài sn 03 ln b x vi phm hành
5
chính. B cáo nhiu lần đưa ra xử lý trước pháp luật nhưng không đó làm bài học
cho bn thân mà nay li tiếp tc tàng tr trái phép chất ma túy đ s dng. Tính
đến ln phm ti này, b cáo còn Bn án s 128/2017/HSST ngày 29/6/2017
chưa được xóa án tích ti nên b cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy
định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. vy cn phi x
phạt nghiêm đi vi b cáo. Tuy nhiên khi ng hình, Hội đồng xét x xem xét
gim nh mt hình pht cho b cáo vì tại phiên tòa bị cáo thái độ thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Sau khi cân nhắc nhân thân
và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo,
̣
i đồng xe
́
t xư
̉
thấy cần buộc bị
cáo chấp hành hình phạt một thời hạn để giáo dục bị cáo trở thành ng dân
có ích cho xã hội.
[3] V hình pht b sung: Quá trình điều tra, quan điều tra đã xác minh
ti địa phương và ti phiên tòa b cáo khai đối tượng nghin ma túy không
tài sn ngh nghip n định nên không áp dng hình pht b sung hình
pht tin đối vi b cáo.
[4] V ngun gc ma túy, b cáo khai được một người đàn ông không biết
tên tuổi địa chỉ rủ đi mua ma túy đưa cho bị cáo ma túy. quan điều tra đã
xác minh tại khu vực phường H, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc
T, thị P, tỉnh Thái Nguyên, đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch
của đối tượng đưa cho bị cáo B gói ma túy. quan điều tra tiếp tục xác minh,
làm rõ xử lý sau.
Đối với ngôi nhà cấp bốn mà bị cáo khai đối tượng bị cáo mới quen rủ bị
cáo đến mua ma y. Qtrình điều quan điều tra Công an thành phố Phúc
Yên đã phối hợp với Công an Trung Thành, thị Phổ Yên rà soát, xác minh
nhưng chưa xác định được ngôi nhà đặc điểm như bị cáo đã khai. quan
điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[5] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 0,1965 gam Heroine cùng toàn bộ
bao gói còn lại sau giám định.
[6] Về nh vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an tnh ph
Pc n, Điều tra vn, Viện kiểm t nhân n tnh phPhúc Yên, Kiểm sát
viên trong q trình điều tra, truy tố đã thc hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá tnh điều tra tại phn tòa, bị o
không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành t
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
6
tiến nh tố tụng, ngưi tiến nh tố tụng đã thc hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo phải 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h
khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tộiTàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (mt) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn
được tính từ ngày 13 tháng 6 năm 2019.
Vvật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điu 47 Bộ luật hình sm 2015 và Điều
106 Bộ luật tố tụng nh sự năm 2015: Tch thu tiêu hy 0,1965 gam heroine cùng
toàn b bao gói do cơ quan giám định hoàn li. (Tài sản đặc điểm như biên
bản giao nhận vật chứng lập ngày 03 tháng 9 năm 2019 tại quan Thi hành án
dân sự thành ph Phúc Yên).
Án phí Hình sự thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa án của Ủy B Thường
vụ Quốc hi. Buộc bo Trần n B phi nộp 200.000 đng (hai trăm ngn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhn:
- Vin kim sát nhân dân thành ph Phúc Yên;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Công an thành ph Phúc Yên;
- Thi hành án dân s thành ph Phúc Yên;
- Tri tm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cơ quan THA hình s có thm quyn;
- S Tư pháp thành phố Hà Ni;
- B cáo;
- u HS, V.P.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TOÀ
Nguyn Th M Hnh
Tải về
Bản án số 75/2019/HS-ST Bản án số 75/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất