Bản án số 70/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 70/2018/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 70/2018/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 70/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hưng Hà (TAND tỉnh Thái Bình) |
| Số hiệu: | 70/2018/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/10/2018 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 70/2018/HS-ST
Ngày 24-10-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Ngọc Phức
2. Ông Tống Xuân Tú
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Nguyên Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
64/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 69/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Bỉnh Nh, sinh ngày 22-4-1961, tại thôn Tr, xã T, huyện H, tỉnh
Th.
Nơi cư trú: Thôn Tr, xã T, huyện H, tỉnh Th; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình
độ văn hoá: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông
Nguyễn Bỉnh H và bà Phạm Thị T (Phạm Thị C); có vợ là Nguyễn Thị H và 03
con, con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án: Bản án
số 81/2014/HSST ngày 28-11-2014 của Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND)
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Bỉnh Nh 02 năm 06 tháng tù về
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21-02-
2003 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, ngày
09-7-2004 bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính, hình
thức “Cảnh cáo” về hành vi “Đánh bạc”, ngày 02-10-2008 bị TAND huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử
thách là 01 năm về tội “Đánh bạc”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 6 năm
2
2018, đến ngày 06 tháng 6 năm 2018 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm
giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình - được trích xuất, có mặt tại
phiên tòa.
Những người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1972, nơi cư trú: Thôn A, xã Th,
huyện H, tỉnh Th; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn A, xã Th, huyện
H, tỉnh Th; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ ngày 03-6-2018 tại trục đường liên thôn thuộc địa phận thôn
G, xã V, huyện H, tỉnh Th, Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện
bắt quả tang Nguyễn Bỉnh Nh có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay trái 02 gói
giấy tráng kim màu trắng, được gói bên ngoài bằng một mảnh giấy màu trắng
(loại giấy ăn). Bị cáo Nh khai nhận đó là ma túy (Hêrôin), cất giấu để sử dụng.
Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản bắt người
phạm tội quả tang và niêm phong 02 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của
những người làm chứng. Ngoài ra còn thu giữ tại túi quần hậu bên phải 01 điện
thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã cũ và số tiền 40.000đồng.
Bản kết luận giám định số 214/KLGĐ-PC54 ngày 05-6-2018 của Phòng
kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy,
loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng là 0,2569 gam (Không phẩy hai nghìn năm
trăm sáu mươi chín gam). Heroine STT:20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-
CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số 70/CT-VKSHH ngày 13-9-2018 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Bỉnh Nh ra trước Toà án nhân
dân huyện Hưng Hà để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c
khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố, sau
khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị
cáo Nguyễn Bỉnh Nh như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo
trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh
3
phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249,
điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự,
xử phạt bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03-6-2018; không áp dụng hình
phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106
của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu của bị
cáo Nguyễn Bỉnh Nh là vật chứng của vụ án, sau khi giám định được niêm
phong trong phong bì số 214/KLGĐ-PC54 ngày 05-6-2018 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Thái Bình; trả lại cho bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh 01 điện thoại
di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã cũ và số tiền 40.000đồng.
nhưng tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án; bị cáo phải chịu án phí
hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh khai nhận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 03-06-
2018 bị cáo đang ở nhà thì có anh X nhà ở C, xã H, huyện H, tỉnh Th đến rủ bị
cáo đi cầm cố điện thoại của anh X để bị cáo lấy tiền đi mua ma túy về sử dụng
chung. Bị cáo và anh X đi cầm cố điện thoại ở quán điện thoại bị cáo không nhớ
địa chỉ được số tiền 500.000đồng, sau đó anh X lấy thêm 100.000đồng đưa cho
bị cáo. Bị cáo cầm tiền rồi một mình sang khu vực thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Th
gặp và mua 02 gói ma túy Hêrôin của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa
chỉ với giá 600.000đồng, mục đích để sử dụng, khi về đến địa phận thôn G, xã V,
huyện H, tỉnh Th thì Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả
tang. Bị cáo nhận thấy hành vi tàng trữ chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp
luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra,
truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an
huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy
tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
4
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh tại
phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh
bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công
an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập hồi 18 giờ 20 phút ngày 03-6-2018; biên
bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái
Bình lập hồi 19 giờ 50 phút ngày 03-6-2018; bản kết luận giám định số
214/KLGĐ-PC54 ngày 05-6-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái
Bình; lời khai của những người làm chứng là anh Nguyễn Trọng C và anh
Nguyễn Văn M. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ ngày 03-6-2018 tại
trục đường liên thôn thuộc địa phận thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Th, bị cáo
Nguyễn Bỉnh Nh đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2569 gam ma túy, loại Hêrôin
mục đích để sử dụng, bị công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt
quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh đã phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều
249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố
bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn có
căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma
tuý mà bị cáo Nh thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính
sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn
xã hội; bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái
phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; trong giai
đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi
phạm tội nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rất rõ về
tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, mua bán, sử dụng...trái phép chất ma túy nhưng do mắc nghiện ma
túy vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội nghiêm trọng do cố ý,
bị cáo có nhân thân xấu, do đó cần xử lý nghiêm minh và phải tiếp tục cách ly bị
cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục,
cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp
phần phòng ngừa chung.
5
[5] Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bản
thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, do đó
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thu giữ và quản lý của bị cáo Nguyễn
Bỉnh Nh, sau khi giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số
214/KLGĐ-PC54 ngày 05-6-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái
Bình cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen
đã cũ và số tiền 40.000đồng đều là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan
đến hành vi phạm tội nên cần trả cho bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh khai mua của một một
người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Th
với giá 600.000đồng, mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác
định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo Nh nên không có căn cứ để
xử lý trong vụ án này.
[8] Đối với người đàn ông tên là X đưa cho bị cáo số tiền 600.000đồng để
mua ma túy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã
tiến hành xác minh tại thôn Nh, xã H, huyện H, tỉnh Th có người đàn ông tên là
Phạm Ngọc X, sinh năm 1974, hiện nay anh X không có mặt tại địa phương, chưa
lấy được lời khai của anh X nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng theo quy định của
pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h
khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bỉnh
Nh 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ
03-6-2018.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1.Tịch thu tiêu huỷ 0,2432 gam (không phẩy hai nghìn bốn trăm ba mươi
hai gam) mẫu gửi giám định và bao gói thu của Nguyễn Bỉnh Nh trong bao niêm
6
phong hoàn lại đối tượng giám định số 214/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Thái Bình ngày 05-6-2018.
3.2. Trả lại bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh 01 điện thoại di động nhãn hiệu
NOKIA màu đen đã cũ và số tiền 40.000đồng (Bốn mươi nghìn đồng) nhưng
tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án dân sự.
Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày
14-9-2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự
2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh
phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bỉnh Nh có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà;
- Công an huyện Hưng Hà;
- Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Chuyên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm