Bản án số 7/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 7/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 7/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 7/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ninh Hải (TAND tỉnh Ninh Thuận) |
| Số hiệu: | 7/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Xử phạt 02 năm tù |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
- -
Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày: 06-3-2024
NHÂN DANH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- : Bà Đinh Thị Thành.
: Ông Huỳnh Tấn Đạt;
Bà Huỳnh Thị Sâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trí - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Bảo Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh
Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2024/TLST-HS
ngày 22 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
07/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với:
Bị cáo , sinh năm 1976 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: thôn M,
xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt
Nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; Con ông Trương Văn K (đã
chết) và bà Trương Thị X; có vợ Nguyễn Thị Thanh T (đã ly hôn) và có 02 người
con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm
giữ Công an huyện N (có mặt).
: Ông Trần C, sinh năm: 1959. Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh
Ninh Thuận (có mặt).
i làm chng: Ông Phạm B, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Khu phố N, thị
trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Nghĩ rằng trước đó ông Trần C đã gọi người đánh mình nên sáng sớm ngày
06/9/2023, Trương Văn N lấy cây rựa dài khoảng 1,5m, cán bằng tre, lưỡi bằng
kim loại rồi điều khiển xe mô tô biển số 85FA-7520 đi từ nhà ở thôn M, xã N,
huyện N đến rẫy của ông C ở thôn M, xã V, huyện N với mục đích tìm đánh trả thù
ông C. Khoảng 05 giờ cùng ngày, N để xe mô tô tại đường tỉnh lộ 702 đối diện rẫy
của ông C và đứng chờ khoảng 05 phút thì thấy ông C điều khiển xe mô tô đến mở
cổng. N cầm rựa đi tới hỏi ông C sao lại kêu người đánh mình, ông C trả lời: “bằng
chứng đâu”. Nghe ông C trả lời vậy nên N liền cầm rựa bằng hai tay chém 01 nhát
theo hướng ngang từ phải qua trái trúng người ông C, ông C bỏ chạy được khoảng
04-05 bước rồi té ngã xuống đường. N tiếp tục cầm rựa bằng hai tay đi tới chém
theo hướng ngang từ phải qua trái liên tiếp 02 nhát trúng vào người ông C. Thấy có
đánh nhau, ông Phạm B đang đi gần đó chạy đến thì N cầm rựa ra lấy xe máy bỏ đi
còn ông C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N.
Sau đó Trương Văn N đã bỏ trốn khỏi địa phương và đã bán xe mô tô biển
số 85FA-7520 cho một người không rõ nhân thân, đến ngày 11/11/2023 N về nhà
thì bị Cơ quan điều tra triệu tập làm việc. Tại cơ quan điều tra N đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình. Cây rựa N dùng để gây thương tích cho ông C, N
không nhớ đã vứt bỏ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
235/KLTTCT-TTGĐYK-PY, ngày 20/10/2023 của Trung tâm giám định y khoa -
pháp y tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần C là 12%. Cơ chế
hình thành vết thương: Do vật sắc gây nên. Thương tích cụ thể như sau:
- Vết thương ngang lòng bàn tay trái tương ứng với đốt bàn ngón II sẹo liền
còn đóng vảy đen kích thước (1,7x0,2)cm (01%).
- Vết thương trùng vết mổ lòng bàn tay trái tương ứng đốt I ngón III sẹo liền
còn đóng vảy đen kích thước (3,5x0,4)cm (02%).
- Vết xước chéo mặt trước đùi trái 1/3 dưới liền tốt kích thược (8,5x0,2)cm
(01%).
- Vết mổ bàn tay trái nối gân gấp sâu ngón III (01%).
- Tràn dịch màng phổi trái lượng ít điều trị ổn định (03%).
- Gãy cũ cung bên trái xương sườn VIII (02%), IX (02%) đang có can chưa
hoàn toàn.
- Gãy cũ xương đốt xa ngón IV bàn tay trái (01%).
Về bồi thường dân sự: Bị hại Trần C không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSNH ngày 19/01/2024 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Trương Văn N về tội “cố ý
gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật
hình sự.
m:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên quyết định
truy tố theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương
Văn N phạm tội “cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản
1) Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử
phạt bị cáo Trương Văn N mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
+ Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
+ Bị hại ông Trần C không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
Bị cáo xin cảm ơn bị hại.
NHNH CA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên: trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những
người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trương Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại
Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định pháp y về
thương tích và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở
xác định: Vào khoảng 05 giờ 05 phút ngày 06/9/2023 tại rẫy của ông C ở thôn M,
xã V, huyện N, chỉ vì nghĩ rằng ông C gọi người đánh mình trước đó nên bị cáo N
đã dùng rựa dài khoảng 1,5m, cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại chém nhiều nhát
theo hướng từ phải qua trái trúng vào tay, chân trái và phần hông bên trái của ông
C. Hậu quả ông C bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo Trương Văn N
về tội “” thuộc trường hợp “” và “có
tính ch” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134
Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Bị cáo Trương Văn N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự,
bị cáo nhận thức được việc dùng rựa chém vào người khác sẽ gây thương tích
nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo N là nguy hiểm cho xã
hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một
cách trái pháp luật mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa
phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo N mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra
khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng, đồng thời có tác dụng
phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không có tình tiết tăng
nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa
sơ thẩm, bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình
sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần C không yêu cầu bị cáo bồi
thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu 200.000đ
án phí hình
sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo phạm tội “”.
Xử phạt bị cáo 02 (hai) tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù được tính từ ngày 22/11/2023.
- : Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí tòa án.
Bị cáo Trương Văn N phải nộp 200.000đ
(hai trăm ngàn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/3/2024./.
Nơi nhận: TM.HNG XÉT X M
- TAND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND huyện Ninh Hải;
- Công an huyện Ninh Hải;
- Chi cục THADS huyện Ninh Hải; (Đã ký)
- Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
- UBND xã Nh;
- Bị cáo; bị hại; Thành
- Lưu: án văn, hồ sơ;
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm