Bản án số 64/2023/DSPT ngày 26/04/2023 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2023/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 64/2023/DSPT ngày 26/04/2023 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Phước
Số hiệu: 64/2023/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/04/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá T, Hà Văn Th1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 64/2023/DS-PT
Ngày: 26-4-2023
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyn Viết Hùng
Các Thm phán: Ông Nguyn Văn Nhân
Ông Bùi Thanh Thảo
- T phiên tòa: Ông Lê Thế Huy - T ký Tòa án nhân dân tnh nh Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Bình Phước: Nguyễn Thị
Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 tháng 4 ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trsở a án
nn dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án n sự thụ số
149/2022/ TLPT- DS ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”, do Bản án n sự thẩm số 65/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện , tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QĐXXPT-DS ngày 27
tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: Khu , thị trấn ĐP, huyện , tỉnh Bình Phước.
Ni đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nông Thị Th, sinh m 1995.
Nơi cư trú: Thôn 4, xã TN, huyện , tỉnh Bình Phước.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Thành Kh, sinh năm 1979 - Thuộc đoàn luật Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi
trú: Thôn 3, xã MH, huyện , tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Ông Hà Văn Th1, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Thôn 2, xã MH, huyện , tỉnh Bình Phước.
Ngưi có quyn li, nghĩa vliên quan: Bà Nguyn Th Nh, sinh năm 1980.
Nơi cư trú: Thôn 2, xã MH, huyện , tỉnh Bình Phước.
Người làm chứng: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn SL, xã PS, huyện , tỉnh Bình Phước.
Người kháng cáo bị đơn: ông Hà Văn Th1, kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân huyện .
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/02/2022, quá trình giải quyết vụ án phía nguyên
đơn ông Nguyễn Bá T trình bày:
Ông T quen biết vợ chồng ông Th1 Nh, Nguyễn Thị H người làm
chứng chỉ quen biết khi được giới thiệu mua đất.
Khoảng đầu năm 2022 ông T nhu cầu mua đất trồng cây lâu năm để canh
tác. Thông qua bà Nguyễn Thị H ông T biết được ông Th1 bà Nh có 01 thửa đất tại
khu vực thôn SL PS theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt giấy
CNQSD đất) số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp
ngày 08/9/2003, diện tích trong sổ được cấp 21.896m
2
nhưng đưa ra thông tin
diện tích thực tế khoảng 3,8ha, trên đất trồng cây điều và cây cà phê đã được thu
hoạch, giá sang nhượng là 1.990.000.000 đồng. Phía ông T đồng ý sang nhượng đất
nên cùng H đến địa bàn thôn SL, PS để xem đất. Khi xem đất ông T gặp
Nh nên nhận ra người quen, hôm đi xem đất ông T cũng không thấy đất chia thành
nhiều mảnh đất khác nhau, chỉ con đường đi vào hết đất, ông Th1 cũng
không chỉ ranh giới cụ thể các thửa đất trong cùng một diện tích đất.
Sau khi xem đất ông T đồng ý sang nhượng nên ngày 14/01/2022 ông T
xuống nhà ông Th1 Nh tại thôn 2, MH thỏa thuận sang nhượng. Tại nhà ông
Th1, ông Th1 đưa cho ông T 01 bản pho to giấy CNQSD đất số 170 do Ủy ban
nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003 cho ông Huy B (chuyển nhượng chỉnh
cho ông Th1). Ông Th1 đưa ra thông tin đất diện tích được cấp theo sổ
21.896m
2
nhưng diện tích đất thực tế khoảng 38.000m
2
, giá sang nhượng
1.990.000.000 đồng. Ông T đồng ý nhận chuyển nhượng đất theo như thông tin
phía ông Th1 đưa ra nên hai bên thỏa thuận ông T đặt cọc trước 50.000.000 đồng.
Khi đặt cọc ông T viết 01 giấy tiêu đề "Giấy đặt cọc tiền mua đất", nội dung
sang nhượng thửa đất số 170 cấp ngày 08/9/2003 nêu trên. Tuy nhiên, hôm sau ông
Th1 bà Nh lại thay đổi ý kiến yêu cầu ông T đặt cọc thêm số tiền 250.000.000 đồng
nữa. Phía ông T đồng ý nên ngày 17/01/2022 ông T cùng với vợ chồng ông Th1 có
mặt tại nhà Nguyễn Thị H để làm giấy đặt cọc mua đất. Khi đến nhà bà H ông T
thấy bà H định viết 01 hợp đồng đặt cọc cho hai bên nhưng ông T không đồng ý do
ông T đã tự soạn Th 01 giấy có tiêu đề là "Hợp đồng mua bán đất", hợp đồng có nội
dung thỏa thuận ông Th1 sang nhượng cho ông T 01 thửa đất theo giấy CNQSD đất
số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003 cho vợ chồng ông Th1,
diện tích khoảng 38.000m
2
, giá sang nhượng 1.990.000.000 đồng, ông T cọc
trước 300.000.000 đồng, hẹn 01 tháng ktừ ngày viết giấy ông Th1 nghĩa vụ ra
văn phòng công chứng làm thủ tục sang nhượng theo quy định. Khi công chứng
hợp đồng ông T sẽ đưa thêm cho ông Th1 số tiền 1.500.000.000 đồng, số tiền còn
lại sẽ giao hết khi ông T được cấp sổ; ông Th1 nghĩa vụ chịu toàn bộ chi phí
sang sổ.
3
Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận kể từ khi giao nhận tiền đặt cọc thì bên ông
Th1 giao đất cho ông T quản sử dụng; nếu diện tích tăng hoặc giảm trong phạm
vi 3.000m
2
so với diện tích đất thỏa thuận sang nhượng 38.000m
2
thì sẽ chịu thêm
tiền hoặc trừ bớt số tiền theo giá đã thỏa thuận sang nhượng, còn nếu thấp quá hoặc
vượt quá diện tích đất nêu trên sẽ không tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hợp đồng
ghi nếu bên nào phá bỏ hợp đồng thì phải đền gấp hai lần tiền cọc là chưa đúng với
ý chí của ông T chỉ ràng buộc đối với phía ông Th1, do thông lệ thì bên nhận
chuyển nhượng không phải chịu phạt cọc khi không tiếp tục hợp đồng.
do hai bên thỏa thuận thời hạn làm thủ tục sang nhượng tại văn phòng
công chứng trong thời hạn 01 tháng do ông Th1 nói sổ đất đang thế chấp trong
Ngân hàng, cần phải trả hết cho Ngân hàng mới làm thủ tục sang nhượng được.
Ngoài ra không thông tin về giấy CNQSD đất nào khác. Hai bên cũng không
thỏa thuận ông T nhận chuyển nhượng thêm thửa đất nào khác của ông Th1.
Ông T khẳng định giấy nêu trên thực tế hợp đồng đặt cọc giữa hai bên để
thỏa thuận sang nhượng thửa đất vị trí như trong hợp đồng đã ghi. các bên
cũng đã biết theo quy định pháp luật hiện nay phải ra văn phòng công chứng để làm
thủ tục sang nhượng theo quy định.
Sau khi viết hợp đồng nêu trên ông T đã được ông Th1 Nh giao đất, khi
đến nhận đất ông Th1 cũng chỉ xác định sơ bộ là đất của ông Th1 ở khu vực này đã
ranh giới với các hộ dân khác mà không chỉ ranh giới cụ thể về thửa đất ông
T nhận chuyển nhượng theo hợp đồng đã viết. Ông T nghe ông Th1 nói thì cũng
đồng ý tạm thời nhận quản lý đất, rồi thông Th2 phát cỏ vườn điều trong một
ngày với giá 3.000.000 đồng, ông T đã bỏ vào 03 bao phân vào vườn cà phê và ới
02 lần nước hết 30 lít dầu nhưng chưa thu hoạch được gì. Trong thời gian này phía
ông Th1 cũng vào phụ giúp tưới cây phê. Thời gian quản vườn khoảng 01
tháng, nhưng thực tế ông T chỉ ở trong đó vài ngày.
Khoảng 01 tháng sau ông Th1 đưa cho ông T xem bản gốc Giấy CNQSD đất
số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003 và 01 bản nháp sơ đồ về
hình th c thửa đất nói rằng diện tích đất thực tế không đủ theo như thỏa
thuận. Ông T nghe ông Th1 nói thì mượn bản gốc giấy chứng nhận bản vẽ nháp
đi photo lại. Sau khi xem lại bản vẽ thấy diện tích đất theo giấy CNQSD đất bị
thiếu nên nói với ông Th1 không tiếp tục thực hiện việc mua bán trả lại đất
cho ông Th1. Phía ông Th1 cũng TN với ý kiến của ông T đưa ra nên ngày
22/02/2022 ông Th1 gọi điện cho ông T đến nhà H làm giấy tờ trả lại đất. Tại
nhà bà H ông Th1 nói ông T bàn giao lại đất để cho ông chăm sóc cây để tránh cây
phê không bị hỏng, đồng thời ông Th1 đọc cho ông T viết "Giấy bàn giao lại
rẫy cho ông Th1" nội dung ông T bàn giao lại đất rẫy cho ông Th1, do bàn
giao là do diện tích ít không theo thỏa thuận ban đầu và trả lại công cụ lao động cho
ông Th1, đối với số tiền đã đặt cọc thì tạm thời hai bên chưa thương lượng được.
Như vậy, thể hiện phía ông Th1 c tình đưa ra thông tin gian dối để phía ông
T giao kết hợp đồng. vậy, ông T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc theo
4
giấy tiêu đề "hợp đồng mua bán đất" ngày 17/01/2022; buộc bị đơn ông Th1
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Nh trả số tiền đặt cọc
300.000.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, u cầu tuyên bố hợp đồng đặt cc
ngày 17/01/2022 là vô hiệu và trả lại số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng.
Trước đây xác định quan hệ pháp luật chưa chính xác. Do phía ông Th1 đưa
ra thông tin gian dối, không như thỏa thuận ban đầu nên cần tuyên bố hợp đồng bị
vô hiệu theo quy định tại điều 127 Bộ luật Dân sự.
Khẳng định khi giao kết hợp đồng các bên thỏa thuận bằng lời nói nếu
tăng hoặc giảm vượt quá 3.000m
2
thì phía ông T được quyền hủy không tiếp tục
sang nhượng. Trước đây người đại diện trình bày tại bản tự khai ngày 14/4/2022 về
việc nếu không đủ diện tích 38.000m
2
thì phải đủ 21.896m
2
vẫn trả đủ
1.990.000.000 đồng chưa chính xác. Điều này thể hiện qua việc sau khi ông Th1
liên hệ đo đạc xong, lấy đồ về thì ông Th1 cũng đã đưa đồ đo đạc nói cho
ông T biết diện tích thực tế ít hơn so với giấy CNQSD đất để các bên cùng bàn bạc
trao đổi. Lúc này ông T nhận thấy ông Th1 đưa ra nhiều thông tin không đúng với
thực tế nên ông T nói không tiếp tục sang nhượng nhưng phía ông Th1 cho rằng
hợp đồng đã viết đặt cọc nên buộc phải thực hiện theo việc tăng hoặc giảm diện
tích. vậy, phía ông T cũng đồng ý sang nhượng diện tích đất thực tế khoảng
16.000m
2
(1.6ha), nhưng phía ông Th1 không đồng ý, yêu cầu ông T phải nhận
sang nhượng hết 02 sổ đất khác ở bên cạnh; ông T nghe vậy không đồng ý nên dẫn
đến việc tranh chấp và khởi kiện như hiện nay.
Phía nguyên đơn khẳng định chỉ thỏa thuận sang nhượng 01 thửa đất theo
giấy CNQSD đất ông Th1 đã cung cấp trong hợp đồng đặt cọc, không nhận
chuyển nhượng các thửa đất n lại của của ông Th1 Nh. Thể hiện khi chỉ dẫn
ranh thì ông Th1 cũng chỉ nói ranh giáp phía ông Tẩy A M, giáp suối gần đến
chỗ ranh H1 nhờ hai hộ này đứng ra xác nhận ranh, không thỏa thuận đến
ranh các hộ khác n không nhờ các hộ khác ra xác định ranh. Do ông T cũng
không thấy ranh giới cụ thể nên các bên TN sẽ đo đạc cụ thể để xác định ranh
giới theo giấy CNQSD đất cho chính xác xem sự chồng ln hay không tính
tiền sang nhượng cụ thể đối với diện tích thực tế.
Quá trình giải quyết vụ án, phía ông Th1 Nh vẫn đưa ra lời đề nghị để
các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng với tổng diện tích đất thực tế khoảng 3.3ha,
ông T không đồng ý vẫn khẳng định chỉ thỏa thuận sang nhượng thửa đất theo
như hợp đồng đặt cọc. Hiện nay ông T vẫn đồng ý tiếp tục thực hiện sang nhượng
đối với diện tích đất thực tế khoảng 1.6ha theo giấy CNQSD đất vào sổ cấp số 170
nêu trên nhưng phía ông Th1 Nh không đồng ý nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng
vô hiệu và trả lại tiền cọc, buộc ông Th1 bà Nh chịu chi phí tố tụng theo quy định.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
trình bày: Hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/01/2022 giữa
các bên do vi phạm điều cấm của pháp luật do thời điểm thỏa thuận đang thế chấp
vay vốn tại Ngân hàng không tuân thủ về hình thức pháp luật quy định;
buộc các bên hoàn trả cho nhau những đã nhận. Xác định phía ông T chỉ thỏa
5
thuận nhận sang nhượng phần diện tích đất trồng điều phê phía dưới, phần
diện tích đất thuộc 02 sổ đất khác của ông Th1 có địa hình dốc cao và nhiều đá nên
ông T không thỏa thuận sang nhượng. Thể hiện qua ý chí của ông T ông Th1 là
khi dẫn đi xem đất thì ông Th1 chỉ xác định giáp hộ ông Minh phần dưới trồng
phê giáp hộ H1, phù hợp với vị trí giấy CNQSD đất vào sổ cấp số 170 cho
ông Th1. Phía ông Th1 cho rằng sự thỏa thuận sang nhượng hết tất cả diện tích
đất nhưng không sự chỉ ranh toàn bộ, không yêu cầu các chủ sở hữu liền kề ra
xác định ranh. Thực tế ca có sự việc bàn giao đất theo như vị trí giấy CNQSD đất
số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003
do thời điểm này vườn của ông Th1 Nh để cỏ rậm rạp, các bên ng không biết
chính xác vị trí ranh giới giấy CNQSD đất đã được cấp nên TN tạm thời giao cho
quản phần đất, rồi sẽ thực hiện việc phát cỏ để xác định ranh đo đạc cụ thể
xác định chính xác vị trí. Điều này thể hiện thêm qua việc các bên không lập
biên bản giao vị trí ranh giới thửa đất. Sau khi đo đạc phía ông Th1 cũng xác định
là diện tích đất ít cần báo cho ông T biết để cùng trao đổi. Quá trình tạm quản lý chỉ
diễn ra trong một thời gian ngắn, ông T không biết ranh nên phải nhờ qua bà H thuê
người phát cỏ xác định ranh giới đất, việc phát cỏ hết cũng như là làm thay cho ông
Th1 bà Nh. Ngoài ra thời gian này ông Th1 ng vẫn vào cùng quản lý thửa đất trên
cùng ông T Tới cà phê trong vài ngày là vẫn thể hiện quyền quản lý của ông Th1 bà
Nh đối với thửa đất.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hà Văn Th1 trình bày: Ông là chồng
của Nguyễn Thị Nh; vợ chồng ông quen biết ông Nguyễn T thị trấn ĐP từ
nhiều năm trước; chị Nguyễn Thị H vchồng ông quen biết do chị H đất gần
thửa đất vợ chồng ông.
Vợ chồng ông 01 thửa đất trồng cây điều phê tại thôn SL, PS,
tổng diện tích thực tế hiện nay khoảng 3.8ha. Do con đường đi ngang qua nên
Nhà nước cấp thành 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gm:
- Thửa đất diện tích là 21.896 m
2
, theo Giấy CNQSD đất số X 958368 vào sổ
cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003; nguồn gốc
nhận chuyển nhượng của ông Lê Huy B từ năm 2004.
- Thửa đất diện tích 4703,3 m
2
, theo Giấy CNQSD đất số BM 974383 vào sổ
cấp số CH 00418 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 17/02/2014.
- Thửa đất diện tích là 9.222,1 m
2
, theo Giấy CNQSD đất số BM 974384 vào
sổ cấp số CH 00419 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 17/02/2014.
Trên thực tế hiện nay vợ chồng quản sử dụng không còn ranh giới giữa
thửa đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 với các thửa đất khác.
Về nội dung chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông với ông T:
Trước ngày 14/01/2022, vợ chồng ông nhu cầu chuyển nhượng diện tích
đất nêu trên để lo công việc làm ăn khác, dự kiến giá chuyển nhượng
2.100.000.000đ nên để chị H đứng ra giới thiệu khách đến mua, thỏa thuận sẽ
cho chị H 2% giá trị tài sản khi sang nhượng được (tiền hoa hồng giới thiệu), chị H
đồng ý nên vợ chồng ông đưa cho chị H 01 bản photo Giấy CNQSD đất số X
6
958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003, diện
tích là 21.896m
2
.
Ngày 14/01/2022 ông T xuống nhà ông thỏa thuận nhận chuyển nhượng diện
tích đất thực tế nêu trên, giá chuyển nhượng là 1.990.000.000 đồng. Ông có nói cho
ông T biết là đất trên 01 giấy chứng nhận đang thế chấp tại Ngân hàng sổ đất số
X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003,
đồng thời đưa cho ông T 01 bản photo, n lại 02 Giấy CNQSD đất khác chưa lấy
về. Ông T nghe thông tin đưa ra thì đồng ý nhận chuyn nhượng và đặt cọc trước số
tiền 50.000.000 đồng, khi đặt cọc ông T viết 01 giấy đặt cọc, viết xong ông T giữ.
Thỏa thuận dự kiến thực hiện hợp đồng chuyển nhượng trong ngày 20/01/2021 AL
(tức ngày 20/02/2022 dương lịch).
Đến ngày 17/01/2022, vợ chồng ông cùng với ông T lên nhà chị H thỏa
thuận cụ thể thêm việc đặt cọc thực hiện việc chuyển nhượng. Cụ thể vợ chồng
ông ông T TN đông T nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông tổng diện tích
đất khoảng 38.000m
2
tại thôn SL, PS, tức gồm các thửa đất đã được cấp sổ nêu
trên với giá 1.990.000.000 đồng. Ông T đặt cọc thêm số tiền 250.000.000 đồng,
cộng với 50.000.000 đồng mấy ngày trước thành 300.000.000 đồng. Thỏa thuận 01
tháng sau sẽ thực hiện hợp đồng công chứng, ông T sẽ giao thêm số tiền
1.500.000.000 đồng, còn lại 190.000.000 đồng khi được cấp sổ sẽ giao đủ; kể từ khi
giao đủ số tiền đặt cọc thì vợ chồng ông sẽ giao đất cho ông T sử dụng chi p
thực hiện việc chuyển nhượng do vợ chồng ông chịu. Ngoài ra còn thỏa thuận thêm
nếu diện tích thực tế tăng hoặc giảm trong phạm vi 02 sào (2000m
2
) thì hai bên
vẫn cứ TN theo như hợp đồng đã giao dịch. Trường hợp tăng trên hoặc giảm trên
02 sào thì sẽ tính trừ tiền hoặc cộng thêm theo như giá đã chuyển nhượng.
Khi thỏa thuận tại nhà chị H ông T đã viết sẵn 01 giấy có nội dung Hợp đồng
mua bán đất, thời điểm thỏa thuận sang nhượng các thửa đất số BM 974383 số
BM 974384 mặc dù đã được cấp sổ từ lâu nhưng vợ chồng ông vẫn chưa liên hệ với
quan thẩm quyền để lấy về nên ông T chỉ ghi sang nhượng theo giấy chứng
nhận số X 958368 vào sổ cấp số 170 như bản photo ông đã đưa cho ông T trước đó.
Sau khi nhận đủ số tiền 300.000.000 đồng thì vchồng ông đã giao đất cho
ông T quản lý sử dụng. Trong thời gian giao thì ông vẫn vào phụ ông T tưới phê
điều khiển máy móc, do ông T không biết cách làm. Sau đó ông liên hvới
Công ty đo đạc 401 vào đo đạc hiện trạng các thửa đất của ông nêu trên để thực
hiện chuyển nhượng cho ông T. Tổng diện ch đo đạc thực tế khoảng 3.3ha. Ngày
27/01/2022 ông thực hiện việc thanh toán nợ cho Ngân ng nông nghiệp và lấy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp số 170 về.
Ngày 17/02/2022 ông ông T gặp nhau tại một quán phê gần Chi cục
Thi hành án huyện , ông đưa cho ông T 01 bản đo vẽ hiện trạng các thửa đất
02 sổ đất bản gốc số BM 974383 số BM 974384 để ông T đối chiếu. Sau khi
xem xong ông T thay đổi ý kiến không tiếp tục việc chuyển nhượng, cho rằng thiếu
diện tích rồi bỏ vnhà. Thấy ông T đi về thì ông gọi điện yêu cầu ông T đến Văn
phòng Công chứng Nguyễn Hiếu thực hiện hợp đồng nhưng ông T không đồng ý.
Mấy hôm sau ông gọi điện cho ông T biết nếu không tiếp tục thực hiện việc
chuyển nhượng thì phải viết lại “Giấy bàn giao lại rẫy” cho ông, sợ rẫy không ai
7
chăm sóc sẽ bị hỏng. Vì vậy, ngày 22/02/2022 ông cùng với ông T đến nhà chị
H để viết giấy. Tại nhà chị H ông yêu cầu ông T viết 01 giấy "Giấy bàn giao lại
rẫy" cho ông, trong đó ông có yêu cầu ông T viết lý do việc bàn giao lại đất thì ông
T viết là thiếu diện tích không như thỏa thuận ban đầu và bàn giao đất cho ông quản
lý, còn tiền đặt cọc hai bên chưa thương lượng được, giấy viết để làm căn cứ giải
quyết về sau. Sau đó vợ chồng ông đã lấy lại đất quản lý sử dụng.
Hiện nay vợ chồng ông không đồng ý việc hủy hợp đồng đặt cọc, do lỗi
không tiếp tục thực hiện hợp đồng do ông T. Trường hợp ông T tiếp tục thực
hiện hợp đồng thì phải giao thêm số tiền 1.700.000.000 đồng, do vợ chồng ông đã
bỏ thêm 10.000.000 đồng tiền phân bón. Vợ chồng ông không đồng ý trả lại số tiền
300.000.000 đồng đã đặt cọc trong trường hợp Tòa án tuyên hiệu hợp đồng, do
vợ chồng ông đã trả cho chị H 40.000.000 đồng tiền hoa hồng. Ngoài ra không yêu
cầu gì thêm.
Tại phiên tòa ông Th1 trình bày: Ông giữ nguyên lời trình bày trong quá
trình giải quyết vụ án và bổ sung thêm các nội dung:
Khi ông T vào xem rẫy để thỏa thuận sang nhượng thì ông đã dẫn ông T đi
xem ranh giới, trong đó mời hộ H1 hộ ông Tẩy A M ra chỉ ranh, còn các
hộ khác không mời do đã ranh giới cố định tiếp giáp ranh ngắn, cthể đất
giáp hộ bà T1 đã được rào bằng hàng rào kẽm gai, phía giáp ông Điểu L được ngăn
cách bởi khe cạn, phía giáp ông U tiếp giáp chỉ mấy chục mét.
Khẳng định khi thỏa thuận sang nhượng ông đã đưa ra thông tin cho ông T
biết trong diện tích đất thỏa thuận sang nhượng có bao gồm 02 sổ đất khác chưa lấy
về. Tuy nhiên, khi soạn hợp đồng đặt cọc phía ông T đã tự soạn sẵn, không thể
ghi thêm nội dung do không còn mục trống để ghi thêm nội dung. Ông cũng đề
nghị ông T viết lại giấy đặt cọc mới nhưng phía ông T không đồng ý. Do quen biết
tin tưởng nên ông không yêu cầu ông T phải viết lại giấy đặt cọc mới đầy đủ
thông tin thỏa thuận sang nhượng tất cả các sổ đất và vị trí ranh giới cụ thể thửa đất
hai bên thỏa thuận sang nhượng.
Khẳng định ông đã thực hiện đúng cam kết theo như thỏa thuận giữa hai bên.
Khi ông T viết lý do bàn giao lại đất là diện tích ít thì ng chỉ là ý chí cá nhân của
ông T, không phải ý chí của vợ chồng ông đưa ra nhưng ông vẫn đồng ý vào
giấy với mục đích là quản lý lại rẫy.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa phía ông T chỉ đồng ý tiếp tục thực hiện
sang nhượng thửa đất theo Giấy CNQSD đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy
ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003 diện tích đo đạc thực tế hiện nay
khoảng 1.6ha thì vợ chồng ông không đồng ý. ban đầu c bên đã thỏa thuận
sang nhượng hết cả 03 sổ đất, ông T đã vào nhận đất và thuê người phát cỏ. Trường
hợp chỉ sang nhượng 01 sổ đất theo ý kiến phía ông T thì vợ chồng ông cũng khó
khăn trong việc sang nhượng 02 sổ đất còn lại cho người khác do đất địa hình
dốc và nhiều đá. Vợ chồng ông muốn bán hết một lần để có vốn làm công việc khác
thuận tiện hơn.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Nh trình bày:
8
Bà là vợ của ông n Th1. Bà đồng ý theo tất cả ý kiến ông Th1 đã tnh
y, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T. Ngoài ra không trình bày thêm.
Nời làm chứng bà Nguyễn ThH quá trình giải quyết ván tnh bày:
quen biết với vợ chồng ông Th1 bà Nh chỉ quen biết ông T trong đầu
năm 2022. Xác nhận được ông Th1 nhờ giới thiệu khách đến mua đất, thông tin ông
Th1 đưa ra là 38.000m
2
, gồm 01 sổ diện tích hơn 20.000m
2
và 02 sổ khác nữa.
Sau khi giới thiệu thông tin, ông T gọi điện cho để đi xem đất, nhưng bận
việc nên nhờ người khác dẫn đi xem. Khi xem đất ông T gặp Nh người quen
biết nên ông T tự xuống nông Th1 thỏa thuận sang nhượng đặt cọc. Tuy
nhiên, sau khi đặt cọc bà Nh gọi điện cho nói với ông T đặt cọc thêm số tiền
250.000.000 đồng. Ngày 17/01/2022 tại nhà bà có mặt ông T và vợ chồng ông Th1,
ông T đặt cọc thêm số tiền 250.000.000 đồng. lấy ra mẫu hợp đồng đặt cọc để
ghi nội dung nhưng ông T đã tự viết sẵn nội dung hợp đồng đặt cọc nhưng chưa
nội dung ghi về diện tích tăng thêm hoặc giảm. Bà nghe ông T nói rằng nếu diện tích
ng thêm thì cộng thêm tiền, nếu diện tích ít hơn thì trừ ra. Sau khi nói ông T ghi nội
dung này vào cuối mục giấy ngày 17/01/2022. Khẳng định ông T không đưa ra thông
tin nếu ít hơn diện tích so với sổ thì không sang nhượng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm s 65/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của
Tòa án nhân dân huyện , tỉnh Bình Phước quyết định:
Chấp nhận yêu cu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyn T đối vi bị đơn
ông n Th1 ni quyn lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyn ThNh.
Tuyên bhợp đồng đặt cọc (giấy tiêu đề Hợp đồng mua bán đất) ngày
17/01/2022 giữa ông Hà Văn Th1 với ông NguyễnT vô hiệu.
Buộc vợ chồng ông Hà n Th1 Nguyễn ThNh nga vụ liên đới trả lại
cho ông Nguyễn Bá T số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án thẩm n quyết định về án phí, chi phí ttụng, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 10/10/2022, bị đơn kháng o Bản án thẩm,
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Ngày 11 tháng 10 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện ,
tỉnh Bình Phước ban nh Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐ-VKS-DS
kháng nghị Bản án dân sự số 65/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện , đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử theo hướng
bác tn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ngun đơn có đơn xint xử vắng mặt. Nên các đương sự kng tự tha thuận
được với nhau vviệc giải quyết ván, bđơn gi nguyên nội dung kháng o.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
9
Rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐ-VKS-DS ngày 11
tháng 10 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện , tỉnh Bình
Phước.
Về tố tụng: Kể từ thời điểm thụ giải quyết ván tại cấp phúc thẩm đến
nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử các đương sự chấp hành đúng
quy định ca Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, Giữ nguyên Bản án thẩm số 65/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện , tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Hà Văn Th1, Kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân huyện , tỉnh Bình Phước làm trong thời hạn luật định,
thực hiện đúng quyền và hình thức, nội dung phợp với quy định tại các Điều
271, 272, 273, 278, 279 và 280 Bộ luật TTDS nên hợp lệ, được xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[2] Xét việc rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐ-VKS-
DS Ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện
, tỉnh nh Phước theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Do vậy, cần
chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu này.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn thấy rằng:
Căn cứ quá trình giải quyết vụ án thì các bên đương sự đều tự nguyện:
Ngày 14/01/2022 có thỏa thuận về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa
lạc tại thôn SL, PS, huyện , tỉnh Bình Phước đến ngày 17/01/2022 thì làm
giấy đặt cọc, giá chuyển nhượng 1.990.000.000đồng ông Th1 đã nhận tiền cọc
300.000.000đồng và hẹn một tháng kể từ ngày viết giấy ông Th1 ra văn phòng công
chứng làm thủ tục sang nhượng, sau khi làm thủ tục sang nhượng thì ông T đưa cho
ông Th1 1.500.000.000 đồng số tiền còn lại sẽ giao hết khi ông T nhận được giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Khi nhận đủ tiền cọc 300.000.000đồng thì ông Th1 giao đất cho ông T
quản sau khi kiểm tra việc đo đạt thì các bên không TN diện tích theo thỏa
thuận nên ngày 22/2/2022 ông Th1 yêu cầu ông T viết "Giấy bàn giao lại rẫy" với
do việc bàn giao lại đất không như thỏa thuận ban đầu còn tiền đặt cọc hai bên
chưa thương lượng được, giấy viết để làm căn cứ giải quyết vsau. Sau đó vợ
chồng ông đã lấy lại đất quản lý sử dụng.
[3.1] Ông Th1 cho rằng khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông dẫn
ông T, bà H (người môi giới) đi xem diện ch đất sang nhượng có đưa thông tin
về diện tích sang nhượng và chỉ ranh giới đất cho ông T biết nên việc ông T không
tiếp tục nhận chuyển nhượng lỗi của ông T, do đó ông T phải mất số tiền đã đặt
cọc là 300.000.000 đồng.
[3.2] Ông T xác định khi thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
ông Th1 nhờ Nguyễn Thị H đứng ra giới thiệu đưa cho H 01 bản photo
Giấy CNQSD đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện
10
cấp ngày 08/9/2003 cho ông Huy B, chỉnh chuyển nhượng cho ông Văn
Th1 ngày 07/5/2004 đồng thời ông Th1 đưa ra thông tin với H diện tích đất thực
tế khoảng 38.000m
2
, thông tin này cũng được ông Th1 nói với ông T khi ông T
xuống nhà thương lượng và ông Th1 cũng đưa cho ông T 01 bản photo Giấy
CNQSD đất số đất X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp
ngày 08/9/2003 nêu trên.
[3.3] Đối chiếu với nội dung các giấy hợp đồng đặt cọc ngày 14/01/2022 và
ngày 17/01/2022 (BL: 62; 64) do ông T viết được ông Th1 thừa nhận cũng như giấy
bàn giao lại rẫy cho ông Th1 ngày 22/2/2022 (BL: 63) thì ông T chỉ nhận chuyển
nhượng của ông Hà Văn Th1 một diện tích đất khoảng 38.000m
2
tại thôn SLPS,
huyện , tỉnh Bình Phước, số sổ 170 cấp ngày 08/9/2003 (tức Giấy CNQSD
đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày
08/9/2003 cho ông Huy B, sau này chuyển nhượng cho ông Th1 ngày
07/5/2004) tài sản trên đất cây điều phê đã được thu hoạch, gsang
nhượng 1.990.000.000 đồng trong thời hạn 01 tháng kể t ngày viết giấy
17/01/2022 ông Th1 có nghĩa vụ ra văn phòng công chứng làm thủ tục sang nhượng
cho ông T theo quy định; khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng phía ông T
nghĩa vụ đưa cho ông Th1 số tiền 1.500.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ giao hết
khi ông T được cấp sổ; ông Th1 nghĩa vụ chịu chi phí sang nhượng. Ngoài ra
các bên n thỏa thuận kể từ ngày đặt cọc đủ số tiền 300.000.000 đồng thì phía ông
Th1 bàn giao đất cho ông T quản lý. Trường hợp diện tích tăng lên hoặc giảm
xuống thì tính theo gchênh lệch phạt cọc nếu một trong c bên không thực
hiện đúng theo thỏa thuận, điều này chứng minh thời điểm giao dịch các bên không
biết chính xác diện tích đất thực tế bao nhiêu nên mới có việc thỏa thuận đo đạc
lại để xác định diện tích cụ thể khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. Do vậy, lời trình bày của ông T là có căn cứ.
[3.4] Tại phiên phúc thẩm ngày 04/4/2023 vợ chồng ông Th1, Nh cho
rằng ngoài thửa đất thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 14/01/2022 ngày
17/01/2022 (BL: 62; 64) thì các bên còn thỏa thuận việc sang nhượng cả 02 thửa
đất khác của bị đơn nhưng do chưa lấy giấy CNQSD đất tại cơ quan có thẩm quyền
về nên không ghi trong hợp đồng. Các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói nếu diện tích
tăng lên hoặc giảm xuống trong phạm vi 2000m
2
thì không tính tiền, n nếu tăng
hoặc giảm vượt quá thì sẽ tính tiền; sau khi kết quả đo vẽ thực tế đưa cho
nguyên đơn xem (bản photo) thì nguyên đơn tự ý đưa ra ý kiến không tiếp tục thực
hiện chuyển nhượng nên hai bên tự nguyện bàn giao lại đất rẫy, việc bàn giao
viết lý do là đất ít nên không thỏa thuận được đây là ý chí của nguyên đơn, còn tiền
đặt cọc tiếp tục thỏa thuận giải quyết, do không thỏa thuận được nên nguyên đơn
khởi kiện như hiện nay. Ngoài ra, khi Tòa án thụ lý các bên còn tranh chấp về việc
nguyên đơn chỉ đồng ý tiếp tục sang nhượng diện ch thửa đất đã được cấp giấy
CNQSD đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp
ngày 08/9/2003 cho ông Huy Ba, sau này chuyển nhượng cho ông Th1 ngày
07/5/2004 không đúng ý chí thỏa thuận ban đầu nên phía ông Th1 không đồng ý
chỉ đồng ý sang nhượng đất theo hợp đồng đặt cọc đã viết và thỏa thuận
thêm diện tích tăng, giảm đối với hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ghi
11
vào hợp đồng đặt cọc. Để chứng minh cho lời trình bày này Hội đồng xét xử đã tạm
ngừng phiên tòa ấn định thời gian để vợ chồng ông Th1, Nh cung cấp USB
chứng minh việc thỏa thuận giữa ông T với vợ chồng ông Th1, Nh nhưng đến
phiên tòa hôm nay (ngày 26/4/2023) vchồng ông Th1 vẫn không cung cấp nên
không có căn cứ để xem xét.
Mặt khác, bị đơn ông Văn Th1 người làm chứng Nguyễn Thị H cho
rằng đã cung cấp thông tin cho nguyên đơn biết diện tích đất quản lý sử dụng có 03
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó 01 giấy đang thế chấp tại Ngân
hàng (giấy CNQSD đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện
cấp ngày 08/9/2003 cho ông Huy Ba, sau này chuyển nhượng cho ông Th1
ngày 07/5/2004), còn 02 giấy chưa lấy về và cho rằng diện tích đất khoảng
38.000m
2
đã bao gồm 02 quyền sử dụng đất nêu trên. Hội đồng xét xử thấy: lời
trình bày của bị đơn người làm chứng không được ông Tứ thừa nhận bị đơn,
người làm chứng ng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã cung
cấp đầy đủ thông tin cho ông Tứ.
Hơn nữa, theo đồ đo vẽ ngày 08/6/2022 của Công ty đo đạc phương Nam
(BL 56) thể hiện diện tích đất hiện nay ông Th1 Nh quản sử dụng 33.433,1
m
2
ranh giới phía Đông giáp hộ ông Tẩy A Minh, phía Tây giáp Hải, ông U,
Điểu L; phía Bắc giáp suối; phía Nam giáp T1. Trong khi đó Giấy CNQSD đất
số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2003
diện tích theo đồ giải thửa mới 16.570,7 m
2
(tức ít hơn so với thông tin
phía ông Th1 đã đưa ra ban đầu khoảng 38.000m
2
) tứ cận chỉ giáp ông M,
T1. theo sơ đồ đo vẽ ngày 08/6/2022 với biên bản thẩm định ngày 08/6/2022 (BL:
51, 52, 53) thì chỉ hộ T1 được ngăn cách bởi hàng rào bằng cột tông +
kẽm gai, còn các hộ dân khác không cột mốc ranh giới cụ thể chính xác, Hơn
nữa đồ còn thể hiện trong tổng diện tích đất 33.433,1 m
2
phía ông Th1, Nh
hiện nay đang sử dụng có một phần diện tích đã được cấp giấy CNQSD đất cho ông
Điểu L chưa được xác định rỏ ràng.
[3.5] Từ những tài liệu chứng cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử
sở xác định ông Nguyễn T chỉ đặt cọc thỏa thuận nhận chuyển nhượng thửa
đất số theo Giấy CNQSD đất số X 958368 vào sổ cấp số 170 do Ủy ban nhân dân
huyện cấp ngày 08/9/2003 mang tên ông Huy B, được điều chỉnh sang
nhượng cho ông Th1 ngày 07/5/2004, diện tích đo đạc thực tế hiện nay
16.570,7m
2
. Vì vậy, thông tin bị đơn đưa ra để giao kết hợp đồng là sự gian dối,
không trung thực nên lỗi không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất
của vợ chồng ông Th1, Nh. Hơn nữa, khi các bên giao kết hợp đồng đặt cọc
thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 958368 đang thế chấp ngân hàng.
vậy, nguyên đơn khởi kiện sở, Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật.
[4] Ván phí thẩm chi phí tố tụng do giữ nguyên Bản án thẩm nên
bị đơn phải chịu.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp
nhận nên bị đơn ông Hà Văn Th1 phải chịu.
12
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn ckhoản 1, khon 5 Điu 308; đim b khon 1 Điu 289 Bộ luật Tố tngn
sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban tH vụ
Quc hi quy đnh về mức thu, miễn, giảm, thu np, qun lý và s dng án phí và l phí
Tòa án.
Chp nhận vic rút tn bộ Quyết đnh kháng ngh phúc thẩm s: 01/QĐ-VKS-DS
ngày 11 tng 10 năm 2022 của Vin tng Vin kiểm t nhân dân huyện , tnh
Bình Phước đình chỉ xét x phúc thm.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Văn Th1. Giữ nguyên Bản
án n sự thẩm số 65/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân
dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
Căn c vào các Điu 147, 148 Điu 157, Điu 266, Điu 273 B lut T tng dân s;
Áp dụng các Điều 127, Điều 131, Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
1. Chấp nhn u cu khi kiện của ngun đơn ông Nguyn T đối vi bị đơn
ông n Th1 và nời quyn lợi, nga v liên quan Nguyn Th Nh.
Tuyên bhợp đồng đặt cọc (giấy tiêu đề Hợp đồng mua bán đất) ngày
17/01/2022 giữa ông Hà Văn Th1 với ông NguyễnT vô hiệu.
Buộc vợ chồng ông Hà Văn Th1 bà Nguyn Thị Nh nghĩa vụ ln đới tr lại
cho ông Nguyn T số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng (Ba trăm triu đồng).
2. Về án phí: Buộc vợ chồng ông Văn Th1 Nguyễn Thị Nh phải liên
đới chịu 15.000.000 (Mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng : Buộc vợ chồng ông Văn Th1 Nguyễn Thị Nh liên
đới hoàn trả lại cho ông Nguyễn T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu
đồng).
Chi cục Thi hành án dân sự huyện hoàn trả lại cho ông Nguyễn T số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.800.000 (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000323 ngày 07/3/2022 của Chi cục thi hành án dân
sự huyện , tỉnh Bình Phước.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận
nên ông Hà Văn Th1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu
tiền tạm ứng án phí s0000646 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện .
Chi phí tố tụng: Chi phí xác minh thẩm định 6.000.000 đồng nguyên đơn
phải chịu (đã nộp xong).
13
Các phần khác của Bản án thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện
kiểm sát hai cấp không kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Phước;
- TAND huyện ;
- Chi cục THADS huyện ;
- Các đương sự;
- Cổng TTĐT TAND tối cao;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Viết Hùng
Tải về
Bản án số 64/2023/DSPT Bản án số 64/2023/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất