Bản án số 64/2020/DS-PT ngày 17/06/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và bồi thường thiệt hại tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 64/2020/DS-PT ngày 17/06/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và bồi thường thiệt hại tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sóc Trăng
Số hiệu: 64/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà M và căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 55A/2019/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
TỈNH SÓC TRĂNG Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
Bản án số: 64/2020/DS-PT
Ngày: 17 - 6 - 2020
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Anh.
Các Thẩm phán: Bà Tăng Thị Thúy Nga.
Ông Nguyễn Thành Hữu.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Nguyễn Thị Thanh
Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 19/5/2020 17/6/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc
Trăng xét xử phúc thẩm công khai ván thụ số: 24/2020/TLPT-DS ngày 14 tháng
01 năm 2020, về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bồi
thường thiệt hại về tài sản.
Do bản án dân sự thẩm số 55A/2019/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2020/QĐ-PT ngày 11
tháng 02 năm 2020, Thông báo dời phiên tòa phúc thẩm số 345/2020/TB-TA ngày 03
tháng 3 năm 2020, Thông báo dời phiên tòa phúc thẩm số 533/2020/TB-TA ngày 23
tháng 3 năm 2020, Thông báo dời phiên tòa phúc thẩm số 692/2020/TB-TA ngày 20
tháng 4 năm 2020 Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 26/2020/QĐPT-
DS ngày 19 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: M. Địa chỉ: ấp A1, B1, huyện C1, tỉnh Sóc Trăng. (có
mặt)
2. Bị đơn: N. Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của N: N2. Địa chỉ: Ấp A2, B, huyện C,
tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 24/02/2016). (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà N2. Địa chỉ: Ấp A2, xã B, huyện Châ Thành, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
2
3.2. Bà N3. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3.3. Ông N4. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3.4. Bà N5. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3.5. Ông N6. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của N3, ông N4, N5, ông N6: N2. Địa chỉ:
Ấp A2, B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 21/3/2017). (có
mặt)
3.6. Ông M1. Địa chỉ: ấp A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
3.7. Ông T. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông T: Bà T1. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh
Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2020). (có mặt tại phiên tòa ngày
19/5/2020, vắng mặt tại phiên tòa ngày 17/6/2020)
3.8. Bà T1. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt tại phiên tòa
ngày 19/5/2020, vắng mặt tại phiên tòa ngày 17/6/2020)
Người kháng o: M là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án thẩm các tài liệu, chứng cứ có trong hồ ván, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn M trình bày: Vào năm 2011, vợ chồng bà N và ông N1 cố
đất ruộng cho bà 02 công 10 tầm (tầm 3m) tại thửa số 106, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại
ấp A3, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng với giá 35 chvàng 24K, thời hạn cố đất 03
năm.
Năm 2012, ông N1 bệnh nặng bà N sang nhượng phần đất trên cho bà với giá
14 chỉ vàng 24K/công (tầm 3m), đã giao cho N 38 chỉ vàng 24K, làm biên
nhận tại Ban nhân n ấp A3, N hứa sẽ đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(giấy CNQSD đất) cho bà đi làm thủ tục sang tên, bà N cứ hẹn nhưng không đưa giấy
CNQSD đất cho được với do ông N1 bệnh nặng, N phải chăm c, không đi
chuộc giấy CNQSD đất được.
Ngày 20/12/2014, gửi đơn yêu cầu hòa giải đến Ban nhân dân ấp thì
được Trưởng Ban nhân dân ấp trả lời N không mặt địa phương nên không
tiến hành hòa giải được. Ngày 13/12/2015, tiếp tục gửi đơn yêu cầu hòa giải đến
Ban nhân dân ấp thì N đòi chuộc lại đất, không đồng ý với do đã lắp đường
nước rồi đã hợp đồng cho thuê 03 m, nếu sai phải bồi thường gấp 03
lần.
Ngày 12/01/2016, bà N ng con, rể và thuê nhiều người khác mang theo hung
khí để lắp đường nước trước đây đã cố, sang nhượng cho bà. Sau đó, o
Công an B nhưng không ngăn cản được. Sau khi N lắp đường thoát nước lại,
nước ngập sâu lúa bchết, đến Ủy ban nhân dân B yêu cầu giải quyết khai
3
thông đường nước để cứu lúa nhưng N không thực hiện, phải thuê người tháo
dỡ làm được một vụ. Đến vụ 2, ngày 20/4/2016 bên N tiếp tục đắp lại, cho người
giữ, cấm không cho bơm nước cho đến nay. Bà phải thuê đường nước ruộng bên cạnh
để làm ruộng, đồng thời phải bồi thường cho ông T người thuê ruộng các khoản
tiền sau: Tiền lúa giống 500kg x 8.500đ/kg = 4.250.000đồng; Tiền mướn đường nước
06 vụ: 6.000.000đồng; Tiền mua bọng: 2.400.000đồng; Tiền thuê 02 người tháo dỡ:
240.000đồng; Tiền thuê 03 người đặt bọng: 360.000đồng; Tiền mua mạ:
2.000.000đồng; Tiền cấy dặm 60 ngày ng: 6.000.000đồng. Tổng cộng
21.250.000đồng.
Nay M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc N tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ mua đất ngày 25/12/2012 bồi thường
thiệt hại do lúa bị chết là 21.250.000đồng.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N2 (đồng thời người đại diện
hợp pháp của bị đơn bà N, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan N3, ông N4,
N5 ông N6) trình bày: Vào năm 2011, vợ chồng N ông N1 ccho bà M
diện tích đất 02 công 10 tầm (tầm 3m) tại thửa số 106, tờ bản đsố 04, tọa lạc tại ấp
A3, B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng với giá 35 chỉ vàng 24K, thời hạn cố là 03 năm từ
ngày 04/4/2011 đến ngày 04/4/2014. Sau khi cđất, vợ chồng N giao đất cho
M canh tác. Đến năm 2012, bà N có mượn thêm của bà M 02 chỉ vàng 24K. Do bà M
ý định nhận sang nhượng đất của N nên N nói sang nhượng giá 17 chỉ vàng
24K/công tính luôn phần diện tích đất giáp bờ kinh, M chỉ đồng ý nhận sang
nhượng g14 chỉ vàng 24K/công nhưng không tính phần đất giáp bờ kinh, do đó
thỏa thuận sang nhượng đất không thành. Năm 2013, N mượn thêm của M
01 chỉ vàng 24K. Tổng cộng, phía bà N đã nhận của bà M 38 chỉ vàng 24K.
Năm 2014, hết thời hạn cố đất. Đến năm 2015, bà N xin bà M cho chuộc lại
đất nhưng M không đồng ý, M yêu cầu N tiếp tục thực hiện hợp đồng sang
nhượng đất thì bà N không đồng ý. Còn việc N hợp đồng sang nhượng đất với
M không cho ông N1 các con N2, N3, ông N4, N5 ông N6
biết.
Đối với việc bà M yêu cầu bà N bồi thường thiệt hại do lúa bị chết là
21.250.000đồng, N không đồng ý thời hạn cố đất đã hết, phần đất đường nước
bờ kênh không nằm trong phần cố, do gia đình bà đào. Khi xảy ra tranh chấp ngày
22/01/2016, ông T canh tác phần đất trên, đến Ủy ban nhân dân xã B làm cam kết
xin mở lại đường nước trong thời gian 01 vụ lúa, để thời gian tìm đường nước
mới.
Nay bà N phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà M và bà N theo Tờ mua đất ngày 25/12/2012 đối với thửa
số 106, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp A3, B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. N đồng
ý trả lại 38 chỉ vàng 24K cho bà M.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M1 trình bày: Ông thống nhất
theo lời trình bày của bà M.
4
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T trình bày: Ông thống nhất theo
lời trình bày của bà M, bà M có thuê đường nước bên cạnh để làm ruộng, bà M có bồi
thường cho ông các khoản sau: Tiền lúa giống 500kg x 8.500đ/kg = 4.250.000đồng;
Tiền mướn đường nước 06 vụ: 6.000.000đồng; Tiền mua bọng: 2.400.000đồng; Tiền
thuê 02 người tháo dỡ: 240.000đồng; Tiền thuê 03 người đặt bọng: 360.000đồng;
Tiền mua mạ: 2.000.000đồng; Tiền cấy dặm 60 ngày công: 6.000.000đồng. Tổng
cộng 21.250.000đồng. Ông đến Ủy ban nhân dân B xin mlại đường nước,
bị thiệt hại vụ lúa đầu nên được Ủy ban nhân dân xã B cho mở lại đường nước 01
vụ, vụ sau đắp lại nhưng ông không đắp. Hiện nay chưa mở đường nước mới, đường
nước đó đã đắp lại rồi.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan T1 trình bày: thống nhất với
lời trình bày của ông T.
Sự việc được Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại
bản án thẩm số 55A/2019/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019 quyết định sửa
chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 28/2019/QĐ-SCBSBA ngày 16 tháng 12 năm 2019
đã áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
122, Điều 124, Điều 127, Điều 128, Điều 134, Điều 137, Điều 697, Điều 698, Điều
699, Điều 700, Điều 701, Điều 702, Điều 604, Điều 605, Điều 608 Bộ luật dân sự
năm 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 127, khoản 1
Điều 136 Luật đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn phản tố của N về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa M N theo Tờ mua đất ngày 25/12/2012.
Tuyên bố giao dịch dân sự về việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
“Tờ mua đất” ngày 25/12/2012, giữa M với N hiệu. Buộc M, ông M1
giao trả lại thửa đất số 106, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp A3, B, huyện C, tỉnh
Sóc Trăng cho N, N2, N3, ông N4, N5, ông N6 (tuyên số đo, tứ cận
đất kèm theo). Buộc N, bà N2, N3, ông N4, N5, ông N6 giao trả lại cho
M, ông M1 38 chỉ vàng 24K (Ba mươi tám chỉ vàng 24K). Không chấp nhận đơn khởi
kiện của M yêu cầu a án giải quyết buộc N tiếp tục thực hiện hợp đồng tờ
mua đất ngày 25/12/2012 bồi thường thiệt hại do lúa bị ngập nước chết
21.250.000đồng. Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí
thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 05/12/2019, nguyên đơn bà M có đơn kháng cáo bản án nêu trên, yêu cầu
cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng sửa bản án thẩm: Chấp nhận đơn
khởi kiện của bà M về việc yêu cầu bà N tiếp tục thực hiện hợp đồng theo Tờ mua đất
ngày 25/12/2012 và bồi thường thiệt hại do lúa bị ngập nước chết là 21.250.000đồng;
Không chấp nhận đơn phản tố của N về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bà M và bà N theo Tờ mua đất ngày 25/12/2012; Yêu
cầu bà N phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm để đối chất và chất vấn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn M không rút lại đơn khởi kiện vẫn
giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo; người đại diện hợp pháp của bị đơn N không
5
rút lại đơn phản tố; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về
tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố
tụng của những người tiến hành tố tụng những người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm. Về nội dung
vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà M,
căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm
theo hướng buộc phía N trả cho phía M 38 chỉ vàng 24K quy đổi ra thành tiền
tại thời điểm xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, được thẩm tra các chứng
cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu đề nghị của Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo
là đúng theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
n kháng cáo của nguyên đơn bà M là hợp lệ và đúng theo luật định.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn N những người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà N3, ông N4, bà N5, ông N6, ông T vắng mặt nhưng có người đại diện
tham gia phiên tòa; việc vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do
vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến
hành xét xử vụ án.
[3] Xét các nội dung kháng cáo của bà M về việc yêu cầu bà N bồi thường thiệt
hại do lúa bị ngập nước chết là 21.250.000đồng và yêu cầu bà N phải có mặt tại phiên
tòa phúc thẩm để đối chất chất vấn, thấy rằng: M khởi kiện yêu cầu N bồi
thường thiệt hại do lúa bị ngập nước chết 21.250.000đồng, nhưng trong suốt quá
trình giải quyết vụ án M không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào để chứng
minh cho yêu cầu của mình. vậy, việc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện này của M có căn cứ, đúng pháp luật. Còn về việc N vắng mặt
tại phiên tòa phúc thẩm thì đó là quyền của bà N, vì người đại diện của bà N bà N2
đã có mặt quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của
N trong vụ án này thay cho N, nên việc bà M yêu cầu N phải mặt tại phiên
tòa phúc thẩm để đối chất và chất vấn là không có căn cứ. Từ đó, các nội dung kháng
cáo của M về việc yêu cầu N bồi thường thiệt hại do lúa bị ngập nước chết
21.250.000đồng yêu cầu N phải mặt tại phiên tòa phúc thẩm để đối chất
chất vấn là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét nội dung kháng cáo của M về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất giữa N M theo nội dung Tờ mua đất ngày
25/12/2012”, thấy rằng: Theo giấy CNQSD đất số 00234 ngày 01/9/1997 của Ủy ban
nhân dân huyện D thể hiện phần đất diện tích 5.700m
2
tại thửa số 106, tờ bản đồ số
04, tọa lạc tại ấp A3, B, huyện D (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng được cấp cho
6
hộ ông N1. Tuy nhiên, việc cấp giấy cho hộ ông N1 đây do quan thẩm
quyền cấp giấy viết theo mẫu giấy CNQSD đất do Tổng cục Quản ruộng đất phát
hành, sử dụng chung theo quy định tại Quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989
của Tổng cục Quản lý ruộng đất, còn về nguồn gốc đất thì theo sthừa nhận của vợ
con ông N1 (gồm N, N2, N3, ông N4, N5, ông N6) thửa đất số 106 tài
sản của cha mẹ ông N1 tặng cho vợ chồng ông N1, bà N, không phải tài sản có nguồn
gốc từ việc Nnước thực hiện chính sách trang trãi đất đai cấp cho hộ gia đình ông
N1. Việc Tòa án cấp thẩm chỉ căn cứ vào việc giấy CNQSD đất ghi là cấp cho hộ
ông N1 đxác định thửa đất số 106 i sản chung của hông N1 gồm vchồng
ông N1, bà N cùng 05 người con nêu trên mà không tiến hành xác minh, làm về
nguồn gốc đất là không có căn cứ. Từ đó, Hội đồng xét xử xác định thửa đất số 106
tài sản chung của vợ chồng ông N1, bà N.
[5] Do thửa đất số 106 là tài sản chung của vợ chồng ông N1, bà N nên việc
N tự mình đứng ra chuyển nhượng cho M mà không sự thỏa thuận hay đồng ý
của ông N1 vi phạm các quy định tại các Điều 219, 223 Bộ luật Dân sự năm 2005
các Điều 27, 28 Luật n nhân Gia đình năm 2000 về việc định đoạt tài sản
chung của vợ chồng, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của ông N1. Về vấn đề
này, M cũng thừa nhận tại thời điểm N M hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất thì bà M biết thửa đất số 106 là tài sản chung của vợ chồng ông N1, bà N;
M cho rằng việc chuyển nhượng ông N1 biết và đồng ý nhưng do khi đó ông N1
đang bbệnh nặng nên không giấy tờ chuyển nhượng đất được, tuy nhiên đây chỉ
lời trình bày từ một phía của M chứ không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ý
chí của ông N1 đồng ý với việc N chuyển nhượng đất cho M. Hơn nữa, tại thời
điểm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thì giấy CNQSD đất số 00234 ngày
01/9/1997 (trong đó có thửa đất số 106) nêu trên đang được ông N1 thế chấp để đảm
bảo cho khoản vay nợ tại Quỹ tín dụng nhân dân X (theo Thông o số 01/VB-2020
ngày 22/5/2020 của Quỹ tín dụng nhân dân X), nên dù cho ông N1 có đồng ý với việc
chuyển nhượng đất thì cũng vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản theo quy
định tại khoản 4 Điều 348 Bộ luật Dân sự năm 2005. Đồng thời, tuy Tờ mua đất
ngày 25/12/2012 xác nhận của Trưởng Ban nhân dân ấp A3 nhưng đây chỉ
hình thức giấy tay, không thực hiện đúng theo quy định về hình thức của hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất là phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng
thực của y ban nhân dân cấp xã nơi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật
Đất đai năm 2003. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa N M đã
bị hiệu theo quy định tại các Điều 128, 134 Bộ luật Dân sự năm 2005, nên việc
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật. Với việc
hợp đồng vừa hiệu về mặt nội dung (do vi phạm điều cấm của pháp luật) vừa vô
hiệu về mặt hình thức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại ra quyết định buộc các bên thực
hiện hình thức của hợp đồng theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005
không đúng, việc buộc thực hiện hình thức của hợp đồng chỉ áp dụng trong trường
hợp hợp đồng tuân thđúng về mặt nội dung nhưng chưa tuân thủ đúng về mặt hình
thức. Xét thấy, sai sót này không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án nên Hội
đồng xét xử chỉ nêu lên để Tòa án cấp thẩm t kinh nghiệm. Từ đó, nội dung
kháng cáo của bà M về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
7
QSD đất giữa N M theo nội dung Tờ mua đất ngày 25/12/2012không
có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Do hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa N M theo nội dung
Tờ mua đất ngày 25/12/2012đã bị hiệu, nên việc xử hậu quả hợp đồng
hiệu được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005
hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP
ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[7] Về lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu: Tòa án cấp thẩm xác định mức độ lỗi
của N M ngang nhau, mỗi bên 50% không hợp lý. Về lỗi của N: Tại
thời điểm chuyển nhượng đất, N nói với M rằng việc N chuyển nhượng đất
cho M nhằm mục đích lấy tiền điều trị bệnh cho ông N1 ông N1 cũng đã
đồng ý với việc chuyển nhượng, nhưng do ông N1 đang bị bệnh nặng không ký được
nên bà N đại diện ký Tờ mua đất ngày 25/12/2012”, có Trưởng Ban nhân dân p A3
xác nhận; N cũng hứa hẹn sẽ giao giấy CNQSD đất cho bà M đi làm thtục sang
tên; tuy nhiên, hiện nay N lại cho rằng việc chuyển nhượng đất do N tự đứng ra
thực hiện mà không có sự đồng ý của ông N1; giấy CNQSD đất tại thời điểm đó cũng
đang thế chấp vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân X nhưng N không thông báo
thông tin này cho M biết; hợp đồng chuyển nhượng QSD đất N đã không thực
hiện theo đúng hình thức pháp luật quy định. Về lỗi của M: Do trước khi thỏa
thuận chuyển nhượng đất tgiữa vợ chồng ông N1, N với M đã có thỏa thuận
cầm cố đất, nên M tin tưởng N mà đã đồng ý với việc N tự đứng ra
chuyển nhượng đất không văn bản thể hiện sự thỏa thuận hay đồng ý của ông
N1, trong khi M cũng thừa nhận tại thời điểm đó nghe địa chính nói việc
chuyển nhượng thửa đất số 106 cần phải sự đồng ý của ông N1; bà M cũng không
yêu cầu N xuất trình bản chính giấy chứng nhận QSD đất; hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất M đã không thực hiện theo đúng hình thức pháp luật quy
định. Từ đó cho thấy, M một phần do tin tưởng N một phần do muốn giúp
đỡ cho gia đình N trong việc có chi phí điều trị bệnh cho ông N1 mà đã chấp nhận
việc chuyển nhượng đất, còn N thì đã lợi dụng sự tin tưởng giúp đỡ của M
để cung cấp các thông tin gian dối nhằm mục đích để cho M đồng ý xác lập việc
chuyển nhượng đất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu
của bà N là nhiều hơn bà M mức độ lỗi tương ứng với tỷ lệ bà N 70%, bà M 30%.
[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xác định thiệt hại: Giá trị thửa đất số
106 tại thời điểm chuyển nhượng theo nội dung Tờ mua đất ngày 25/12/201214
chỉ vàng 24K/công tầm (3m) tương đương 1.296m
2
; Giá trị thửa đất số 106 theo giá
chuyển nhượng trên thị trường tại địa phương hiện nay (theo Biên bản xác minh ngày
22/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng) là khoảng 55.000.000đồng/công tầm
(3m), tức là khoảng 11,4 chvàng 24K/công tầm (3m). Như vậy, giá trị thửa đất số
106 hiện nay thấp hơn giá trị tại thời điểm chuyển nhượng dẫn đến việc không
thiệt hại (do chênh lệch giá trị đất) xảy ra, cho nên mặc N lỗi dẫn đến hợp
đồng hiệu nhiều hơn bà M như đã phân tích nêu trên thì cũng không n cứ để
buộc bà N phải bồi thường thiệt hi cho M.
8
[9] vậy, khi xử hậu quả hợp đồng chuyển nhượng QSD đất hiệu, Tòa
án cấp thẩm chỉ buộc phía N trả stiền chuyển nhượng đất là 38 chỉ vàng 24K
cho phía M buộc phía M trả lại đất cho phía N không đặt ra vấn đề
bồi thường thiệt hại là có căn cứ, đúng pháp luật.
[10] Việc chuyển nhượng đất chỉ do bà N tự đứng ra thực hiện với bà N, không
tài liệu, chứng cứ nào thể hiện 05 người con của ông N1, N N2, bà N3,
ông N4, N5, ông N6 đồng ý với việc chuyển nhượng, nhưng Tòa án cấp thẩm
lại tuyên buộc họ cùng nghĩa vụ giao trả 38 chvàng 24K cho M, ông M1
chưa chính xác, nếu tuyên buộc trả thì cũng chỉ căn cứ để tuyên buộc họ trả 35
chỉ vàng 24K vàng cố đất ông N1, N đã nhận trước đây còn 03 chỉ vàng 24K
N nhận thêm sau đó trách nhiệm của riêng N. Về vấn đề này, tại phiên
tòa phúc thẩm N2 là người đại diện hợp pháp của N cùng các người con khác
của ông N1 cũng đồng ý trả toàn bộ 38 chỉ vàng 24K cho phía bà M để được nhận lại
phần đất hương hỏa của gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này
của gia đình bà N và không sửa án thẩm về vấn đề này.
[11] Tuy nhiên, việc Tòa án cấp thẩm tuyên buộc phía N trả cho phía
M 38 chỉ vàng 24K nhưng không quy đổi ra thành tiền theo giá vàng tại thời điểm xét
xử không đúng, do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Hội đồng xét xử
xét thấy cần phải buộc phía bà N trả cho phía bà M 38 chỉ vàng 24K quy đổi ra thành
tiền theo giá vàng tại thời điểm xét xử phúc thẩm 38 chỉ vàng 24K x
4.844.000đồng/chỉ = 184.072.000đồng. Ngoài ra, phần đất tranh chấp tại thửa đất số
106 được M, ông M1 cho ông T, T1 thuê mướn hiện nay vẫn do ông T,
T1 đang quản lý, sử dụng nhưng Tòa án cấp thẩm ch tuyên buộc M, ông M1
chứ không tuyên buộc ông T, T1 cùng nghĩa vgiao trả thửa đất số 106
thiếu sót, không đảm bảo cho việc thi hành án sau này. Do vậy, Hội đồng xét xử căn
cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm về các
vấn đề này cho phù hợp.
[12] Từ những phân tích nêu trên, toàn bộ kháng cáo của M không có căn
cứ để chấp nhận, nhưng do Tòa án cấp sơ thẩm đã có một số sai sót nên Hội đồng xét
xử quyết định căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015 sửa
bản án sơ thẩm về các vấn đề phân tích ở mục [11].
[13] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ nên Hội đồng xét x
chấp nhận.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án thẩm bị sửa nên M không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
9
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn M. Sửa bản án dân sự
thẩm số 55A/2019/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C,
tỉnh Sóc Trăng như sau:
Căn cứ khoản 3 khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều
280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 122, 124, 127, 128, 134, 137, 219,
223, 348, 410, 604, 605, 608, 697, 698, 699, 700, 701, 702 Bộ luật Dân sự năm 2005;
các Điều 27, 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 105, 106, 107, 127
Luật Đất đai năm 2003; điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-
HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3
Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của M về việc yêu cầu N tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo nội dung “Tờ mua đất
ngày 25/12/2012” yêu cầu N bồi thường thiệt hại do lúa bị ngập nước chết với
số tiền 21.250.000đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của N về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu.
2.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa bà N bà M
theo “Tờ mua đất ngày 25/12/2012” là vô hiệu.
2.2. Bà N, bà N2, bà N3, ông N4, bà N5, ông N6 cùng có nghĩa vụ hoàn trả cho
M, ông M1 số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 38 chỉ vàng 24K,
quy đổi ra thành tiền tại thời điểm xét xử 184.072.000đồng (Một trăm tám mươi
bốn triệu không trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của M, ông M1 đối với khoản tiền
phải trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, hàng tháng N, N2, N3, ông N4,
N5, ông N6 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi
hành án.
2.3. Bà M, ông M1, ông T, bà T1 cùng có nghĩa vụ trả cho N, bà N2, bà N3,
ông N4, bà N5, ông N6 phần đất tại thửa số 106, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp A3,
B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có số đo, tứ cận như sau:
* Phần đất chưa bao gồm bờ kênh diện tích 4.188,8m
2
, loại đất 2L:
- Hướng đông giáp đất bà M, số đo 67,4m;
- Hướng tây giáp bờ kênh, số đo 71,7m;
- Hướng nam giáp đất bà R, số đo 75,6m;
10
- Hướng bắc giáp đất ông R1, số đo 49m.
* Phần đất bờ kênh diện tích 1.326,5m
2
:
- Hướng đông giáp thửa đất số 106, số đo 71,7m;
- Hướng tây giáp kênh, số đo 71,7m;
- Hướng nam giáp đất bà R, số đo 18m;
- Hướng bắc giáp đất ông R1, số đo 19m.
Trên đất có 01 cây tràm loại A và 02 cây bần loại A.
Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp A3, B, huyện C, tỉnh Sóc
Trăng đã được y ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00234 ngày 01/9/1997 cho hộ ông N1.
3. Về chi phí thẩm định, định giá: M phải chịu là 1.000.000đồng (Một triệu
đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng M đã nộp 1.000.000đồng
(Một triệu đồng). Nvậy, bà M đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định,
định giá.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. M phải chịu án phí dân sự thẩm 1.262.500đồng (Một triệu hai
trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
M đã nộp 731.500đồng (Bảy trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm đồng) theo
các Biên lai thu số 009538 ngày 14/01/2016 (200.000đồng) 0006812 ngày
04/4/2017 (531.500đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Như vậy, M phải nộp thêm án phí dân sự thẩm 531.000đồng (Năm trăm ba
mươi mốt nghìn đồng).
4.2. N không phải chịu án pn sự thẩm được nhận lại số tiền tạm
ứng N đã nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số
0002136 ngày 17/8/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
được nhận lại số tiền tạm ứng M đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng)
theo Biên lai thu số 0001217 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự (10);
- VKSND tỉnh Sóc Trăng (01);
- TAND huyện C (01);
- Chi cục THADS huyện C (01);
- Phòng KTNV-THA (01);
- Lưu: HSVA - VP (02).
Võ Hoàng Anh
Tải về
Bản án số 64/2020/DS-PT Bản án số 64/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất