Bản án số 63/2022/HNGĐ-ST ngày 25/01/2022 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 63/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 63/2022/HNGĐ-ST ngày 25/01/2022 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Chánh (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 63/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/01/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị H - Phạm Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÌNH CHÁNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 63/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25-01-2022
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tuyền
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư phiên tòa: Ngô Thị Thùy Dương Thư Tòa án của Tòa
án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên
tòa: Nguyễn Thị Thúy Hiền Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện
Bình Chánh xét xử thẩm ng khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số
420/2021/TLST-HNGĐ ngày 28/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/12/2021
Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2022 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị H, sinh năm: 1970 (Có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: B7/11B ấp H, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phạm Q, sinh năm: 1972 (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Nhà không số tổ 4, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 29/3/2021, các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm - Nguyên đơn bà Lâm Thị H trình
bày:
Bà và ông Phạm Q bắt đầu chung sống từ năm 1994, do tự tìm hiểu, có tổ
chức đám cưới đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Trị
Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng
chung sống cũng hạnh phúc, đến năm 2016 thì mâu thuẫn trầm trọng nhất,
2
nguyên nhân do ông Q thường hay chơi bài bạc, không chăm lo cho cuộc
sống gia đình, ông H mối Qn hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. đã
nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Q vẫn không thay đổi. ông Q sống ly
thân ttháng 7 năm 2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không
thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Phạm
Q.
Về con chung: Quá trình chung sống ông Q 02 con chung tên
Phạm Thị Thúy H, sinh ngày 06/01/1996 (đã trưởng thành) Phạm Anh T,
sinh ngày 29/12/2006. Hiện tại cháu T đang sống cùng bà. Khi ly hôn yêu
cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Anh T, không yêu cầu ông Q cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về nợ chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành
tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án
ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa giấy triệu tập đương stham gia tố tụng
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Phạm Q vẫn
không đến tham gia tố tụng tại Tòa án cũng không thể hiện ý kiến của mình
đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bằng bất cứ văn bản nào.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên
tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải
quyết vụ án như sau:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, lời trình bày, tranh luận của
các bên đương sự thì xét thấy việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử Thư phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xnghị án đã thực hiện đúng theo quy định
của Bộ luật ttụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo
pháp luật tố tụng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử
nhận định:
[2] Nguyên đơn Lâm Thị H khởi kiện yêu cầu ly n với bị đơn ông
Phạm Q. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận “Đương sự Phạm Q, sinh năm: 1972
đăng tạm trú thực tế trú tại địa chỉ nhà không số tổ 4, ấp 3A,
3
Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 14/6/2014 cho
đến nay”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sthì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Vsự vắng mặt của bị đơn: Bđơn ông Phạm Q đã được Tòa án nhân
dân huyện Bình Chánh tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ vụ án,
thông báo vphiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa giấy
triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố
tụng dân snăm 2015 nhưng ông Q vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án
nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Q theo quy định tại
khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 243, quyển số 01/2012
do Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ
Chí Minh cấp ngày 16/11/2012 sở xác định Qn hệ hôn nhân giữa Lâm
Thị H ông Phạm Q hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9, Điều 11
và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm, H xác
định giữa ông Q phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông Q không
trách nhiệm với gia đình, bất đồng Qn điểm sống, tính tình không còn a hợp,
ông Q thường xuyên cờ bạc, mối Qn hệ với người phụ nữ khác bên ngoài,
H đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông Q vẫn không sửa đổi, tình cảm vợ
chồng đã không còn. vậy, H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với
ông Q.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy, theo công văn số 4050/UBND ngày
16/11/2021 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố
Hồ Chí Minh xác định “Hiện tại giữa Lâm Thị H ông Phạm Q không n
chung sống với nhau đã ly thân o tháng 7 năm 2019. Trong quá trình
chung sống tại địa phương giữa H, ông Q mâu thuẫn, nguyên nhân do cả
hai không hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân”. Ông Phạm Q vắng mặt trong
suốt quá trình giải quyết ván, không thể hiện ý kiến của mình đối vi yêu cầu
khởi kiện của H. Hơn nữa, giữa H, ông Q đã một thời gian dài sống ly
thân nhưng cho đến phiên tòa thẩm H, ông Q vẫn không tìm được phương
hướng nào để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy mục đích hôn nhân giữa H, ông Q
đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó H yêu cầu ly
hôn đối với ông Q là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về con chung: H xác nhận giữa bà và ông Q hai con chung tên
Phạm Thị Thúy H, sinh ngày 06/01/1996 (đã trưởng thành) Phạm Anh T,
sinh ngày 29/12/2006. Đối với cháu Phạm Thị Thúy H, sinh ngày 06/01/1996 đã
trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Phạm Anh T hiện
4
nay đang sống cùng H. Do đó khi ly hôn H yêu cầu được tiếp tục nuôi
dưỡng cháu Phạm Anh T.
Theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 05/5/2021 thì trẻ Phạm Anh T
nguyện vọng được sống cùng mẹ. Mặt khác, do ông Q vắng mặt trong suốt quá
trình Tòa giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình về con
chung. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét khnăng của các đương sự về việc
đảm bảo cuộc sống ổn định, tinh thần cho con sau khi ly hôn cũng như căn cứ
vào nguyện vọng của trẻ theo quy định khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao trẻ Phạm Anh
T cho bà Lâm Thị H tiếp tục ni dưỡng là phù hợp.
[8] Về cấp dưỡng nuôi con: H không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi
con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà H.
[9] Về tài sản chung: H yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án
giải quyết, còn ông Q vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài
sản chung giữa ông H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản
chung theo yêu cầu của H, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu
giải quyết trong một vụ án khác.
[10] Về nợ chung: H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải
quyết, còn ông Q vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về nợ chung
giữa ông bà H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu
cầu của H, trường hợp các đương sự tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết
trong một vụ án khác.
[11] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì nguyên đơn Lâm Thị H phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
[12] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xxét thấy ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết ván phù
hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228
Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 Điều 14 của Luật Hôn nhân gia đình năm
2000.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83,
Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
5
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị H
đối với bị đơn ông Phạm Q về việc tranh chấp ly hôn.
1.1. Về hôn nhân: Bà Lâm Thị H được ly hôn với ông Phạm Q. Qn hệ hôn
nhân giữa Lâm Thị H và ông Phạm Q chấm dứt cũng như giấy chứng nhận
kết hôn số 243, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông
A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/11/2012 không còn giá
trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Lâm Thị H được quyền nuôi dưỡng cháu Phạm
Anh T, sinh ngày 29/12/2006. Ghi nhận bà Lâm Thị H không yêu cầu ông Phạm
Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Q có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai
quyền cản trở, lợi ích con chung, khi cần thiết các bên quyền xin thay đổi
việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83,
Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để
cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014.
1.3. Về tài sản chung: Lâm Thị H yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu
cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các
đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
1.4. Về nợ chung: Lâm Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có
tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
2. Về án phí: Nguyên đơn Lâm Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền
tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngn) đồng mà H đã nộp theo biên lai thu
số AA/2019/0081326 ngày 09/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lâm Thị H đã nộp đầy đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
6
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn mặt tại phiên tòa quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 (ời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản
án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng
dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1);
- VKSND H. Bình Chánh (2);
- Chi cục THADS H. Bình Chánh (1);
- UBND phường Bình Trị Đông A,
Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (1);
- Các đương sự (2);
- Lưu hồ sơ, VP (3). Lý Thường Đông

Tải về
Bản án số 63/2022/HNGĐ-ST Bản án số 63/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất