Bản án số 61/2023/DS-ST ngày 26/09/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 61/2023/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 61/2023/DS-ST ngày 26/09/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phong Điền (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 61/2023/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN P Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 61/2023/DS-ST
Ngày: 26/9/2023
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hùng Phước
2. Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Đinh Thanh Thảo, Thư
Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố
Cần Thơ, xét xử thẩm công khai ván thụ số 115/2022/TLST-DS ngày
06/10/2022 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử sơ thẩm số 113/2023/QĐXXST-DS ngày 23/8/2023, giữa các đương sự :
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V
Trụ sở chính: 89 L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Tầng 01, số I đường C, phường D, quận C, thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn:
1. ông Đoàn Anh T, Cán bộ xử lý nợ – Có mặt
2. ông Nguyễn Văn Đ, Trưởng bộ phận xử lý nợ – Vắng mặt
(Theo văn bản ủy quyền số 5037/2023/UQ-VPB ngày 20/7/2023).
Bị đơn: ông Đồng Trọng H, sinh năm 1990
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Thân Minh T1, địa chỉ: A Mỹ
K, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2021, đại diện nguyên đơn - Ngân hàng
TMCP V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: ông Đồng Trọng H có ký với
Ngân hàng hợp đồng tín dụng số LN1707260130218/ADV/HĐTD ngày
2
01/9/2017 để vay số tiền 559.000.000 đồng, thời hạn 83 tháng, mục đích vay
mua xe, lãi suất 10,4%/năm, điều chỉnh theo định kỳ, lãi suất quá hạn bằng
150% lãi suất trong hạn; hợp đồng tín dụng số LD17254001331 ngày
11/9/2017 để vay số tiền 69.000.000 đồng, thời hạn 48 tháng, mục đích vay tiêu
dùng, lãi suất 20%/năm. Tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp ngày
01/9/2017 xe ô con nhãn hiệu Chevrolet, biển số 65A 130.53. Quá trình
thực hiện hợp đồng ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 07/10/2019. Nay
ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền 851.797.429 đồng gồm nợ gốc
436.555.353 đồng nợ lãi tính đến ngày 26/9/2023 415.242.076 đồng, đồng
thời tiếp tục chịu lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận, nếu không trả hết nợ thì
tài sản bảo đảm được phát mãi để thu hồi nợ cho ngân hàng, tiền thu được từ xử
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết nợ thì ông H vẫn có nghĩa vụ trả hết
khoản nợ cho ngân hàng.
Phía bị đơn - ông Đồng Trọng H trình bày: thống nhất việc ông đứng
tên mua xe vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền
559.000.000 đồng, đồng thời thế chấp xe ô mua được từ tiền vay cho ngân
hàng. Nhưng ông chỉ đứng tên mua xe giùm cho em rể Thân Minh T1, từ lúc
mua tới nay đều do ông T1 quản lý, sử dụng nên ông không biết hiện nay chiếc
xe ở đâu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần
V khởi kiện yêu cầu ông Đồng Trọng H trả nợ vay do vi phạm nghĩa vụ thanh
toán nợ gốc nợ lãi. Mục đích vay vốn của ông H để mua xe tiêu dùng,
vậy đây tranh chấp Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân huyện Phong Điền theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thân Minh T1 đã được
triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ hòa giải ngày 01/11/2022, ngày 28/11/2022 nhưng không đến tham dự.
Tòa án đưa vụ án ra xét xử đã triệu tập ông H, ông T1 tham gia phiên tòa
ngày 11/9/2023, ngày 26/9/2023 nhưng ông H, ông T1 đều không đến, do đó
Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
[3] Hai hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng ông H được thỏa thuận trên
cở sở tự nguyện, đúng với quy định pháp luật tại Điều 91, 94, 95 Luật các tổ
3
chức tín dụng. Theo hợp đồng cho vay ngày 01/9/2017, Khế ước nhận nợ ngày
06/9/2017 thì số tiền vay 559.000.000 đồng, Hợp đồng tín dụng ngày
06/9/2017 với khoản vay tiêu dùng số tiền 69.000.000 đồng. Ông H thừa nhận
vay tiền đồng ý trả nợ cho Ngân hàng tại bản tự khai, biên bản ghi nhận
kết quả hòa giải ngày 29/10/2021 của Trung tâm hòa giải, biên bản hòa giải
ngày 28/11/2022. Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả số tiền
nợ gốc 436.555.353 đồng nợ lãi tính đến ngày 26/9/2023 415.242.076
đồng. Người vay nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc tiền lãi phát sinh, do
đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu xử tài sản thế chấp xe ô con hiệu Chevrolet,
biển số 65A 130.53. Chiếc xe do ông H mua bằng tiền vay của Ngân hàng,
đăng đứng tên thế chấp đảm bảo khoản vay. Ông H cho rằng đứng tên
giùm ông Thân Minh T1 nên không quản lý, sử dụng xe từ lúc mua. Tuy
nhiên, ông H đứng tên đăng xe, mua bằng tiền do ông H vay ngân hàng nên
quyền sở hữu xe, trường hợp phát sinh tranh chấp quyền sở hữu tài sản thì
đương sự khởi kiện bằng vụ án khác. Hợp đồng thế chấp xe ô do các bên tự
nguyện giao kết, đúng hình thức theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Dân sự năm
2005, vậy, trong trường hợp ông H không trả được nợ cho Ngân hàng thì
ngân hàng quyền yêu cầu phát mãi để thu hồi nợ. Giữa ông H Ngân hàng
không thỏa thuận về người thứ ba giữ tài sản thế chấp, do đó ông H vẫn
người thực hiện hợp đồng thế chấp, trường hợp xe đang do ông T1 hay nhân
khác quản lý sẽ được xác minh điều kiện thi hành án trong quá trình thi hành án.
[5] Bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ bằng toàn bộ tài sản, theo Điều 52 Luật
Thi hành án dân sự thì việc thi hành án kết thúc khi đương sự đã thực hiện xong
quyền, nghĩa vụ của mình hoặc quyết định đình chỉ thi hành án. vậy,
nguyên đơn yêu cầu tuyên bị đơn nghĩa vụ trả hết nợ trùng lặp với yêu cầu
đòi nợ, không cần thiết ghi nhận.
[6] Về án phí dân sự thẩm do bị đơn nộp án phí giá ngạch 5% tương
ứng nghĩa vụ phải thực hiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 351, Điều 471, Điều 474 Bộ luật n sự năm 2005; Điều 91
Luật các tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
4
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Đồng Trọng H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền
851.797.429 đồng (Tám trăm năm mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn
bốn trăm hai mươi chín đồng), gồm nợ gốc 436.555.353 đồng nợ lãi tính đến
ngày 26/9/2023 là 415.242.076 đồng.
Ông H tiếp tục chịu lãi suất theo Khế ước nhận nợ ngày 06/9/2017 và Giấy
đăng kiêm hợp đồng cho vay ngày 06/9/2017 trên số tiền chưa thi hành đến
khi thi hành án xong.
Trường hợp ông H không trả được nợ thì tài sản thế chấp xe ô con
nhãn hiệu Chevrolet, số loại Cruze, số khung 696EHH947134, số máy
6D3171430462, biển số 65A-130.53 được phát mãi để thanh toán nợ cho Ngân
hàng thương mại cổ phần V.
Án phí dân s sơ thẩm: ông H nộp 37.553.900 đồng. Nguyên đơn được
nhận lại 16.300.000 đồng tiền tạm ứng án phí nộp theo biên lai số 0007528 ngày
05/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận
: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
-
Các đương sự;
- TAND Tp. Cần Thơ;
- VKSND H. P;
- THA H. P;
- Lưu (HS - 2b)
Liêng Thị Hồng Hoa
Tải về
Bản án số 61/2023/DS-ST Bản án số 61/2023/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất