Bản án số 61/2018/HS-PT ngày 27/07/2018 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 61/2018/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 61/2018/HS-PT ngày 27/07/2018 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 61/2018/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/07/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Lê Thị Thu Trang.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Mai;
Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Trúc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 59/2018/TLPT-HS
ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn n L đồng phạm, do
kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sthẩm số 14/2018/HSST ngày
29 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1971, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện
G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã
chết) bà Phạm Thị H; vtên Đặng Thị N, 02 con, lớn sinh năm 2001
nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 15-6-2017 cho
đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978, tại Tây Ninh; nơi trú: Ấp A1, H1,
huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 61/2018/HS-PT
Ngày: 27-7-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
L1 Phạm Thị M; vợ tên Thị Mỹ L2, 02 con, lớn sinh năm 1999
nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 21-6-2017 cho
đến nay; có mặt.
3. Nguyễn Thành N1, sinh năm 1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi
ĐKHTTT: Phường A2, Quận A3, Thành phố Hồ CMinh; nơi trú: Ấp M1, xã
P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa:
8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Văn T2 và Đào Thị P1; vợ tên Ngô Thị Trúc P2 và 01 con sinh
năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09-01-2004 bUBND huyện
C, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng Số 4 tại
huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thời hạn 18 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”
đã chấp hành xong ngày 09-7-2005; Bản án Hình sự thẩm số 08/2006/HSST
ngày 13-02-2006 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt
18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 21-3-2010 bị UBND Thành phố Hồ Chí
Minh ra quyết định đưa đi cơ sở giáo dục Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương thời hạn
18 tháng vhành vi “Gây rối trật tự công cộng” chấp hành xong ngày 21-9-2011;
Ngày 30-10-2013 bị UBND Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa đi sở
giáo dục Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương thời hạn 18 tháng về hành vi “Gây rối
trật tự công cộng” đã chấp hành xong ngày 30-4-2015; bị bắt tạm giữ từ ngày 17-4-
2017 đến ngày 21-6-2017 chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
4. Nguyễn Hoàng M2, sinh năm 1990, tại Long An; nơi cư trú: Ấp H2, xã G1,
huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn
B1 Lê Thị T3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ
ngày 17-4-2017 cho đến nay; có mặt.
5. Minh T4, sinh năm 1996, tại Long An; nơi cư trú: Ấp H2, xã G1, huyện
Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn T5
Nguyễn Thị D1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày
17-4-2017 cho đến nay; có mặt.
6. Văn P3, sinh năm 1996, tại Long An; nơi trú: Ấp H2, G1, huyện
Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Công nhân; trình đvăn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chí T6
Nguyễn Thị M3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày
17-4-2017 cho đến nay; có mặt.
3
- Các bị cáo không có kháng cáo:
1. Trần Quốc V, sinh năm 1996, tại Long An; nơi trú: Ấp L3, G1,
huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: m mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D2
Phạm Thị Đ1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án
số 89/2013/HSST ngày 29-8-2013 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh xử
phạt 06 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà (đã được
xóa án tích); bị bắt tạm giam từ ngày 21-4-2017 cho đến nay; có mặt.
2. Võ Minh L4, sinh năm 1991, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp L5, xã K, huyện
B2, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn S
Lưu Thị T7; vợ tên Nguyễn Thúy V1 và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền s:
Không; bị bắt tạm giam từ ngày 21-4-2017 cho đến nay; có mặt.
3. Lương Tấn M4, sinh ngày 19-3-1997, tại Long An; nơi trú: Ấp B3,
G1, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương
Thành B4 Trịnh Thị M5; vtên Nguyễn Thị Kim P4 01 con sinh năm
2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 21-4-2017 cho đến nay;
mặt.
4. Võ Văn S1, sinh ngày 21-01-1998, tại Long An; nơi cư trú: Ấp B3, xã G1,
huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S2
và bà Lê Thị B5; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày
21-4-2017 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại không kháng o: Anh Văn C1, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp
K1, xã G2, huyện B, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại và người tham gia tố tụng khác
không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4-2016, Nguyễn Văn L cùng vợ Đặng Thị N Nguyễn
Văn T1 đến nhà anh Văn C1 tại ấp K1, G2, huyện B, tỉnh Tây Ninh để đòi
4
tiền; giữa L chị Nguyễn Thị N2 (là vợ của anh C1) xảy ra cự cãi nhau nên L
dùng tay đánh chị N2. Sự việc này đã được ng an G2 mời hai bên đến giải
quyết, quá trình làm việc anh C1 trình bày mua số đề của L từ năm 2012 đến
năm 2015 nên nợ L số tiền 120.000.000 đồng, còn L cho rằng C1 mượn L stiền
800.000.000 đồng nhưng không giấy tờ; khi đang giải quyết thì L tự bỏ về
không khởi kiện việc anh C1 nợ tiền theo đúng quy định pháp luật mà cùng T1 thuê
“giang hồ” đến nhà anh C1 đòi tiền. T1 đồng ý tìm gặp Nguyễn Hoàng G3,
Minh L4 (do G3 rủ đi cùng đến nhà L); giữa L, T1, G3 bàn bạc thỏa thuận với
nhau là G3 tự tìm người cùng đi đến n C1 đập phá tài sản để tạo áp lực buộc anh
C1 trả số tiền 800.000.000 đồng, L sẽ trả tiền công cho G3 40% trên tổng số tiền
lấy được; L đưa trước cho G3 số tiền 5.000.000 đồng làm chi phí đi đòi nợ thuê.
Khi nhận được tiền, G3 rủ Nguyễn Hoàng M2, Minh T4, Văn P3, Võ
Minh L4, Tấn T8, Lương Tấn M4, Hoàng C2, Trần Quốc V2, Văn S1
cùng đi đòi nợ thuê cho L để có tiền chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý. Sau đó, G3
bàn bạc cùng những người này mang theo hung khí như dao, rựa, chĩa rơm,
cây....chở nhau bằng xe mô đến nhà anh C1 đđòi nợ nhưng không gặp anh C1
mà gặp chị N2, G3 yêu cầu chị N2 trả tiền cho L thì chị N2 trả lời “Ai thiếu tiền thì
đi đòi người đó”, nên tất cả cùng ra về. G3 nói lại việc không gặp anh C1 cho L, T1
biết được T1 đưa thêm tiền chi phí 3.000.000 đồng. G3 tiếp tục cùng những
người này rủ thêm A4, T9, C3, N3 (không nhân thân, địa chỉ) bốn lần mang
theo hung khí đến nhà anh C1 dùng đá ném vào nhà, rồ ga xe môtô lớn tiếng đe
dọa đập phá nhà anh C1 để đòi tiền; đồng thời, G3 nói lại cho L, T1 biết các lần
đến nhà anh C1 đe dọa đòi tiền và được L tiếp tục đưa thêm cho G3 số tiền
2.000.000 đồng làm chi phí đi đập p tài sản nhà anh C1.
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 29-7-2016, G3 cùng với M2, T4, P3, L4, T8,
M4, C2, V2, S1, A4, T9, C3, N3 mang theo dao, rựa, chĩa rơm, cây…đến nhà anh
C1 đòi tiền nhưng thấy nhà đóng cửa, G3 phân công M2, T4, C2 vào đập phá nhà
anh C1, những người còn lại đứng bên ngoài cảnh giới hào, rồ ga xe lớn
tiếng. T4 cầm cây chĩa rơm, C2 cầm 01 khúc cây đập bể 25 tấm kính cửa; M2 cầm
cây chĩa rơm đập bể 01 mắt Camera và 01 cái ghế inox; sau đó tất cả cùng ra về.
Khi thấy nhóm của G3 đòi tiền không được nên L T1 kêu G3 ngưng việc
đi đòi tiền anh C1 để tìm người khác làm mạnh tay hơn. Lúc này G3 giới thiệu
Nguyễn Thành N1 cho L, T1 biết. Sau đó, N1 rủ M2, T4, P3 cùng đi gặp L, T1.
Trong lúc bàn bạc thỏa thuận với nhau thì L kêu nhóm của N1 thực hiện mọi
cách như đập phá tài sản, gây thương tích cho anh C1 người thân của anh C1 để
5
lấy được số tiền 800.000.000 đồng, L sẽ trả tiền công cho nhóm của N1 là 40% trên
tổng số tiền lấy được thì nhóm của N1 đồng ý.
Vào khoảng 20 giờ ngày 13-8-2016, N1 cùng với M2, T4, P3 điều khiển xe
mang theo dao, rựa đến nhà anh C1 để đòi tiền. Anh C1 chị N2 hoảng sợ
chạy vào trong phòng khóa cửa lại, cả nhóm cùng nhau xông vào nhà dùng dao, rựa
đập phá những tài sản như: Cửa kính nhà, kính bàn, tivi, bếp gas, nồi cơm điện, xe
mô tô, đầu thu Camera, đầu phát wifi, quạt điện, rồi cả nhóm cùng nhau ra về.
Sau khi đập phá tài sản không thấy anh C1 đưa tiền nên N1 bàn bạc với M2,
T4, P3 tiếp tục đến tiệm tạp hóa của chị Trần Thị Tuyết M6 (là em vcủa anh C1)
tại ấp Gia Lâm, G2, huyện B, tỉnh Tây Ninh, để gây thương tích cho chị M6
nhằm tạo áp lực cho anh C1 đưa tiền thì tất cđồng ý. N1 điều khiển xe đến
tiệm tạm hóa quan sát nhìn thấy chị M6 quay về nói lại cho M2, T4, P3 biết địa
điểm tiệm tạp hóa. N1 phân công P3, T4 có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô chở đi và
đứng bên ngoài cảnh giới; còn N1, M2 dùng dao, rựa chém chM6 thì tất cả đồng
ý.
Đến khoảng 20 giờ ngày 15-8-2016, P3 T4 điều khiển xe chở N1,
M2 mang theo dao, rựa đến tiệm tạp hóa của chị M6 thì dừng xe bên ngoài. N1 cầm
cây rựa xông vào bên trong tiệm tạp hóa chém chM6 nhiều cái trúng vào vùng
thái dương phải, vai phải, nh tay phải, chân phải; M2 cầm dao tự chế cùng xông
vào thì bị anh Nguyễn Văn K2 chồng của chị M6 ngăn cản, M2 liền dùng dao
chém trúng 01 cái vào lưng anh K2. Sau đó, N1 M2 chạy ra bên ngoài lên xe mô
tô để P3, T4 chở đi. Chị M6 được đưa đến Trung tâm Y tế huyện B cấp cứu và điều
trị đến ngày 22-8-2016 xuất viện.
Sau nhiều lần bị nhóm của L đập ptài sản gây thương tích cho chị M6,
sợ bị ảnh hưởng đến tính mạng và công việc làm ăn nên anh C1 chị N2 đến nhờ
Trần Thị C4 (là người quen với L) đứng ra thỏa thuận với L nhận số tiền
300.000.000 đồng để L ngưng việc thuê người đến đập phá tài sản gây thương
tích cho anh C1 người nhà anh C1 thì L đồng ý. Vào ngày 06-10-2016, L N
đến nhà bà C4 viết giấy nhận số tiền 300.000.000 đồng do chị N2 giao.
Ngày 31-8-2016, chị M6 đơn yêu cầu xử hình sự đối với những người
đã gây thương tích cho chị M6. Riêng chị N2 bị L dùng tay đánh, anh K2 bị M2
dùng dao chém bị xây sát nhẹ; chị N2 và anh K2 không yêu cầu xử lý hình sự và từ
chối giám định thương tích nên không đặt ra xử lý.
6
Kết luận giám định pháp y vthương tích số 95/2017/TgT ngày 28-4-2017
của Trung tâm Pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Th
Tuyết M6 do thương tích gây nên hiện tại là 09%.
Kết luận định gtài sản số 53/KL-ĐG ngày 21-4-2017 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Tổng thiệt hại cho tài sản vào
ngày 29-7-2016 của anh Văn C1 chị Nguyễn Thị N2 giá trị 3.153.080
đồng.
Kết luận định gtài sản số 95/KL-ĐG ngày 22-8-2016 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Tổng thiệt hại cho i sản vào
ngày 13-8-2016 của anh Văn C1 chị Nguyễn Thị N2 giá trị 13.148.400
đồng.
Tại Bản án Hình sự thẩm số 14/2018/HS-ST ngày 29-3-2018 của Toà án
nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bcác bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Hoàng M2, Minh T4,
Văn P3 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Hủy hoại tài sản, cố ý làm hỏng tài
sản” và Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Thành N1 phạm tội Cưỡng đoạt
tài sản”, “Hủy hoại tài sản” “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Văn T1
phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Hủy hoại tài sản, cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 143; các điểm a, e,
h, i khoản 1 Điều 104; các điểm e, g khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1,
khoản 2 Điều 46; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xphạt bị o Nguyễn Văn L 12
năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-6-2017.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 143; các điểm e, g
khoản 1 Điều 48; các điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 50 của Bluật
Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày 21-6-2017.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 143; các điểm a, e,
h, i khoản 1 Điều 104; các điểm e, g khoản 1 Điều 48; khoản 2 Điều 46; Điều 50
của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 10 năm 6 tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-4-2017.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 143; các điểm a, e,
h, i khoản 1 Điều 104; các điểm e, g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2
Điều 46; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M2 10 năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-4-2017.
7
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 143; các điểm a, e,
h, i khoản 1 Điều 104; các điểm e, g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2
Điều 46; Điều 50 của Bộ luật Hình sxử phạt bị cáo Minh T4 10 năm tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-4-2017.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 143; các điểm a, e,
h, i khoản 1 Điều 104; các điểm e, g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2
Điều 46; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị o Văn P3 10 năm tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-4-2017.
Ngoài ra, bản án còn tuyên hình phạt đối với các bị o còn lại; phạt bổ
sung đối với các bị cáo L, T1; miễn hình phạt bsung đối với các bị cáo n lại;
trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào các ngày 2, 3, 4, 5 9 tháng 4 năm 2018 các bị cáo Minh T4,
Văn P3, Nguyễn n T1, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Hoàng M2
có đơn kháng cáo với cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và bị cáo Nguyễn
Thành N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Tây Ninh đề
nghị Hội đồng t xcăn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 của Bộ luật Tố
tụng hình sự hủy toàn bộ bản án thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung, cấp
sơ thẩm điều tra, thu thập chứng cứ không đầy đủ; còn bỏ lọt tội phạm đối với hành
vi của các bị cáo nhóm thứ nhất gồm: G3, T4, M2, L4, P3, T8, C2, V2, S1, M4
Đặng Thị N về tội Cưỡng đoạt tài sản”, hành vi của Nguyễn Văn T1 về tội “Cố ý
gây thương tích”; chưa xử lý số tiền đã cưỡng đoạt 300.000.000 đồng; các Kết luận
định giá tài sản chưa làm rõ phần thiệt hại tài sản do bị hủy hoại, bị hư hỏng để làm
căn cứ bồi thường; chưa thể hóa phần trách nhiệm dân sự; ngoài ra, việc không
tính án phí dân sự thẩm cho tất cả các bị cáo là không phù hợp với quy định
pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”:
8
Theo bị cáo L vợ N cho rằng vợ chồng bị hại C1 nợ số tiền
800.000.000 đồng (trong đó nợ vay 500.000.000 đồng và nợ hụi 300.000.000 đồng)
nên từ tháng 2-2016 vợ chồng L đã đến nhà C1 đòi tiền nhưng không được. Đến
tháng 4-2016, vchồng L T1 đến nhà bị hại để tiếp tục đòi số tiền 800.000.000
đồng trên gây thương tích cho vợ của bị hại C1 là chị N2, sự việc đã được giải
quyết tại Công an G2 nhưng hai bên vẫn không giải quyết được khoản nợ trên,
vợ chồng L xác định số nợ 800.000.000 đồng nhưng bị hại chỉ xác nhận nợ số tiền
đề 120.000.000 đồng.
Xuất phát từ sự việc trên nên bcáo L, T1 đã bàn bạc thuê bị cáo G3 để đòi
nợ cho L, hai bên đã thỏa thuận bằng mọi cách để buộc C1 trả số tiền 800.000.000
đồng, G3 s được nhận tiền công 40% của s tiền này, G3 được đưa trước
5.000.000 đồng là chi phí để đòi nợ thuê. Sau đó, G3 rủ thêm M2, T4, P3, L4, T8,
M4, C2, V2, S1 cùng A4, T9, C3, N3 (không nhân thân, địa chỉ) và bàn bạc với
nhau mang theo hung khí như dao, rựa, chĩa rơm, cây...nhiều lần đến nhà anh C1
ném đá vào nhà, rồ ga xe máy lớn tiếng, la hét, đe dọa đập phá nhà, tạo áp lực buộc
anh C1 trả nợ. Đồng thời, tiếp tục nhận thêm chi phí đòi nợ trong 04 lần với số tiền
5.000.000 đồng. Đặc biệt, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29-7-2016 các đối tượng
này đến nhà C1, sự phân công M2, T4, C2 vào đập phá nhà anh C1, những
người còn lại đứng bên ngoài cảnh giới, hào, rồ ga xe lớn tiếng, hậu quả làm
bể 25 tấm kính cửa, 01 mắt Camera và 01 cái ghế inox.
Nhận thấy, các hành vi nhóm của G3 thực hiện đã trực tiếp xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản và tạo tâm hoang mang, lo s cho anh C1, chị N2. Căn
cứ vào lời khai của các bị cáo G3, M2, T4, P3, L4, T8, M4, C2, V2, S1 đều thể
hiện mục đích của việc đến nhà anh C1 thực hiện các hành vi nêu trên để tạo áp
lực buộc anh C1 trả nợ cho L, T1; G3 đã gặp trực tiếp vợ anh C1 trong lần đầu tiên
đến nhà anh C1 yêu cầu trả số tiền 800.000.000 đồng cho L; sau đó, G3 gặp anh
B6 (họ hàng bên vợ của anh C1) nói với anh B6 việc đang đi đòi số tiền trên do anh
C1 nợ L (bút lục 81, 235, 236). Đồng thời, sau sviệc xảy ra ngày 29-7-2016, G3
giới thiệu bị cáo N1 với L, T1 để các ngày 13, 15 tháng 8 năm 2016, các đối tượng
M2, T4, P3 đã tham gia đập phá tài sản lần đầu lại tiếp tục cùng N1 đến đập phá tài
sản nhà anh C1 rồi gây thương tích cho chị M6 (em vợ của anh C1). Trong quá
trình giải quyết ván cũng như tại phiên tòa, anh C1 cho rằng trước sự việc bị các
đối tượng nêu trên nhiều lần đến nhà hăm dọa, đập phá tài sản, gây thương thích
cho người thân nhắn tin đe dọa đến vợ của anh nên chị N2 vanh đã nhờ đến
C4 để thương lượng giao cho L số tiền 300.000.000 đồng. Do đó, s
9
xác định số tiền bị hại đã giao cho L kết quả của cả quá trình thực hiện hành
vi từ nhóm của G3 đến nhóm sau do N1 cầm đầu.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần điều tra làm đxác định nhóm của
G3 gồm: G3, C2, V2, L4, S1, M4, M2, P3, T4, T8 phạm tội “Cưỡng đoạt tài
sản” hay không. Đồng thời xác định ý thức chiếm đoạt của tất cả các bị cáo trong
vụ án từ thời điểm nào, cụ thể bao nhiêu, 300.000.000 đồng hay 800.000.000
đồng để sở xác định thẩm quyền điều tra, truy tố xét xử theo đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích”:
Tại các biên bản lấy lời khai (các bút lục 618, 628, 629, 645, 940, 941, 946,
947, 950) các bị cáo T4, M2, P3 đều trình bày trước các ngày 13, 15 tháng 8 năm
2016 các bị cáo cùng N1 đến quán cà phê cầu Cây Trường trên địa bàn huyện B để
bàn bạc, thỏa thuận việc đi đòi nợ anh C1 cho L, lần gặp mặt bàn bạc này sự
tham gia của bị cáo T1; ngoài lần gặp này, trước đó bị o M2 cùng N1 gặp L,
T1 02 lần (lần đầu tại nhà của L và lần sau tại ntrọ của N1) các lần gặp đó T1
đều đề cập đến vấn đề thuê N1 đi đòi nanh C1 cho L. Mặt khác, tại phiên tòa bị
cáo N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cũng thống nhất với lời
khai của các bị o T4, M2, P3 như trên; bên cạnh đó, bị cáo N1 còn khai nhận:
“Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo liên lạc với bcáo T1 để thông
báo cho T1 biết việc đã đập phá tài sản nhà anh C1; T1 là người chỉ cho bị cáo biết
nhà của chị M6 (em vợ của anh C1) thống nhất việc gây thương tích cho người
thân của anh C1; sau khi gây thương tích cho chM6 xong, T1 liên lạc thông báo
tình hình của chị M6 rất nặng kêu bị cáo bỏ trốn”. Bị cáo T1 cũng thừa nhận
người giliên lạc với N1 nhưng cho rằng bị cáo chỉ nhận thông tin từ N1 để nhắn
lại với bị o L. Xét thấy, cần tiến hành đối chất, điều tra để làm bị o T1 có
đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” không.
[3] Đối với hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”: Cấp thẩm
xác định các bị cáo trong nhóm do G3 cầm đầu phạm tội “Cố ý làm hỏng tài
sản”, các bị cáo trong nhóm do N1 cầm đầu phạm tội Hủy hoại tài sản, cố ý làm
hỏng tài sản”. Dựa trên các Kết luận định giá tài sản số 95/KL-ĐG ngày 22-8-
2016 và số 53/KL-ĐG ngày 21-4-2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự
huyện B chưa chứng minh được loại tài sản nào bị hủy hoại, loại tài sản o bị
hỏng; điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc định tội danh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với giá trị tài sản bị thiệt hại.
10
[4] Về áp dụng pháp luật: Cấp thẩm nhận định các bị cáo N1, M2, T4, P3
phạm tội không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng quyết định hình
phạt lại áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến
cùng quy định tại các điểm e, g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Thêm vào đó, khi lượng hình cấp thẩm phân hóa vai trò, mức độ, nhân thân của
từng bị cáo chưa cụ thể, ràng. Những sai sót này ảnh hưởng đến vấn đề quyết
định hình phạt đối với từng bị cáo chưa chuẩn xác, khách quan và công bằng.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật, tiền liên quan đến tội phạm:
5.1 Cấp thẩm áp dụng các Điều 608, 609 của Bộ luật Dân sự năm 2005
buộc các bị cáo trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh C1
chị M6; ngoài ra còn truy thu đối với các bị cáo trong nhóm do G3 cầm đầu số
tiền 10.000.000 đồng G3 nhận từ L, T1 nhưng không thể hóa trách nhiệm
của các bị cáo là không phù hợp với quy định của pháp luật.
5.2 Đối với số tiền 300.000.000 đồng chị N2 giao cho vợ chồng bị cáo L
theo giấy nhận tiền ngày 06-10-2016 là tiền mà người phạm tội chiếm đoạt từ hành
vi “Cưỡng đoạt tài sản”. vậy, căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, số
tiền này phải được trả lại cho bị hại hoặc sung quỹ nhà nước nếu bị hại không yêu
cầu; nhưng cấp sơ thẩm không giải quyết vấn đề này là thiếu sót.
[6] Về án phí dân sự thẩm: Cấp thẩm chưa xác định các bcáo L,
T1, V2, S1 đã nộp tiền khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội của nhân hay
của tất cả các bị cáo trong vụ án; nhưng lại không tính án phí đối với các bị cáo còn
lại trong khi các bị cáo này không thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy
định tại Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tại phiên tòa, bị o L đồng ý sử dụng số
tiền 70.000.000 đồng đã nộp để khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội của các bị
cáo L, T1, N1, M2, T4, P3. Do vậy, việc không tính án phí dân sự thẩm cho các
bị cáo còn lại cho rằng số tiền khắc phục hậu quả của các bị cáo L, T1, V2, S1
nhiều hơn số tiền bồi thường thiệt hại không có cơ sở, làm ảnh hưởng đến quyền
lợi của các bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả làm thất thu ngân sách của nhà
nước.
[7] Từ những nhận định trên, xét thấy còn nhiều nội dung chưa làm , cấp
phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy toàn bộ bản án thẩm để điều
tra, xét xử lại theo thủ tục chung.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do hủy án nên các bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
11
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Hủy Bản án Hình sự thẩm số 14/2018/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2018
của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Giao hồ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh giải
quyết lại theo thủ tục chung.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh TN;
- Vụ 1 – TANDTC;
- Sở Tư pháp tỉnh;
- Phòng KTNV TAND tỉnh;
- Phòng PV27 CA tỉnh;
- TAND huyện;
- CCTHADS huyện;
- VKSND huyện;
- Công an huyện;
- Bị cáo;
- Tòa Hình sự;
- Lưu HS./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
ã ký)
Lê Thị Thu Trang
Tải về
Bản án số 61/2018/HS-PT Bản án số 61/2018/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất