Bản án số 60/2023/DS-PT ngày 12/05/2023 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 60/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 60/2023/DS-PT ngày 12/05/2023 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 60/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông M yêu cầu ông D phải hoàn trả cho ông M số tiền đã đặt cọc là 500.000.000 đồng và số tiền phạt cọc theo thỏa thuận là 1.000.000.000 đồng, tổng cộng là 1.500.000.000 đồng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông M xác định chỉ yêu cầu ông D phải tiền cọc 500.000.000 đồng và phạt cọc 500.000.000 đồng, tổng cộng là 1.000.000.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 60/2023/DS-PT
Ngày: 12 - 5 - 2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Huệ
Ông Trịnh Hoàng Anh
- Thư phiên tòa: Bà Thị Thúy Thư Tòa án nhân dân tỉnh Rịa -
Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu: Bà Bùi Thị Doan -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Tngày 09 đến ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2023/TLPT-DS
ngày 03 tháng 02 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 của
a án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 33/2023/QĐ-PT ngày
21/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2023/QĐ-PT ngày 14/4/2023, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ông D.V.M, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp B, L, thành phố Bà
Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông M.T.D, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp Đ, L, thành phố Bà Rịa,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông M.T.D: Luật sư V.T.T.N, sinh
năm 1983; địa chỉ: S124A/20 đường Đ.L, phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh
Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt).
- Người kháng cáo: Ông M.T.D bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khi kin quá trình t tng gii quyết v án, nguyên đơn ông
D.V.M trình bày: Ngày 30/5/2022, ông M ông M.T.D ký kết hợp đồng giao
nhn tin cc chuyn nhượng diện ch đt 508,8m
2
tha 159, t bản đồ s 8, L,
thành ph Ra, theo Giy chng nhn quyn s dụng đt s CU 014583 do S Tài
nguyên Môi trường tnh Ra - Vũng Tàu cấp ngày 21/01/2020 cho M.T.Q,
đăng biến động sang tên cho ông M.T.D ngày 20/01/2022. Giá chuyn nhượng đất
là 4.300.000.000 đồng.
2
Theo tha thun ti hợp đồng nêu trên, ông M đặt cc cho ông D s tin
500.000.000 đng cam kết 45 ngày k t ngày 30/5/2022 hai bên s ra VPCC, tnh
Ra-Vũng Tàu để kết hợp đồng chuyn nhượng quyn s dng đất ông M s
thanh toán hết s tin còn li 3.800.000.000 đng. Đồng thi, hai bên tha thun
nếu bên bán đất (bên A là ông D) t ý đơn phương hy hoc c tình không thc hin
đúng theo hợp đồng giữa hai bên đã thỏa thuận theo đúng thời gian cam kết đã nêu thì
ông D phi tr lại cho bên mua đt (bên B ông M) toàn b s tiền đặt cc theo t
l tha thun nhân gp ba s tiền đặt cc. Ông M (bên B) s mt toàn b s tiền đặc
cc nếu ông M không thc hin hoặc đơn phương thay đổi hoc hy tha thun cam
kết gia hai bên.
Khong 9 gi ngày 15/7/2022 ông M P.T.K.T (là người làm chng
trong hợp đồng giao nhn tin cọc ngày 30/5/2022) đu có mt ti VPCC, tnh Ra
- Vũng Tàu (địa ch: T 1, Ô1, p B3, H.V, H, thành ph Rịa) để tiếp tc thc
hin tha thun theo hợp đồng giao nhn tin cc ngày 30/5/2022. Tuy nhiên, ông D
không ra để thc hin th tc chuyn nhượng đất như đã cam kết.
Cũng trong ngày 30/5/2022, ông M ông D kết thêm mt hợp đồng vay
tiền được công chng s 04023, quyn s 1E/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC, s
tin ông D vay bng vi s tin mà ông M đã đặt cc là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên,
hợp đồng vay này ch là hợp đồng gi cách vì thc cht là giao dch đặt cọc để chuyn
nhượng quyn s dụng đất.
Tại đơn khi kin, ông M yêu cu ông D phi hoàn tr cho ông M s tiền đã đặt
cc 500.000.000 đồng s tin pht cc theo tha thun 1.000.000.000 đồng,
tng cng 1.500.000.000 đồng. Quá trình gii quyết ti phiên tòa, ông M xác
định ch yêu cu ông D phi tin cc 500.000.000 đồng pht cc 500.000.000
đồng, tng cng là 1.000.000.000 đồng. Ngoài ra, ông M không yêu cu gì khác.
- Quá trình t tng gii quyết v án, b đơn ông M.T.D trình bày: Ông D thng
nht vi trình bày ca ông M v vic hai bên có ký hợp đồng giao nhn tiền đặt cọc để
tha thun chuyn nhượng diện tích đt 508,8m
2
tha 159, t bản đồ s 8, xã L, thành
ph Ra, vi giá 4.300.000.000 đồng ông đã nhận cc t ông M 500.000.000
đồng. Hai bên tha thun sau 45 ngày k t ngày 30/5/2022 hai bên s ra VPCC, tnh
Ra Vũng Tàu để kết hợp đồng chuyn nhượng quyn s dụng đất ông M
s thanh toán hết s tin còn li 3.800.000.000 đng. Cũng trong ngày 30/5/2022
ông M ông D ký kết thêm mt hợp đng vay tiền được công chng s 04023,
quyn s 1E/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC, tnh Ra - Vũng Tàu với s tin
vay bng vi s tin mà ông M đã đặt cc cho ông D là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên,
hợp đồng vay y ch hợp đồng gi cách đây thực cht giao dịch đt cọc để
chuyn nhượng quyn s dụng đất.
Lý do ngày 15/7/2022 (sau 45 ngày k t ngày 30/5/2022) ông D không ra phòng
công chứng đ làm th tc chuyn nhượng gia ông D ông M tha thun
miệng đến ngày 06/6/2022 ông M s thanh toán trước cho ông D s tin
1.500.000.000 đồng để ông D chuc Giy chng nhn quyn s dụng đất s CU
014583 đang cầm c cho người khác thì mi công chng sang tên cho ông M được.
S vic có s chng kiến ca P.T.K.T (là người làm chng hợp trong đồng đặt cc
ngày 30/5/2022). Do ông M không thc hin tha thun ngày 06/6/2022 vi phm
3
tha thun nên ông D không ra Văn phòng công chứng làm th tc chuyn nhượng đất
cho ông M.
Do đó, ông D không đồng ý vi toàn b yêu cu ca ông M, ông D ch đồng ý tr
cho ông M tin cọc đã nhận 500.000.000 đồng tin lãi theo mc lãi sut ngân hàng
t ngày nhn cọc đến khi tr hết tin cho ông M.
- Tại bản án dân sự thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 của
a án nhân dân thành phố Bà Rịa đã quyết định như sau:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D.V.M.
Buộc ông M.T.D nghĩa vụ trả cho ông D.V.M số tiền cọc đã nhận
500.000.000 đồng stiền phạt cọc 500.000.000 đồng, tổng cộng 1.000.000.000
đồng (Một tỷ đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền
kháng cáo.
- Ngày 08/11/2022 ông M.T.D kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm do không đúng với các tình tiết khách quan
của vụ án, sai lầm trong việc nhận định áp dụng pháp luật; xem xét lại toàn bcác
tình tiết của vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông M.T.D.
- Ti phiên tòa phúc thm, các đương sự không t tha thuận được vi nhau v
vic gii quyết v án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm
theo hướng: Chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 30/5/2022 giữa ông M.T.D ông
D.V.M; Hợp đồng vay tài sản ngày 30/5/2022 giữa ông D.V.M và ông M.T.D vô hiệu
do giả tạo; Buộc ông M.T.D phải trả cho ông D.V.M số tiền 1.000.000.000 đồng; Ông
M.T.D không phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, thể hiện ngày 30/5/2022 ông M.T.D
thỏa thuận chuyển nhượng cho ông D.V.M quyền sử dụng đất diện tích 508,8m
2
thửa
159, tờ bản đồ số 8, xã L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CU 014583 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu cấp ngày 21/01/2020 cho M.T.Q, đăng biến động sang tên ông
M.T.D ngày 20/01/2022; giá chuyển nhượng 4.300.000.000 đồng. Cùng ngày hai
bên ký hợp đồng giao nhận tiền cọc (nội dung hợp đồng đặt cọc) chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên, theo thỏa thuận ông M đặt cọc cho ông D 500.000.000
đồng 45 ngày sau hai bên thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, đồng thời ông M sẽ thanh toán cho ông D số tiền còn lại 3.800.000.000
đồng; trường hợp ông M vi phạm hợp đồng thì mất tiền cọc, ông D vi phạm thì phải
trả lại tiền cọc và bồi thường cho ông M theo thỏa thuận; cùng ngày 30/5/2022, ông M
4
và ông D có ký kết thêm một hợp đồng vay tiền được công chứng số 04023, quyển số
1E/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC, ông M ông D xác nhận hợp đồng vay này
giả cách vì thực chất là giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 15/7/2022 ông M yêu cầu ông D ra VPCC hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo thỏa thuận nhưng ông D không thực hiện. Ông M khởi kiện
yêu cầu ông D trả lại tiền cọc và bồi thường hai lần tiền cọc 1.000.000.000 đồng.
Ông D cho rằng do ông M không thanh toán trước cho ông D số tiền 1.500.000.000
đồng theo thỏa thuận miệng ngày 06/6/2022 vi phạm thỏa thuận nên ngày
15/7/2022 ông D không thực hiện công chứng chuyển nhượng đất cho ông M như cam
kết trong hợp đồng giao nhận tiền cọc. Ông D chỉ đồng ý trả cho ông M 500.000.000
đồng tiền cọc lãi suất theo quy định ktừ ngày nhận cọc. Ông M không thừa nhận
việc thỏa thuận ngày 06/6/2022 thanh toán cho ông D số tiền 1.500.000.000 đồng như
ông D trình bày. Bà P.T.K.T là người làm chứng xác nhận T không biết thỏa thuận
ngày 06/6/2022 giữa ông M ông D về số tiền 1.500.000.000 đồng như ông D trình
bày. Ông D không cung cấp được chứng cứ chứng minh về thỏa thuận ngày 06/6/2022
ông M trả cho ông D 1.500.000.000 đồng nên nội dung trình bày này của ông D
không căn cứ chấp nhận. Do đó, căn cứ xác định ông D vi phạm hợp đồng giao
nhận tiền cọc ngày 30/5/2022 giữa ông D ông M, các bên không tiếp tục thực hiện
hợp đồng giao nhận tiền cọc nên hợp đồng giao nhận tiền cọc chấm dứt, căn cứ Điều
328 Bộ luật dân sự thì ông D phải trả tiền cọc bồi thường cho ông M. Ông M
ông D đều xác nhận hợp đồng vay tiền ngày 30/5/2022 công chứng số 04023, quyển
số 1E/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giữa ông D và ông
M là giả cách nhằm che dấu hợp đồng đặt cọc nên hợp đồng vay tiền bị vô hiệu.
Tại mục 5 của hợp đồng giao nhận tiền cọc ngày 30/5/2022 giữa ông M ông
D có ghi: Bên A phải trả lại cho bên B toàn bộ số tiền đặt cọc theo tỷ lệ thỏa thuận là:
Nhân gấp ba số lần tiền đặt cọc (nhân 2 lần) nếu bên A tý đơn phương hủy hoặc cố
tình không thực hiện đúng theo hợp đồng giao dịch giữa hai bên theo đúng thời gian
cam kết nói trên”. Xét thấy, phần nội dung ghi nhân gấp ba số lần tiền đặt cọc nhưng
trong ngoặc đơn lại ghi “nhân 2 lần”, số “2” có dấu hiệu sửa chữa, tuy nhiên hợp đồng
đặt cọc do các bên cung cấp nội dung giống nhau các bên không thắc mắc nội
dung này. Q trình giải quyết vụ án ông D thừa nhận trường hợp ông D không
chuyển nhượng thì sẽ bị phạt 2 lần tiền cọc (gồm tiền cọc phạt cọc). Ông D
người vi phạm thỏa thuận hợp đồng đặt cọc như đã phân tích ở trên nên ông D phải trả
cho ông M 500.000.000 đồng tiền đặt cọc và bồi thường cho ông M 500.000.000 đồng
theo yêu cầu của ông M. Án sơ thẩm buộc ông D nghĩa vụ trả cho ông M tiền đặt
cọc 500.000.000 đồng tiền phạt cọc 500.000.000 đồng, tổng cộng 1.000.000.000
đồng là có căn cứ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của ông
M.T.D cung cấp “Văn bản thỏa thuận chấm dứt thực hiện hợp đồng Bản trình
bày tại phiên tòa phúc thẩm” của ông D, thấy: Văn bản thỏa thuận chấm dứt thực hiện
hợp đồng nội dung chấm dứt ủy quyền ngày 24/4/2023 giữa ông D với N.T.L1;
Bản trình bày tại phiên tòa phúc thẩm của ông D nội dung ông D vay tiền
N.T.L1 1.500.000.000 đồng và có thế chấp quyền sử dụng đất, P.T.K.T người
làm chứng, sau đó T giới thiệu cho ông D chuyển nhượng đất cho người khác (sau
này ông D mới biết ông M) với giá 4.300.000.000 đồng với điều kiện một tuần sau
5
phải đặt cọc cho ông D 1.500.000.000 đồng để ông D trả tiền vay cho bà L1 để lấy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thì mới chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông M được, nhưng sau đó ông M không đưa thêm cho ông D 1.500.000.000
đồng nên ông D không thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông M.
Ông M cho rằng không biết không liên quan đến n bản thỏa thuận chấm
dứt thực hiện hợp đồng Bản trình bày tại phiên tòa phúc thẩm của ông D nêu trên,
ông M không biết bà N.T.L1 là ai và cũng không biết thỏa thuận giữa ông D, bà L1 và
T nông D trình bày và nội dung này không liên quan đến ông M. Ông D không
cung cấp được chứng cứ chứng minh về sự thỏa thuận ông M giao cho ông D
1.500.000.000 đồng sau ngày kết hợp đồng đặt cọc như ông D trình bày nên không
chấp nhận nội dung trình bày này của ông D.
Tại Bản trình bày tại phiên tòa phúc thẩm” của ông D nội dung cho rằng
sau khi ông D và ông M hợp đồng vay tiền ngày 30/5/2022 thì mới có đề nghị mua
đất của ông D với điều kiện là đưa thêm cho ông D 1.500.000.000 đồng sau đó, nhưng
phía ông M không thực hiện nên không thỏa thuận mua bán xảy ra; hợp đồng đặt
cọc giả tạo, nội dung bị tẩy xóa nên hiệu, thấy: Như nhận định phần trên,
ông M không thừa nhận trình bày của ông D về nội dung thỏa thuận ông M giao cho
ông D 1.500.000.000 đồng sau một tuần kể từ ngày kết hợp đồng đặt cọc, ông D
không cung cấp được chứng cứ chứng minh về sự thỏa thuận này nên không có căn cứ
chấp nhận nội dung trình bày này của ông D; đối với dấu hiệu sửa chữa tại hợp đồng
đặt cọc ngày 30/5/2022 đã được nhận định phần trên, hợp đồng giao nhận tiền cọc
do các bên cung cấp đều có nội dung này, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ
thẩm các bên đều thừa nhận hợp đồng vay giả cách, ông D không cung cấp chứng
cứ nào khác đ chứng minh hợp đồng giao nhận tiền cọc giả tạo nên không chấp
nhận nội dung trình bày này của ông D.
[3] Về án phí dân sự thẩm: Ông M.T.D đồng ý trả tiền đặt cọc không
đồng ý trả tiền phạt cọc cho ông D.V.M. Theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án tông D phải chịu án phí giá
ngạch đối với phần phạt cọc 500.000.000 đồng là 24.000.000 đồng và án phí không có
giá ngạch đối với số tiền đặt cọc 300.000 đồng. Án thẩm tuyên ông D phải chịu
án phí giá ngạch đối với số tiền đặt cọc không đúng, sửa phần này của án
thẩm.
[4] Từ nhận định trên, chấp nhn một phần kháng của ông M.T.D. Sửa bản án
sơ thẩm về án phí.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án thẩm nên ông M.T.D không phải
chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 328, 468 của Bộ
luật dân sự; Điều 26, 27, 29 Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
6
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông M.T.D. Sửa bản án dân sự thẩm s
52/2022/DS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 của a án nhân dân thành phố Rịa,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D.V.M.
1.1. Hợp đồng vay tiền giữa ông D.V.M ông M.T.D công chứng số 04023,
quyển số 1E/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC ngày 30/5/2022 vô hiệu;
1.2. Chấm dứt hợp đồng giao nhận tiền cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thửa số 159, tờ bản đồ số 8, L, thành phố Rịa ngày 30/5/2022 giữa ông D.V.M
và ông M.T.D.
Ông M.T.D có nghĩa vụ trả cho ông D.V.M số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ
đồng), gồm: Tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng và tiền phạt cọc là 500.000.000 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Ông M.T.D phải chịu 24.300.000 đồng (Hai mươi bốn triệu ba trăm nghìn
đồng).
2.2. Ông D.V.M không phải chịu, hoàn trả cho cho ông D.V.M tiền tạm ứng án
phí 28.500.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số
0004678 ngày 27/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sthành phố Rịa, tỉnh
Rịa – Vũng Tàu.
3. Án phí dân sphúc thẩm: Ông M.T.D không phải chịu. Hoàn trả cho ông
M.T.D 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0004927 ngày 09/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rịa, tỉnh
Rịa – Vũng Tàu.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh BR-VT; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Bà Rịa;
- TAND TP Bà Rịa;
- Chi cục THADS TP Bà Rịa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Văn Tâm
7
Tải về
Bản án số 60/2023/DS-PT Bản án số 60/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất