Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 59/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 59/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Phục Hòa (TAND tỉnh Cao Bằng) |
| Số hiệu: | 59/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/12/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | T và V có hành vi mua bán trái phép chất ma túy |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HÒA
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 59/2023/HSST
Ngày 22/12/2023
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Văn Chung và bà Nông Thị Nhật Hằng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mã Thị Diệu – Thư ký Toà án
nhân dân huyện Quảng Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Ông
Hoàng Văn Biên – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa
xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/HSST ngày 01/12/2023
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/HSST-QĐTA ngày 11/12/2023
đối với các bị cáo:
1. ĐÀM VĂN T (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 02/01/1994 tại xã C,
huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.
Nơi cư trú: xóm LH, xã C, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 10/12; con ông: Đàm Văn Ch (đã
chết) và con bà Đàm Thị Ph; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: 01 tiền án, ngày 27/4/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa,
tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa (nay là
huyện Quảng Hòa), tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023, hiện đang đang tạm giam tại
Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Hòa, Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
2. NGUYỄN THỊ V (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 12/12/1990 tại thị
trấn T, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.
Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa
2
giáo; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Văn
Th (đã chết) và con bà Chung Thị V1 (đã chết); chồng: Long Thái Th1, sinh năm
1986, con: có 01 con, sinh năm 2014.
Tiền án: 01 tiền án, ngày 05/7/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử
phạt 40.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
Tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023, hiện đang đang tạm giam tại
Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Hòa, Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng:
+ Lăng Công Ng, sinh năm 1990. Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện Quảng Hòa,
Cao Bằng. Vắng mặt không có lý do.
+ Bế Văn Th2, sinh năm 1985. Trú tại: Xóm N, xã M, huyện Quảng Hòa,
Cao Bằng. Vắng mặt không có lý do.
+ Lý Văn H, sinh năm 1988. Trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn T, huyện Quảng
Hòa, Cao Bằng. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 11/8/2023, Tổ công tác Công an huyện Quảng
Hòa, Cao Bằng phối hợp với Công an thị trấn Tà Lùng, Quảng Hòa thực hiện
nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn thị trấn Tà Lùng. Khi đến bờ sông
Bằng Giang đoạn thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn Tà Lùng thì phát hiện Lăng
Công Ng đang ngồi cạnh bờ sông có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu kiểm
tra thì Ng ném một gói nhỏ từ tay phải xuống sông, còn 01 xi lanh Ng cầm trong
bàn tay trái chưa kịp ném thì bị thu giữ. Ng khai nhận, gói nhỏ vừa ném xuống
sông có chứa ma tuý, loại Heroine vừa mua với Đàm Văn T tại nhà của Nguyễn
Thị V, sinh năm 1990, trú tại: tổ dân phố T, thị trấn T, Quảng Hòa, Cao Bằng với
giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân.
Căn cứ lời khai của Lăng Công Ng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Quảng Hoà tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đàm Văn T,
Nguyễn Thị V và tạm giữ của T số tiền 400.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn
hiệu OPPO, màu đen.
Cùng ngày tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đàm Văn T và Nguyễn
Thị V tại tổ dân phố T, thị trấn T, Quảng Hòa, Cao Bằng (tại 02 nhà của V), cụ
thể:
Phát hiện và thu giữ tại nhà trên của V: 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng trên
tấm phản ở nhà vệ sinh là của Đàm Văn T.
3
Phát hiện và thu giữ tại nhà cạnh bờ sông, gồm: 01 gói nilon màu trắng được
hàn nhiệt, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng, chứa chất bột màu trắng dạng
cục trên nóc tủ tại phòng khách và 01 cân tiểu ly, màu đen trong tủ quần áo tại
buồng ngủ; 02 xilanh loại 3cc đã qua sử dụng để trên nóc tủ phòng khách và 01
gói giấy bạc màu trắng, bên trong có 04 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột
dạng cục màu nâu trên kệ bát ở gian bếp là của T cất giấu.
Hồi 18 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện
Quảng Hòa tiến hành cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ khi khám xét
khẩn cấp: Chất bột màu trắng có trong gói giấy bạc màu vàng thu giữ trên nóc tủ
tại phòng khách có khối lượng 0,104 gam; chất bột màu nâu có trong 04 gói giấy
bạc màu trắng thu giữ trên kệ bát ở bếp có khối lượng 0,110 gam. Sau khi cân
được niêm phong gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 425/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Hai mẫu chất bột bên trong hai phong bì
niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra xác định được: Từ khoảng tháng 02/2023 giữa T và V có
quan hệ tình cảm và cả hai chung sống như vợ chồng tại nhà của V tại tổ dân phố
T, thị trấn T, Quảng Hòa. Trong quá trình chung sống, V biết T là người nghiện
ma túy nên sáng ngày 10/8/2023, V nói với T về việc đi mua ma túy về cho T sử
dụng và bán lại kiếm lời. Sau đó V một mình đến khu vực bờ sông Bằng Giang
đoạn thuộc tổ dân phố T, thị trấn T tìm mua ma túy thì gặp và mua với một người
đàn ông không quen biết 02 gói ma túy với giá 800.000 đồng. Mua được ma túy
V đi về nhà ở gần bờ sông và nói với T là đã mua được ma túy rồi tự cất 01 gói
lên nóc tủ trong phòng khách, gói còn lại V đem về nhà trên cất giấu trong phòng
ngủ. Đến khoảng 10 giờ ngày 11/8/2023, khi V và T đang ở nhà thì có Lăng Công
Ng gọi điện thoại hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy thì V đi vào phòng ngủ lấy
ra cho T 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng, T cầm gói ma túy đi
xuống nhà gần bờ sông trước, V đi xuống theo sau. Sau đó Ng đi xe mô tô đến
gặp và đưa cho T số tiền 500.000 đồng, T đưa cho Ng gói ma túy mang theo. Mua
được ma túy Ng ra bờ sông gần đo chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng chức năng
phát hiện nên vứt gói ma túy xuống sông.
Ngoài ra Đàm Văn T còn khai nhận tự mình nhiều lần đi mua ma túy về sử
dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời cho Bế Văn Th2, Lý Văn H. Cụ thể:
Trong tháng 5 năm 2023, T đến khu vực bờ sông Bằng Giang thuộc tổ dân
phố T, thị trấn T mua với một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với
giá 500.000 đồng. Mua được ma túy T đã sử dụng đi một phần và bán lại cho Bế
Văn Th2, sinh năm 1985, trú tại: xóm N, xã M, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng phần
gói ma túy còn lại với giá 500.000 đồng tại nhà của V (nhà gần bờ sông) ở tổ dân
phố T, thị trấn T.
Ngày 09/8/2023, T đến khu vực gần cây xăng ở thị trấn Tà Lùng, Quảng Hoa
4
mua với một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng.
Sau khi mua được ma tuý T sử dụng cho bản thân một ít, cùng ngày bán gói ma
tuý trên cho Lý Văn H, sinh năm 1988, trú tại: tổ dân phố P, thị trấn T, Quảng
Hoà, Cao Bằng với giá 500.000 đồng cũng tại nhà của V ở bờ sông.
Căn cứ lời khai của Đàm Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện
Quảng Hòa đã triệu tập, lấy lời khai đối với các đối tượng có liên quan. Tại Cơ
quan điều tra Bế Văn Th2 và Lý Văn H khai nhận bản thân là người sử dụng ma
túy, loại Heroine và được mua ma túy với T mỗi người 01 lần về sử dụng, phù
hợp với lời khai của T.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Số 425/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám
định vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T, bắt ngày 11/8/2023” bên trong có: Mẫu số
01: có khối lượng 0,0570 gam; Mẫu số 02: có khối lượng 0,0625 gam.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Giấy gói và vỏ niêm phong
ban đầu vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T ngày 11/8/2023” bên trong có giấy gói
và vỏ niêm phong.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “xilanh của Lăng Công Ng”
bên trong có 01 Xilanh chưa qua sử dụng.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Bơm kim tiêm thu giữ tại
nhà của Nguyễn Thị V ngày 11/8/2023” bên trong có 01 xilanh đã qua sử dụng.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “02 Xilanh thu giữ khi khám
xét ngày 11/8/2023” bên trong có 02 xilanh đã qua sử dụng.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Cân tiểu ly thu giữ khi khám
xét ngày 11/8/2023”. Bên trong có 01 cân tiểu ly, màu đen.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI:
864267040573834, sồ IMEỈ2: 864267040573826, gắn 02 sim số: 0353.131.240
và 0325.941.390.
- Số tiền 400.000 đồng.
Đối với những người bán ma túy theo lời khai của V và T, do không rõ nhân
thân, lai lịch nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSQH ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố bị cáo Đàm Văn T về tội “Mua bán trái
phép chất ma tuý” theo điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo
Nguyễn Thị V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ
luật hình sự.
Tại phiên tòa:
5
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận
tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, kết luận giám định mà Cơ
quan điều tra đã thu thập được.
Những người làm chứng Lăng Công Ng, Lý Văn H và Bế Văn Th2 vắng mặt
tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã thừa nhận được mua ma túy với bị
cáo Đàm Văn T như T đã khai nhận.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và luận
tội đối với các bị cáo theo như Cáo trạng số 64/CT-VKSQH ngày 30/11/2023 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Đàm Văn T từ 08
đến 09 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều
52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V từ 02 năm
06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Số 425/KL-KTHS.
Hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T, bắt ngày 11/8/2023”;
01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Giấy gói và vỏ niêm phong ban
đầu vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T ngày 11/8/2023”; 01 (một) phong bì niêm
phong, mặt trước ghi: “Xilanh của Lăng Công Ng”; 01 (một) phong bì niêm
phong, mặt trước ghi: “Bơm kim tiêm thu giữ tại nhà của Nguyễn Thị V ngày
11/8/2023”; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “02 Xilanh thu giữ khi
khám xét ngày 11/8/2023”.; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Cân
tiểu ly thu giữ khi khám xét ngày 11/8/2023”. Bên trong có 01 cân tiểu ly, màu
đen.
- Tịch thu phát mại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen của
Đàm Văn T do dung vào việc phạm tội.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng do bị cáo Nguyễn
Thị V và Đàm Văn T bán ma túy mà có.
- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Đàm Văn T bán ma túy mà có để
nộp vào ngân sách nhà nước.
- Truy thu số tiền 100.000 đồng do bị cáo Đàm Văn T và Nguyễn Thị V bán
ma túy mà có.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.
6
Khi được nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi vi phạm mong
Hội đồng xét xử xem xét cho mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành
vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với
bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ, kết luận
giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở được
thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Bị cáo Đàm Văn T là người nghiện ma túy nên đã nhiều lần đi mua ma túy,
loại Heroine với nhiều người khác nhau tại thị trấn Tà Lùng, Quảng Hòa về để sử
dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Từ tháng 5 năm 2023 đến ngày 108/2023
bị cáo đã bán cho Bế Văn Th2 và Lý Văn H mỗi người một lần, 01 gói ma túy với
giá 500.000 đồng. Trong ngày 11/8/2023, T còn lấy với Nguyễn Thị V 01 gói ma
túy đem bán cho Lăng Công Ng với giá 500.000 đồng. Ngoài ra bị cáo T còn có
hành vi cất giấu 04 gói ma túy, có khối lượng 0,110 gam trên kệ bát ở gian bếp
tại nhà gần bờ sông của V chưa kịp sử dụng và bán lại thì bị phát hiện thu giữ. Do
đó hành vi của bị cáo Đàm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép
chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị V, sáng ngày 10/8/2023 đã tự mình đi mua với
một người đàn ông không quen biết tại khu vực gần bờ Sông Bằng Giang đoạn tổ
dân phố T, thị trấn Tà Lùng, Quảng Hòa 02 gói ma túy, loại Heroine với giá
800.000 đồng đem về cất giấu mục đích để bán lại kiếm lời. Ngày 11/8/2023 có
Lăng Công Ng hỏi T mua ma túy, T đã hỏi V có ma túy không, V đã đưa cho T
01 gói ma túy để T đem bán cho Ng, gói ma túy còn lại có khối lượng 0,104 gam
V cất giấu trên nóc tủ tại phòng khách ở nhà gần bờ sông thì bị thu giữ khi khám
xét. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Thị V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán
trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.
7
Như vậy, Cáo trạng số 64/CT-VKSQH ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy
định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách
độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo là người có đầy đủ
năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy, tuy nhiên để
thỏa mãn nhu cầu cá nhân và có vốn để xoay vòng các bị cáo đã mua ma tuý
(Heroine) về sử dụng và bán lại kiếm lời, điều đó góp phần gây ra các tệ nạn xã
hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trong khu vực, bị quần chúng nhân dân
lên án. Trong vụ án này Đàm Văn T tự mình thực hiện hành vi mua bán trái phép
chất ma túy 02 lần và 01 lần cùng Nguyễn Thị V thực hiện hành vi mua bán trái
phép chất ma túy. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian
nhằm cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đối với bị cáo Đàm Văn T bị cáo có nhân thân xấu là người nghiện ma túy.
Có 01 tiền án, ngày 27/4/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao
Bằng xử phạt 12 tháng tù về Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án
tích); tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 22/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Phục
Hòa (nay là Quảng Hòa), Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị V có 01 tiền án, ngày 05/7/2021 bị Tòa án nhân
dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 40.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bị cáo chưa thi hành
xong hình phạt chính; tiền sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại
phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên các bị cáo được
hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thị V và Đàm
Văn T có 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều
52 Bộ luật hình sự.
[4] Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội và đề nghị áp dụng các điều luật đối
với các bị cáo và xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Số 425/KL-KTHS.
Hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T, bắt ngày 11/8/2023”
bên trong có: Mẫu số 01: có khối lượng 0,0570 gam; Mẫu số 02: có khối lượng
0,0625 gam; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Giấy gói và vỏ niêm
8
phong ban đầu vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T ngày 11/8/2023” bên trong có
giấy gói và vỏ niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Xilanh
của Lăng Công Ng” bên trong có 01 Xilanh chưa qua sử dụng; 01 (một) phong bì
niêm phong, mặt trước ghi: “Bơm kim tiêm thu giữ tại nhà của Nguyễn Thị V
ngày 11/8/2023” bên trong có 01 Xilanh đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm
phong, mặt trước ghi: “02 Xilanh thu giữ khi khám xét ngày 11/8/2023” bên trong
có 02 Xilanh đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Cân
tiểu ly thu giữ khi khám xét ngày 11/8/2023” bên trong có 01 cân tiểu ly, màu
đen. Đây là những vật không có giá trị sử dụng và Nhà nước cấm lưu hành.
- Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động
nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI: 864267040573834, sồ IMEI 2:
864267040573826, gắn 02 sim số: 0353.131.240 và 0325.941.390. Đây là điện
thoại bị cáo T sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng do bị cáo Nguyễn
Thị V và bị cáo Đàm Văn T bán ma túy cho Lăng Công Ng mà có.
- Truy thu số tiền 100.000 đồng do các bị cáo T và V bán ma túy cho Lăng
Công Ng mà có để nộp vào ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo T tự nguyện
chịu số tiền truy thu 100.000 đồng.
- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Đàm Văn T bán ma túy cho Lý Văn
H và Bế Văn Th2 mà có để nộp vào ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Đàm Văn T và Nguyễn Thị
V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251 và điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h,
khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đàm Văn T 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 11/8/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251 và điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1
Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.
9
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106
của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Số 425/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám
định vụ Nguyễn Thị V và Đàm Văn T, bắt ngày 11/8/2023” bên trong có: Mẫu số
01: có khối lượng 0,0570 gam; Mẫu số 02: có khối lượng 0,0625 gam; 01 (một)
phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu vụ
Nguyễn Thị V và Đàm Văn T ngày 11/8/2023” bên trong có giấy gói và vỏ niêm
phong.
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Xilanh của Lăng Công Ng”
bên trong có 01 Xilanh chưa qua sử dụng.
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Bơm kim tiêm thu giữ tại
nhà của Nguyễn Thị V ngày 11/8/2023” bên trong có 01 xilanh đã qua sử dụng.
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “02 xilanh thu giữ khi khám
xét ngày 11/8/2023” bên trong có 02 xilanh đã qua sử dụng.
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Cân tiểu ly thu giữ khi
khám xét ngày 11/8/2023” bên trong có 01 cân tiểu ly, màu đen. Đây là chiếc cân
mục đích bị cáo sử dụng vào việc chia nhỏ ma túy.
Đây là những vật không có giá trị sử dụng và Nhà nước cấm lưu hành.
- Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI:
864267040573834, sồ IMEI 2: 864267040573826, gắn 02 sim số: 0353.131.240
và 0325.941.390. Đây là điện thoại bị cáo T sử dụng vào việc liên lạc mua bán
trái phép chất ma túy.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng do bị cáo Nguyễn
Thị V và bị cáo Đàm Văn T bán ma túy cho Lăng Công Ng mà có.
- Truy thu số tiền 100.000 đồng do các bị cáo T và V bán ma túy cho Lăng
Công Ng mà có để nộp vào ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo T tự nguyện
chịu số tiền truy thu 100.000 đồng.
- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Đàm Văn T bán ma túy cho Lý Văn
H và Bế Văn Th2 mà có để nộp vào ngân sách nhà nước.
(Toàn bộ số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng
Hòa đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa tại Biên bản
giao nhận vật chứng, lập hồi 15 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 12 năm 2023).
10
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Đàm Văn T và Nguyễn Thị V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ
(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình
sự: các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cao Bằng;
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Cao Bằng;
- VKSND huyện Quảng Hòa;
- Công an huyện Quảng Hòa;
- Chi Cục THADS huyện Quảng Hòa;
- Bị cáo;
- Lưu AV, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Hoàng Quốc Khánh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm