Bản án số 59/2023/DS-PT ngày 22/02/2023 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 59/2023/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 59/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 59/2023/DS-PT ngày 22/02/2023 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 59/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp thừa kế |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 59/2023/DS-PT
Ngày: 22/02/2023
V/v: Tranh chấp thừa kế.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Ông Vũ Toàn Giang
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân
Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Mai Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân TP. Hà Nội xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số: 474/2022/TLPT- DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về
tranh chấp thừa kế; Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2022/DSST ngày 26/9/2022 của Tòa
án nhân dân huyện Thanh Oai bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
494/2022/QĐ – PT ngày 21 tháng 11 năm 2022; Giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1- Bà Trần Thị Lạc, sinh năm 1950. Nơi ĐKNKTT: Số nhà 16, ngõ 169, phố Phạm
Hưu Điều, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số 10, ngách 22, ngõ 92
đường Lê Thánh Tông, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng. C mt.
2- Bà Trần Thị Nhân, sinh 1952. Nơi ĐKNKTT: Thôn Tảo Dương, xã Hồng Dương,
Thanh Oai, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Số 57, đường Trung tâm xã Hồng Dương,
huyện Thanh Oai, TP Hà Nội. C mt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lạc, bà Nhân: Ông Trần Xuân Bình, sinh năm
1982. Trú tại: Số nhà 62, ngách 279/37, Tổ 7, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành
phố Hà Nội. C mt.
Bị đơn: Ông Trần Vĩnh Trân, sinh năm 1944. ĐKNKTT: xm Tiếu, thôn Hoàng
Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Số 38 đường Cô
Giang, phường 4, thành phố Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2
Người được ủy quyền: Anh Trần Văn Thành, sinh năm 1969 (con đẻ ông Trân).
Nơi cư trú: Số 38 đường Cô Giang, phường 4, thành phố Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu. C mt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Mậu, sinh năm 1948 (vợ ông Trân).ĐKNKTT: xm Tiếu, thôn
Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.Chỗ ở: Số 38 đường
Cô Giang, phường 4, thành phố Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người được ủy quyền: Anh Trần Văn Thành (con ông Trân, bà Mậu). C mt
2. Anh Trần Văn Thành, sinh năm 1969 (con đẻ ông Trân, bà Mậu). Nơi cư trú: Số
38 đường Cô Giang, Phường 4, thành phố Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. C mt
3. Chị Trần Thị Hương, sinh năm 1972 (con đẻ ông Trân, bà Mậu); Nơi cư trú: Số
10 ngách 62 ngõ Thổ Quan, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, TP. Hà Nội. Vắng mt
4. Anh Trần Vĩnh Thịnh, sinh năm 1975 (con đẻ ông Trân, bà Mậu); Trú tại: số nhà
504 Phạm Văn Bạch, phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mt
5. Chị Trần Thị Lan, sinh năm 1977 (con đẻ ông Trân, bà Mậu). Nơi cư trú cuối
cùng: Thôn Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội. Vắng mt
Người kháng cáo: Ông Trần Vĩnh Trân; Bà Trần Thị Lạc; Bà Trần Thị Nhân
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn là bà Trần Thị Lạc và bà Trần
Thị Nhân trình bày:
Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 08, c diện tích 670m
2
địa chỉ: Thôn Hoàng Trung, xã
Hồng Dương, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội (Nay là số nhà 74 đường thôn Hoàng
Trung, xã Hồng Dương) đã được UBND huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/12/2007 mang tên Hộ ông Trần Vĩnh Trân. Thửa
đất này c nguồn gốc từ ông bà nội của bà là cố Trần Văn Khoái (chết năm 1913) vợ là cố
Lê Thị Phả (chết năm1968) để lại cho bố bà là cụ Trần Vĩnh Tuy (chết năm 1953) và vợ là
cụ Đỗ Thị Thỏa (chết năm 1955). Cố Khoái và cố Phả chỉ c 01 con duy nhất là cụ Tuy.
Cụ Tuy và cụ Thỏa sinh được ba người con là: Trần Vĩnh Trân, sinh năm 1945; Trần
Thị Lạc, sinh năm 1950; Trần Thị Nhân, sinh 1952. Ngoài ba người con trên, bố mẹ hai bà
không có con riêng và không có con nuôi nào khác.
Thửa đất trên hiện nay do ông Trần Vĩnh Trân đại diện hộ gia đình đứng tên trong Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 924917 do UBND huyện Thanh Oai cấp ngày
27/12/2007. Năm 2006, ông Trân đã thống nhất lập giấy chia đất cho 2 bà 100 m
2
đất để 2
bà làm nhà đi lại về sau này với gia đình và gia tộc. Ngày 08/4/2008 ông Trân cùng chị em
bà đã thống nhất làm đơn chuyển nhượng đất thổ cư (đất ở) của gia đình cho bà Lạc, bà
Nhân 100 m
2
đất, c xác nhận của họ Trần là ông Trần Văn Dinh, Trần Bỉnh Khiêm và đại
diện cơ sở thôn là ông Đỗ Xuân Hòa xác nhận nhưng sau ông Trân không thực hiện nên
hai bà khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế thửa đất trên theo pháp luật.
Tại phiên hòa giải ngày 18/02/2020, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên quan điểm chia được 100m
2
đất như trong giấy ông Trần Vĩnh Trân đã chia. Tại
3
phiên tòa ngày 07/8/2020 hai bà Lạc và Nhân đồng ý nhận thanh toán bng tiền hoc vàng,
anh Thành đại diện cho ông Trân đồng ý thanh toán cho mỗi bà 200.000.000 đồng nhưng
hai bà không đồng ý và yêu cầu phải thanh toán cho mỗi bà là 300.000.000 đồng. Do
không thỏa thuận được về mức thanh toán giá trị nên hai bà tiếp tục yêu cầu giải quyết theo
pháp luật.
Bị đơn: Ông Trần Vĩnh Trân có đơn trình bày với nội dung: Thửa đất tranh chấp là
đất thờ tự của gia tộc, do ông nội ông là cố Trần Vĩnh Khoái để lại cho bố ông là cụ Trần
Vĩnh Tuy và bố ông để lại cho ông. Trước khi cố Phả chết, cố đã viết di chúc giao lại toàn
bộ nhà đất cho ông để làm nơi thờ cúng các cụ, do chiến tranh và lâu ngày nên di chúc bị
thất lạc, ông đã xin xác nhận của chính quyền xác nhận việc này rồi vì thế ông không đồng
ý chia cho bà Lạc và bà Nhân.
Ông Trân ủy quyền cho con trai trưởng là anh Trần Văn Thành đại diện cho ông tham
gia tố tụng tại Tòa án, sau đ ông Trân lại làm giấy ủy quyền cho luật sư Nguyễn Văn
Thưởng.
Ông Thưởng đại diện theo y quyền ca bị đơn tại cấp sơ thẩm trình bày:
Theo qui định pháp luật trong giai đoạn từ 1980 đến 1993 thì đất đai không phải là di
sản thừa kế, Nhà nước thực hiện chế độ quốc hữu hoá đất đai và giao đất cho người c nhu
cầu sử dụng theo hạn mức, người sử dụng đất phải c trách nghiệm bồi bổ, phát triển đất,
phải c trách nghiệm giao nộp thuế và sản phẩm cho nhà nước, nếu không sử dụng, không
thực hiện trách nghiệm khi sử dụng đất thì sẽ bị thu hồi.
Căn cứ qui định tại phần II về Di sản thừa kế, tại Thông tư số 81 của Toà án nhân dân
Tối cao ngày 24/7/1981 thì di sản thừa kế của cụ Tuy, và cụ Thoả là thửa đất số 116 tờ bản
đồ số 8 đã không còn kể từ ngày 24/7/1981. Áp dụng Quyết định số 201-CP ngày 01 tháng
07 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ, đối chiếu tình hình sử dụng đất tại địa phương, chế
độ quản lý giao đất của UBND xã Hồng Dương, thì Thửa đất số 116 tờ bản đồ số 8 được
UBND xã Hồng Dương cấp riêng cho hộ gia đình ông Trần Vĩnh Trân, bà Nguyễn Thị
Mậu theo nhu cầu sử dụng đất và được cấp theo hạn mức. Áp dụng Quyết định số 201-CP
ngày 01 tháng 07 năm 1980, Luật đất đai năm 1987 và Luật đất đai năm 1993 thì Thửa đất
số 116 tờ bản đồ số 8 được UBND xã Hồng Dương giao cho hộ gia đình ông Trân, bà Mậu
và gia đình ông Trân, bà Mậu sử dụng liên tục từ năm 1980 đến nay đúng mục đích, đúng
qui hoạch, đúng pháp luật, luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước nên không bị thu
hồi. Vì vậy, yêu cầu chia thừa kế của bà Trần Thị Lạc và bà Trần Thị Nhân là không c
căn cứ. Thửa đất số 116 tờ bản đồ số 8 là tài sản riêng của hộ gia đình ông Trần Vĩnh Trân
được nhà nước cấp theo hạn mức để sử dụng theo qui định tại Quyết định số 201-CP ngày
01 tháng 07 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ. Đề nghị Tòa không chấp nhận yêu cầu
chia thừa kế của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Thành trình bày: Hộ ông
Trần Vĩnh Trân gồm các thành viên: Ông Trần Vĩnh Trân, sinh năm 1944 vợ là bà Nguyễn
4
Thị Mậu, sinh năm 1948, các con của ông Trân và bà Mậu gồm: Con trai Trần Vĩnh Thành,
sinh năm 1969, con gái Trần Thị Hương, sinh năm 1972, con trai Trần Vĩnh Thịnh, sinh
năm 1975, con gái Trần Thị Lan, sinh năm 1977 đều sinh quán tại xm Tiếu, thôn Hoàng
Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.
Về nguồn gốc sử dụng đất: Đất là của cụ cố Trần Vĩnh Khoái (chết ngày 10/3/1913) và
vợ là cố Lê Thị Phả (chết ngày 26/5/1968) để lại cho ông Trần Vĩnh Trân. Hai cố có con
trai duy nhất là cụ Trần Vĩnh Tuy (chết ngày 28/9/1953), c vợ cả là cụ Lê thị Miết, chết
năm 1987, không c con, vợ hai là cụ Nguyễn Thị Thỏa (chết ngày 13/9/1955). Cụ Tuy và
cụ Thỏa sinh được 03 người con gồm: Trần Vĩnh Trân, sinh năm 1944; Trần Thị Lạc, sinh
năm 1950; Trần Thị Nhân, sinh năm 1952. Bà Trần Thị Lạc thoát ly năm 1968 (đi học và
đi làm) năm 1972, lấy chồng và sinh sống ở Hải Phòng từ đ cho đến nay. Bà Trần Thị
Nhân thoát ly năm 1972 (đi học và dạy học ở Sơn La), sau đ lấy chồng, hiện đã c nhà ở
xã Hồng Dương – Thanh Oai – Hà Nội. Ông Trần Vĩnh Trân lấy bà Nguyễn Thị Mậu vào
năm 1968. Đất các cụ để lại không rõ là bao nhiêu, lúc đầu nhà và đất c ít, xung quanh là
ruộng trũng, bờ ao, rãnh nước, bờ tre không ai sử dụng, ông Trân và bà Mậu đã cùng các
con cải tạo, san lấp, mở rộng để sử dụng từ năm 1968 mới được như hiện nay (trên 800m
2
).
Khi nhà cửa các cụ để lại hư hỏng thì ông Trân và bà Mậu sửa chữa, đến khi quá cũ nát thì
gia đình ông Trân và bà Mậu phá dỡ và xây dựng nhà ở trên thửa đất như hiện nay, thực
hiện nghĩa vụ đng thuế và được cấp giấy chứng nhận thửa đất ngày 27/12/2007 (BL 48).
Khi nhà nước thực hiện chính sách quản lý đất đai và chia theo hạn mức thì y ban nhân
dân xã Hồng Dương đã thu hồi 288 m
2
để giao cho gia đình khác, phần còn lại tách thành
hai thửa: Một thửa là đất vườn diện tích 212m
2
, một thửa là đất ở diện tích 388m
2
. Trong
quá trình sử dụng gia đình ông Trân tiếp tục tôn tạo, mở rộng nên đến năm 1997 xã lập lại
bản đồ thì thửa đất ở c diện tích là 470m
2
. Gia đình ông Trân gìn giữ, tôn tạo đất đai cho
đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hai thửa lại nhập thành một thửa
chung thì mới c được như bây giờ. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Mậu cng các anh chị
Trần Thị Hương, Trần Vĩnh Thịnh, Trần Thị Lan: Được Tòa án thông báo và niêm yết
nhưng không c ý kiến gì.
*Tại Biên bản Thẩm định – định giá tài sản ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Hội
Đồng thẩm định, định giá tài sản huyện Thanh Oai, Tp. Hà Nội đã kết luận về giá các
tài sản sau: Đất 654,3m
2
x 4.000.000 đồng/m
2
= 2.617.200.000 đồng (Hai tỷ, sáu trăm
mười bảy triệu, hai trăm nghìn đồng). Nhà cấp bốn, xây 1 tầng, đổ mái bê tông, lợp mái
chống nng. Nhà diện tích: 112,1m
2
x 3.997.000đồng/m
2
x 55% = 246.434.000 đồng. Mái
chống nng diện tích: 104m
2
x 950.000đồng/m
2
x 55% = 54.340.000 đồng. Sân lát gạch đỏ
diện tích: 136m
2
x 253.000đồng/m
2
x 30% = 10.322.000 đồng. Phần ngõ lát gạch đá xẻ
diện tích: 57,7m
2
x 274.000đồng/m
2
x 30% = 4.743.000 đồng. Cổng ngõ 4 cánh bng sắt,
5
xây trụ hai bên lợp mái ngi khung sắt diện tích: 10,7 m
2
x 476.000 đồng/m
2
x 60% =
3.055.000 đồng. Tường bao giáp ngõ xây gạch, phía dưới lát đá xẻ diện tích: 23,5m
2
x
610.000đồng/m
2
x 40% = 5.734.000 đồng.
1. Cau 21 cây x 420.000đồng/cây = 8.820.000đồng.
2. Bưởi 08 cây x 200.000đồng/cây = 1.600.000đồng.
3. Xoài 02 cây x 420.000đồng/cây = 840.000đồng.
10. Nhãn 02 cây x 780.000đồng/cây = 1.560.000đồng.
11. Mít 03 cây x 800.000đồng/cây = 2.400.000đồng.
12. Na 02 cây x 100.000đồng/cây = 200.000đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 2.957.248.000 đồng (Hai tỷ, chín trăm năm mươi bảy triệu, hai
trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2022/DS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án huyện Thanh
Oai xử:
Chấp nhận mt phn yêu cu khởi kiện của bà Trn Thị Lạc và bà Trn Thị Nhân về
yêu cu chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Xử: Khối tài sản gm: Quyền sử dng 654,3m
2
đất ở x 4.000.000 đng/m
2
=
2.617.200.000 đng (Hai tỷ, sáu trăm mười bảy triệu, hai trăm nghìn đng) thuc thửa đất
số 116, tờ bản đ số 8, có địa chỉ tại: Thôn Hoàng Trung, xã Hng Dương, huyện Thanh
Oai, TP Hà Ni + Tài sản trên đất (Nhà ở, cây trng) có giá trị: 340.048.000đng = Tổng
giá trị 2.957. 248. 000 đng (Hai tỷ, chín trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi tám
nghìn đng) được xác định: H gia đình ông Trn Vnh Trân có quyền sử dng, sở hu
266,3m
2
đất và tài sản trên đất, phn cn lại 388m
2
đất ở được xác định là di sản thừa kế
chuyn tiếp từ cố Trn Văn Khoái (chết năm 1913), c Trn Vnh Tuy (Chết năm 1953), c
Đ Thị Tha (chết năm 1955), cố Lê Thị Phả (chết năm 1968), c Lê Thị Miết (chết năm
1986). Trích công sc duy trì tài sản cho h gia đình ông Trn Vnh Trân 200m
2
cn lại
188m
2
đất được chia thừa kế theo pháp luật.
Xác nhận nhng người được hưởng thừa kế cuối cng gm ông Trn Vnh Trân, bà
Trn Thị Lạc, bà Trn Thị Nhân, tổng là 3 kỷ phn. Mi kỷ phn được hưởng có giá trị là
226.344.000 đng. Riêng ông Trn Vnh Trân đưởng hưởng thêm phn di sản của c Miết
có giá trị là 72.920.000 đng, tổng cng = 299.262.700 đng.
Giao cho h gia đình ông Trn Vnh Trân được quản lý, sử dng toàn b 654,3 m
2
đất
và tài sản trên đất thuc thửa đất số 116, tờ bản đ số 8, có địa chỉ tại: Thôn Hoàng
Trung, xã Hng Dương, huyện Thanh Oai, TP Hà Ni (Theo giấy chng nhận quyền sử
dng đất số AG 924917 do y ban nhân dân huyện Thanh Oai cấp cho h gia đình ông
Trn Vnh Trân ngày 27/12/2007. H gia đình ông Trn Vnh Trân gm các thành viên: Bà
Nguyễn Thị Mậu (Vợ ông Trân); Anh Trn Văn Thành, chị Trn Thị Hương, anh Trn
Vnh Thịnh, chị Trn Thị Lan (các con của ông Trân và bà Mậu) có ngha v liên đi
thanh toán giá trị kỷ phn thừa kế mà bà Lạc và bà Nhân mi bà được hưởng, c th:
6
Thanh toán trả bà Trn Thị Lạc là 230.000.000 đng (Hai trăm ba mươi triệu đng), thanh
toán trả bà Trn Thị Nhân là 230.000.000 đng (Hai trăm ba mươi triệu đng) .
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án.
Ông Trân c đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lạc, bà Nhân.
Bà Lạc và bà Nhân c đơn kháng cáo: Đề nghị không trích công sức cho ông Trân, chia
di sản bng hiện vật đều cho tất cả các thừa kế.
Tại phiên tòa hôm nay:
Các đương sự giữ nguyên ý kiến đã trình bày, không thỏa thuận được với nhau.
Đại diện VKSND thành phố Hà Nội tham gia phiên toà có quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa đã tiến hành các bước tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Các
đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về ni dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện VKSND thành phố Hà Nội đề
nghị HĐXX: Không c căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn. Căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vu án được kiểm tra
công khai tại phiên tòa; sau khi nghe các bên tranh luận; Hội đồng xét xử phúc thẩm
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
1. Về thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế:
Cố Trần Văn Khoái chết năm 1913, cố Lê Thị Phả chết năm 1968; Hàng thừa kế thứ
nhất của cố Khoái là cố Phả và cụ Trần Vĩnh Tuy; Hàng thừa kế thứ nhất của cố Phả là
ông Trân, bà Lạc, bà Nhân (hưởng thế vị của cụ Tuy). Cụ Tuy chết năm 1953, hàng thừa
kế thứ nhất của cụ Tuy là: Cụ Miết, cụ Thỏa, ông Trân và bà Lạc, bà Nhân. Cụ Thỏa chết
năm 1955, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thỏa là bà Lạc, bà Nhân, và ông Trân. Cụ Miết
chết năm 1987, không c con đẻ. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều xác định giữa
cụ Miết và ông Trân, bà Lạc, bà Nhân không c quan hệ nuôi dưỡng nhau. Theo xác nhận
của UBND xã Hồng Dương thì hiện bố, mẹ, anh chị em ruột và cháu ruột của cụ Miết đều
đã chết hết, không còn ai. Vì vậy xác định cụ Miết không còn người thừa kế theo pháp luật
ở hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
2. Về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất tranh chấp và việc xác định di sản thừa
kế. Nhận thấy:
Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 116, tờ bản đồ số 8 tại: Thôn
Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội của cố Trần Văn Khoái và
cố Lê Thị Phả để lại. Từ năm 1968, bà Lạc đi thoát ly; năm 1972 bà Nhân đi thoát ly dạy
học tại Sơn La; chỉ còn lại gia đình vợ chồng ông Trân, bà Mậu sử dụng và c công sức
quản lý, tôn tạo, san lấp đất trũng, duy trì, đng thuế và mở rộng đất.
7
Năm 1983, do gia đình ông Trân sử dụng đất vượt hạn mức nên y ban nhân dân xã
đã thu hồi một phần diện tích đất giao cho người khác. Theo Sổ mục kê năm 1983, thửa
đất mang số thửa 289 đứng tên bà Mậu (vợ ông Trân), DT 600m
2
bao gồm: 388m
2
đất ở
và 212m
2
đất vườn; theo Sổ mục kê năm 1997 thửa đất mang số thửa 116, diện tích 670m
2
gồm 470m
2
đất vườn và 200m
2
đất ở
đứng tên ông Trân. Năm 2007 toàn bộ 670m
2
thửa
116 được UBND huyện Thanh Oai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ ông Trân.
Số đo thửa đất thực tế hiện nay là 654,3m
2
.
Phía nguyên đơn đề nghị xác định toàn bộ thửa đất số 116 diện tích 654,3m
2
(theo số
đo hiện nay) là di sản của ông, bà, bố, mẹ các bà để lại chưa chia và đề nghị chia thừa kế
theo pháp luật cho chị em các bà được hưởng; Phía bị đơn đề nghị xác định thửa đất này
thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Trân vì cụ Phả đã cho ông Trân và hộ gia đình
ông Trân đã được Nhà nước công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, căn cứ
Nghị quyết 02/2004/HĐTP ngày 20/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thì thửa đất này không phải là di sản thừa kế của cố Khoái, cố Phả, cụ Tuy, cụ Thỏa.
Xét thấy:
Thửa đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình ông Trân c nguồn
gốc một phần là của cố Khoái, cố Phả để lại, gia đình ông Trân, bà Mậu c công sức tôn
tạo, duy trì, mở rộng. Không c căn cứ xác định ông Trân đã được cố Phả cho và không có
căn cứ xác định bà Lạc, bà Nhân đồng ý với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho
hộ ông Trân. Do đ, phần đất của cố Khoái, cố Phả được coi là di sản thừa kế chưa chia
nên yêu cầu chia thừa kế di sản của bà Nhân, bà Lạc đối với phần đất của cố Khoái, cố
Phả, cụ Tuy, cụ Thỏa là c căn cứ.
Bà Lạc, bà Nhân không xuất trình được tài liệu, chứng cứ xác định diện tích ban đầu
của cố Khoái, cố Phả để lại là bao nhiêu. Vợ chồng, con cái ông Trân sử dụng đất từ năm
1968 c công sức san lấp, mở rộng đất ra xung quanh. Năm 1983, địa phương đo đạc lại
diện tích, ai chưa c đất đều được cấp đất ở, đất vườn theo hạn mức của địa phương, do
gia đình ông Trân đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất của ông, cha nên HTX đã trừ hạn
mức cấp đất cho gia đình ông Trân vào phần đất của cố Khoái, cố Phả, phần thừa ra mới
cắt giao cho người khác. Chính vì vậy, phần đất gia đình ông Trân quản lý sử dụng theo
Bản đồ địa chính năm 1986 là 600m
2
được phân thành 2 loại đất là đất ở 388m
2
và đất
vườn 212m
2
, đến Bản đồ địa chính năm 1997 thì diện tích đất gia đình ông Trân quản lý
sử dụng biến động lên 670m
2
bao gồm 200m
2
đất ở và 470m
2
đất vườn cũng căn cứ vào
hạn mức đất địa phương cho một hộ gia đình. Phần diện tích chênh lệc giữa bản đồ 1986
và bản đồ 1997 cũng cho thấy c sự tôn tạo, mở rộng đất của hộ gia đình ông Trân từ năm
1986 đến nay.
Như vậy, c thể thấy gia đình ông Trân sử dụng thửa đất này đã hơn 50 năm, c nhiều
công sức trong việc gìn giữ, tôn tạo đất, mở rộng diện tích đất. Ngoài ra, ông Trân còn có
công sức trong việc làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục
8
đích sử dụng toàn bộ diện tích đất vườn sang loại đất ở, đng thuế đất hàng năm. Bản án
sơ thẩm trích công sức cho gia đình ông Trân là 466,3m2 (trong đ c cả phần đất hạn
mức theo tiêu chuẩn cấp đất của địa phương mà gia đình ông Trân được khấu trừ vào) là
hợp lý.
Phần đất còn lại là 188m
2
là di sản của cố Khoái, cố Phả để lại được chia thừa kế theo
pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hợp lý. Không c căn cứ chấp nhận
kháng cáo của ông Trân về việc xác định toàn bộ thửa đất tranh chấp là của gia đình ông.
3. Về việc chia thừa kế:
Diện tích 188m
2
đất ở tại thửa 116 TBĐ số 8 c giá trị là 752.000.000đồng là tài sản
chung của cố Khoái, cố Phả mỗi cụ được chia 94m
2
trị giá 376.000.000 đồng.
Chia bng gía trị:
+ Chia di sản của cố Khoái: Phần di sản của cố Khoái được chia cho hàng thừa kế
thứ nhất là cố Phả và cụ Tuy, mỗi kỷ phần được hưởng 47m
2
đất, trị giá 188.000.000
đồng.
+ Phần của cụ Tuy là 47m
2
đất, trị giá 188.000.000 đồng được xác định là tài sản
chung vợ chồng giữa cụ Tuy, cụ Miết, cụ Thỏa; mỗi cụ được hưởng là: 15,7m
2
, trị giá
62.666.700 đồng (làm tròn).
+ Chia di sản của cụ Tuy cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ là cố Phả, cụ Miết, cụ
Thỏa, ông Trân, bà Lạc, bà Nhân; mỗi người được hưởng: 10.444.000 đồng (làm tròn).
+ Tổng kỷ phần của cụ Thỏa là: 62.666.700 đồng + 10.444.000 đồng = 73.110.700đ
Chia thừa kế của cụ Thỏa cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ là ông Trân, bà Lạc, bà
Nhân mỗi người được hưởng: 73.110.700đ : 3 = 24.370.000 đồng (làm tròn).
+ Tổng kỷ phần của cố Phả là: 376.000.000đ +188.000.000đ + 10.444.000đ =
574.444.000đ, được chia thừa kế cho thừa kế thế vị của cụ Tuy là ông Trân, bà Lạc, bà
Nhân, mỗi người được hưởng: 574.444.000đ : 3 = 191.481.333đ.
+ Phần của cụ Miết là 10.444.000đ + 62.666.700= 73.110.700đ.
Như trên đã nhận định: Giữa cụ Miết và các ông, bà Lạc, Nhân, Trân không có công
sức chăm sc, nuôi dưỡng nhau; khi cụ Miết chết các ông, bà Lạc, Nhân, Trân cũng không
đứng ra lo việc ma chay cho cụ với tư cách như con, chỉ c ông Trân thực hiện việc cúng,
giỗ cụ theo tục lệ thờ cúng mẹ cả. Như vậy cả bà lạc, bà Nhân và ông Trân không được
hưởng thừa kế di sản của cụ Miết theo quy định tại điều 654 Bộ luật dân sự và tại phiên tòa
hôm nay, bà Lạc, bà Nhân cũng không đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Miết. Do cụ Miết
không còn hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và thứ ba và do ông Trân hiện đang quản lý toàn
bộ khối di sản; phần của cụ Miết cũng đã hết thời hiệu chia thừa kế nên cần chấp nhận yêu
cầu của ông Trân, giao kỷ phần của cụ Miết cho ông Trân tiếp tục quản lý, sử dụng là phù
hợp.
4. Về việc chia hiện vật:
9
Hiện nay gia đình ông Trân đã xây dựng, tôn tạo thành một khuôn viên dùng làm nơi
thờ cúng cha, mẹ và tổ tiên trên toàn bộ diện tích đất tranh chấp. Mục đích yêu cầu chia di
sản thừa kế của bà Lạc và bà Nhân là muốn c 100m
2
đất sau đ sẽ bán để c một khoản
tiền dưỡng già và ban đầu bà Lạc và bà Nhân cũng muốn được thanh toán bng tiền nhưng
do hai bên không thỏa thuận được mức thanh toán nên bà Lạc và bà Nhân mới yêu cầu chia
hiện vật. Tại phiên tòa hôm nay, bản thân bà Lạc và bà Nhân cũng xác nhận nếu chia hiện
vật (đất) cho các bà vào diện tích vườn phía trước nhà thờ sẽ không hợp lý, nếu chia vào
diện tích đất sau nhà thờ thì sẽ phải trích lối đi dài hơn gần 30m, rộng tối thiểu 1,5m mới
vào được phần đất vườn đ trong khi kỷ phần đất của mỗi bà chỉ xấp xỉ 57m
2
cũng không
hợp lý.
Bản án sơ thẩm chia toàn bộ thửa đất cho ông Trân trên cơ sở ông Trân phải thanh toán
lại cho bà Lạc, bà Nhân kỷ phần của các bà bng tiền là hợp lý nên không chấp nhận kháng
cáo chia hiện vật của bà Lạc, bà Nhân.
Kỷ phần bng tiền của bà Lạc, bà Nhân mỗi người là: 191.481.333đ + 24.370.000đ
+10.444.000đ = 226.295.000đ (làm tròn).
Bản án sơ thẩm buộc ông Trân phải thanh toán cho bà Lạc, Nhân mỗi người số tiền là
230.000.000đ là vượt quá kỷ phần của mỗi bà được hưởng.
Do đ cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trân, sửa lại phần thanh toán của
ông Trân cho bà Lạc, bà Nhân.
5. Do toàn bộ thửa đất vẫn giao cho ông Trân nên không cần thiết hủy giấy chứng nhận
đã cấp cho hộ ông Trân năm 2007. Tuy nhiên, ông Trân c trách nhiệm đến cơ quan Nhà
nước c thẩm quyền để đăng ký lại GCNQSDĐ theo quyết định của bản án.
6. Về án phí DSPT: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai. Cụ thể:
Áp dụng: Các điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 658, 660 Bộ luật dân sự
năm 2015; Điều 95, điều 167,170, 203 Luật đất đai năm 2013, Luật Hôn nhân, gia đình
1959; điều 33 Luật hôn nhân & gia đình năm 2015; Nghị quyết 326 của Quốc hội kha 14
về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lạc và bà Trần Thị Nhân
đối với ông Trần Vĩnh Trân về việc chia thừa kế theo pháp luật di sản của cố Trần Văn
Khoái, cố Lê Thị Phả, cụ Trần Vĩnh Tuy, cụ Đỗ Thị Thỏa tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số
8, c địa chỉ tại: Thôn Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội.
10
1.1. Xác định diện tích đất 670m
2
(Số đo thực tế là 654,3m
2
) tại thửa đất số 116, tờ
bản đồ số 8, c địa chỉ tại: Thôn Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, TP Hà
Nội c nguồn gốc của cố Trần Văn Khoái, cố Lê Thị Phả để lại.
1.2. Trích công sức cho ông Trần Vĩnh Trân, bà Nguyễn Thị Mậu bng diện tích đất
là 466,3m
2
.
1.3. xác định diện tích đất còn lại là 188m
2
tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 8, c địa
chỉ tại: Thôn Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội là di sản của cố
Trần Văn Khoái, cố Lê Thị Phả để lại chưa chia.
1.4. Xác định:
+ Cố Trần Văn Khoái chết năm 1913, cố Lê Thị Phả chết năm 1968 không để lại di
chúc;
Hàng thừa kế thứ nhất của cố Khoái là cố Lê Thị Phả và cụ Trần Vĩnh Tuy.
Hàng thừa kế thứ nhất của cố Phả là ông Trân, bà Lạc, bà Nhân (hưởng thừa kế thế
vị của cụ Tuy).
+ Cụ Miết (chết năm 1986), không còn hàng thừa kế.
+ Cụ Đỗ thị Thỏa (chết năm 1955) không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất của
cụ Thỏa là bà Lạc, bà Nhân, và ông Trân.
+ Cụ Trần Vĩnh Tuy chết năm 1953 không để lại di chúc ; hàng thừa kế thứ nhất là
cố Phả, cụ Thỏa, cụ Miết, bà Lạc, bà Nhân, và ông Trân.
1.5. Chia tài sản chung và thừa kế:
+ Diện tích 188m
2
đất ở tại thửa 116 TBĐ số 8 c giá trị là 752.000.000đồng là tài
sản chung của cố Khoái, cố Phả; mỗi cố được chia 94m
2
trị giá 376.000.000 đồng.
+ Chia di sản của cố Khoái cho cố Phả và cụ Tuy, mỗi kỷ phần được hưởng 47m
2
đất, trị giá 188.000.000 đồng.
+ Phần của cụ Tuy là 47m
2
, trị giá 188.000.000 đồng được xác định là tài sản chung
vợ chồng giữa cụ Tuy, cụ Miết, cụ Thỏa. Chia cho mỗi cụ được hưởng là: 15,7m
2,
trị giá
62.666.700 đồng (làm tròn).
+ Chia di sản của cụ Tuy cho cố Phả, cụ Miết, cụ Thỏa, ông Trân, bà Lạc, bà Nhân
mỗi người được hưởng: 10.444.000 đồng (làm tròn).
+ Tổng kỷ phần của cụ Thỏa là: 73.110.700 đồng
Chia thừa kế của cụ Thỏa cho ông Trân, bà Lạc, bà Nhân mỗi người được hưởng:
24.370.000 đồng (làm tròn).
+ Tổng kỷ phần của cố Phả là: 574.444.000 đồng, được chia thừa kế cho ông Trân,
bà Lạc, bà Nhân, mỗi người được hưởng: 191.481.333 đồng.
+ Phần của cụ Miết là 73.110.700 đồng, giao cho ông Trân quản lý, sử dụng.
1.6. Chia hiện vật:

11
Giao cho ông Trần Vĩnh Trân, bà Nguyễn Thị Mậu được quản lý, sử dụng toàn bộ diện
tích đất 654,3 m
2
và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 116, tờ bản đồ số 8, c địa chỉ tại:
Thôn Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội.
Ông Trân, bà Mậu c quyền đến cơ quan Nhà nước c thẩm quyền để đăng ký, điều
chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
1.7. Ông Trần Vĩnh Trân phải thanh toán trả bà Trần Thị Lạc, bà Trần Thị Nhân mỗi bà
số tiền là 226.295.000đ (hai trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
1.8. Bà Trần Thị Lạc, bà Trần Thị Nhân mỗi bà được nhận số tiền là 226.295.000đ (hai
trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi lăm ngàn đồng) do ông Trần Vĩnh Trân thanh
toán.
II. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Lạc, bà Trần Thị Nhân, và ông Trần
Vĩnh Trân.
2.2. Trả lại bà Trần Thị Lạc và bà Trần Thị Nhân số tiền 7.500.000 đồng (Bẩy triệu
năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số
0002444 ngày 07/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.
III. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Lạc, bà Trần Thị Nhân, và ông Trần Vĩnh
Trân không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
IV. Kể từ ngày bản án c hiệu lực pháp luật, người được thi hành án c đơn yêu cầu thi
hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành hoc thi hành chưa đầy đủ số tiền phải
thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số
tiền chậm thi hành án.
V. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thoả thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
VI. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật để thi hành kể từ ngày tuyên án
22/02/2023.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TP.Hà Ni; THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND Huyện Thanh Oai;
- Các đương sự;
- Lưu H Sơ v án
Nguyễn Thị Thúy
12
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 10/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 09/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 09/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 08/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Ban hành: 08/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 03/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm