Bản án số 58/2020/DS-PT ngày 27/02/2020 của TAND tỉnh Long An về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 58/2020/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 58/2020/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 58/2020/DS-PT ngày 27/02/2020 của TAND tỉnh Long An về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Long An |
| Số hiệu: | 58/2020/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Lê Thị G "Tranh chấp hụi" Lê Thị T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 58/2020/DS-PT
Ngày: 27-02-2020
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phúc
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Ông Lê Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long
An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2020/TLPT-DS ngày 07 tháng 01
năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2019/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của
Tòa án nhân dân huyện Mộc H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2020/QĐ-PT ngày 30
tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Ấp 3, xã Bình Hòa Đ, huyện Mộc H, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Ấp 3, xã Bình Hòa Đ, huyện Mộc H, tỉnh Long An.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị G
trình bày:
Tháng 02 năm 2017 âm lịch, bà T có làm chủ thảo dây hụi 20.000.000đồng, hụi
có 11 phần hụi, bà G có tham gia 01 phần. Các lần khui hụi tính theo vụ thu hoạch
lúa, bà G đóng hụi được 05 lần, cụ thể: Lần 1, tháng 02/2017 âm lịch (khoảng
tháng 3/2017 dương lịch). Lần 2, tháng 6/2017 (khoảng tháng 7/2017 dương lịch).
Lần 3, tháng 02/2018 âm lịch (khoảng tháng 3/2018 dương lịch). Lần 4, tháng

2
6/2018 âm lịch (khoảng tháng 7/2018 dương lịch). Lần 5, tháng 02/2019 âm lịch
(khoảng tháng 3/2019 dương lịch) đóng hụi 10.800.000đồng.
Sau đó hụi bị vỡ nên bà G yêu cầu bà T phải trả lại số tiền hụi là
100.000.000đồng, yêu cầu trả 1 lần trong thời hạn 1 tháng.
Bị đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà T thừa nhận là chủ hụi, dây hụi 20.000.000đồng, dây hụi này có 11 phần bà
G có tham gia một phần, hụi khui vào ngày 05/4/2017, đóng hụi theo các vụ thu hoạch
lúa. Bà G đóng hụi được 05 lần với tổng số tiền 56.100.000 đồng, cụ thể:
Lần 1, tháng 02/2017 âm lịch (khoảng tháng 3/2017 dương lịch) góp
12.000.000.000đồng.
Lần 2, tháng 6/2017 (khoảng tháng 7/2017 dương lịch) góp
10.800.000.000đồng.
Lần 3, tháng 02/2018 âm lịch (khoảng tháng 3/2018 dương lịch) góp
12.000.000đồng.
Lần 4, tháng 6/2018 âm lịch (khoảng tháng 7/2018 dương lịch) góp
10.500.000đồng.
Lần 5, tháng 02/2019 âm lịch (khoảng tháng 3/2019 dương lịch) góp
10.800.000đồng.
Tổng số tiền hụi bà G đã góp là 56.100.000đồng. Sau đó hụi bị vỡ nên bà
đồng ý trả lại cho bà G số tiền hụi đã góp là 56.100.000đồng và tiền lãi theo mức
lãi suất 0,83%/tháng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 76/2019/DS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2019 của
Tòa án nhân dân huyện Mộc H tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp Hụi của bà Lê Thị Gđối
với bà Lê Thị T.
Buộc bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị G65.980.000 (sáu mươi lăm
triệu chín trăm tám mươi ngàn) đồng, bao gồm 56.100.000đồng tiền gốc và
9.880.000 đồng tiền lãi.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị T phải chịu số tiền 3.299.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị Gphải chịu số tiền 1.701.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ
số tiền 2.500.000đồng tạm ứng án phí bà G đã nộp theo biên lai thu số 0002955
ngày 23 tháng 9 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc H, hoàn trả
bà G số tiền 799.000đồng.
Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp
luật có quy định nghĩa vụ trả lãi và trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản
trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi: Được
thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

3
Án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Ngày 12/11/2019 bà Lê Thị G kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án buộc bà T phải trả cho bà 100.000.000đồng gồm tiền
gốc và tiền lãi hụi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
Phần tranh luận:
Bà G trình bày: Bà không đồng ý với mức lãi suất 0,83%/tháng theo như bản
án sơ thẩm, bà yêu cầu tính lãi hụi theo lãi hụi chết, tức là bà góp hụi được 5 kỳ nên
phải trả lại cho bà 100.000.000đồng cả gốc và lãi hụi.
Bà T trình bày: Do bà G đề nghị rút vốn và không góp hụi nữa chứ không phải
bà bãi hụi. Sau đó các hụi viên đều thống nhất ngưng hụi và bà đã trả lại tiền vốn
mà các hụi viên đã góp, chỉ có bà G là không đồng ý nhận lại vốn gốc đã góp mà
yêu cầu bà trả 100.000.000đồng nên bà không đồng ý.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ
đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã
chấp hành đúng pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Các đương sự trình bày thống nhất là rã hụi và thống
nhất số tiền vốn gốc đã góp hụi là 65.100.000đồng. Bà G cho rằng chơi hụi phải có
lãi và đã đóng hụi được 5 kỳ nên yêu cầu bà T phải trả lại vốn gốc và lãi hụi là
100.000.000đồng là không có cơ sở. Bản án sơ thẩm tính lãi hụi theo mức lãi suất
0,83%/tháng là có căn cứ nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà G, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Bà G và bà T trình bày thống nhất, bà G có tham gia dây hụi
20.000.000 đồng, mở vào tháng 02/2017 (al) tức tháng 03/2017 (dl) do bà T làm
chủ hụi, đây là hụi hoa hồng có lãi, gồm có 11 phần, bà G tham gia 1 phần, hụi
mở theo vụ thu hoạch lúa. Bà G đã góp hụi sống cho bà T được 05 kỳ, cụ thể
như sau:
Kỳ 1, tháng 02/2017 (al) tức tháng 3/2017 (dl) góp 12.000.000.000đồng.
Kỳ 2, tháng 6/2017 (al) tức tháng 7/2017 (dl) góp 10.800.000.000đồng.
Kỳ 3, tháng 02/2018 (al) tức khoảng tháng 3/2018 (dl) góp 12.000.000đồng.
Kỳ 4, tháng 6/2018 (al) tức khoảng tháng 7/2018 (dl) góp 10.500.000đồng.
Kỳ 5, tháng 02/2019 (al) tức khoảng tháng 3/2019 (dl) góp 10.800.000đồng.
Tổng số tiền hụi bà G đã góp là 56.100.000đồng.

4
[3] Bà G cho rằng đã góp hụi được 5 kỳ nên kháng cáo yêu cầu bà T trả
tiền gốc và lãi hụi tổng cộng là 100.000.000đồng theo mức lãi hụi chết. Xét
thấy, các đương sự trình bày thống nhất sau khi góp được 5 kỳ thì hụi bị vỡ nên
không tiếp tục thực hiện. Bà T làm chủ hụi phải có trách nhiệm trả lại tiền góp
hụi sống cho các hụi viên trong đó có bà G. Tuy nhiên, bà G không đồng ý nhận
lại số tiền vốn mà yêu cầu bà T phải trả lại tiền vốn gốc và tiền lãi theo mức lãi
hụi chết, tuy nhiên hụi chỉ góp được 5 kỳ thì bị vỡ hụi nên yêu cầu tính lãi theo
mức lãi hụi chết của bà G là không có cơ sở. Do các đương sự có tranh chấp về
lãi hụi và không thống nhất mức lãi suất nên án sơ thẩm áp dụng mức lãi suất
0,83%/tháng là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do các
đương sự không xác định được chính xác ngày góp hụi nên án sơ thẩm tính số
tiền lãi của 5 kỳ hụi theo tháng là có cơ sở và tại phiên tòa phúc thẩm bà G cũng
đồng ý với thời gian tính lãi hụi của án sơ thẩm. Do đó không chấp nhận kháng
cáo của bà G, chấp nhận đề nghị của bà Kiểm sát viên.
[4] Án sơ thẩm buộc bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền
không được chấp nhận nhưng không tuyên bác một phần yêu cầu khởi kiện của
bà G là có thiếu sót cần rút kinh nghiệm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
do kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 29 Nghị quyết 326.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị G;
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 76/2019/DS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện Mộc H;
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 264 Bộ
luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 471 Bộ Luật Dân sự
2015;
Căn cứ Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị G đối với bà Lê
Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
2. Buộc bà Lê Thị T có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Gsố tiền hụi gốc
56.100.000đồng và tiền lãi 9.880.000đồng, tổng cộng gốc và lãi là
65.980.000đồng.
3. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với
số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

5
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Gyêu cầu
bà Lê Thị T trả số tiền lãi 34.020.000đồng.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Buộc bà Lê Thị T phải chịu 3.299.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Buộc bà Lê Thị Gphải chịu 1.701.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu
trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà G đã nộp là 2.500.000đồng theo biên lai thu số
0002955 ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc H,
hoàn trả bà G số tiền 799.000đồng.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Gphải chịu 300.000đồng án phí
dân sự phúc thẩm. Khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà G đã
nộp theo biên lai thu số 0003001 ngày 12/11/2019 của Chi cục thi hành án dân
sự huyện Mộc H.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại Tp.HCM;
- VKSND tỉnh Long An;
- TAND huyện Mộc H;
- Chi cục THADS huyện Mộc H;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Phúc

6
Các thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Huỳnh Thị Hồng Vân – Lê Minh Tuấn Trịnh Thị Phúc

7

8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm