Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 07/05/2025 của TAND tỉnh Hải Dương về tranh chấp đất đai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 56/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 56/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 56/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 07/05/2025 của TAND tỉnh Hải Dương về tranh chấp đất đai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hải Dương |
| Số hiệu: | 56/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/05/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Trần Thị H -Phan Hùng T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 56/2025/DS-PT
Ngày: 07-05-2025
“Về việc tranh chấp ranh giới, mốc giới
quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu; Ông Bùi Đăng Huy.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hải
Dương.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà
Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân, tỉnh Hải Dương
xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số /2024/TLPT-DS ngày tháng
10 năm 2024 về việc: “Về việc tranh chấp ranh giới, mốc giới quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DS-ST, ngày 29/09/2024 của Tòa
án nhân dân thành phố CL, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2025/QĐ-PT ngày
18 tháng 02 năm 2025; các Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên
tòa, giữa:
1 - Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1941
2 - Bị đơn: Anh Phan Hùng T, sinh năm 1965
Đều có địa chỉ: Khu dân cư Pt, phường Cnh, thành phố CL, tỉnh Hải Dương;
3 - Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Phạm Văn N, sinh năm 1961, địa chỉ: KDC Nguyễn Trãi II,
phường Sao Đỏ, thành phố CL, tỉnh Hải Dương;
3.2. Anh Phạm Văn G, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 2, NT, phường TP, thành
phố MC, thành phố Quảng Ninh;
3.3. Anh Phạm Thị Đ1, sinh năm 1966. Địa chỉ: KDC Pt, phường Cnh,
thành phố CL, tỉnh Hải Dương;
2
3.4. Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: KDC Pt, phường Cnh, thành
phố CL, tỉnh Hải Dương;
3.5. Chị Phạm Thị N, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ dân phố số 20, phường
Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội;
3.6. Anh Phạm Văn B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ 14, khu 3, phường Hạ
Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội;
3.7. Chị Lê Thị V, sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu dân cư Pt, phường Cnh, thành phố CL, tỉnh Hải Dương;
- Người Đ diện theo ủy quyền của bà H, anh N, chị Đ1, chị N, anh B: Anh
Phạm Văn G, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 2, NT, phường TP, thành phố MC, thành
phố Q1và anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: KDC Pt, phường Cnh, thành
phố CL, tỉnh Hải Dương;
- Người Đ diện theo ủy quyền của bà V: Ông Phan Hùng T, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Khu dân cư Pt, phường Cnh, thành phố CL, tỉnh Hải Dương.
- Người Đ diện theo ủy quyền của ông T: Anh Phạm Tiến H, sinh năm 1999
và chị Vũ Thị Ch, sinh năm 2000. Đều có địa chỉ: Số 32, Đỗ Quang, phường Tr,
quận Cn, thành phố HN
Có mặt: Anh Đ, anh G, Anh N, chị Đ1, chị N, anh B, anh T, anh Huy, chị
Chinh.
Vắng mặt: Bà H, bà V.
- Người kháng cáo: Bị đơn – ông Phan Hùng T.
- Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn, người
Đ diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà Trần Thị H và ông Phạm Văn
Ch kết hôn và sống cùng nhau tại khu dân cư Pt, phường Cnh, thành phố CL, tỉnh
Hải Dương từ năm 1960. Ông Ch chết năm 2023, không để lại di chúc. Bà H và
ông Ch có 6 người con, gồm: anh Phạm Văn N; anh Phạm Văn G; chị Phạm Thị
Đ1; anh Phạm Văn Đ; chị Phạm Thị N và anh Phạm Văn B. Thửa đất số 34 tờ bản
đồ số 01 diện tích 665m
2
tại khu dân cư Pt, phường Cnh, thành phố CL, tỉnh Hải
Dương được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 mang tên ông
Phạm Văn Ch có nguồn gốc là do gia đình ông bà được hợp tác xã giao đất từ năm
1963. Năm 2003, ông bà được UBND huyện CL (nay là UBND thành phố CL)
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là giấy CNQSDĐ) mang
tên ông Phạm Văn Ch, diện tích 665m
2
, đất ở 200m
2
, đất vườn 465m
2
. Sau này,
vào thời gian nào bà không nhớ cụ thể, gia đình nhà ông Th (bố anh T) ra sinh
3
sống cạnh gia đình bà, ranh giới giữa hai nhà phân định với nhau bằng đất thùng
ao, có bờ ao. Khi gia đình bà làm nhà đã lấp thùng ao này, giữa 2 thửa đất chưa
có ranh giới cụ thể nhưng phân định với nhau bằng 1 đường thẳng. Năm 2019,
nhà ông Th xây nhà, làm sân, xây tường lấn chiếm sang phần đất ao cũ của nhà
bà nên đã xảy ra tranh chấp. Khi ông bà đi thăm con cháu, không có nhà thì gia
đình nhà ông Th (bố đẻ anh T) đã xây cột cổng và 1 đoạn bờ tường giáp ranh phần
cuối đất, còn đoạn giữa giáp ranh với nhà bà thì bỏ trống. Khi ông Ch còn sống,
giữa hai gia đình nhiều lần xảy ra tranh cãi, gia đình ông Th có lần còn tự động
cắt cây của gia đình bà. Do giữa hai thửa đất không có tường rào ngăn cách nên
ông Ch đã xây bờ tường nối phần đoạn bờ tường của anh T vào để chống gà, vịt
đỡ sang nhà nhau. Sau này, gia đình ông Ch đã dỡ bỏ đoạn tường đã xây, chỉ còn
lại chân móng. Việc xây bờ tường này để tiện sử dụng chứ không phải gia đình
ông Ch dùng để xác định ranh giới. Quá trình sử dụng đất về hướng Tây giáp
đường đi của xóm, gia đình ông Ch đã hiến đất để làm đường, không rõ diện tích
đất đã hiến. Bà H xác định Ch ký giáp ranh trong biên bản xác định ranh giới, mốc
giới thửa đất được thiết lập năm 2008 giữa thửa đất nhà bà và thửa đất nhà anh T
(khi đó mang tên Phan Anh Tuấn Kiệt-con trai anh T) không phải là Ch ký của
ông Ch, nhưng gia đình bà không yêu cầu giám định. Nay, bà yêu cầu gia đình
anh T trả lại gia đình bà diện tích đất 14,6m
2
đã lấn chiếm tại thửa đất số 34 tờ
bản đồ số 01 ở khu dân cư Pt, phường Cnh và tháo dỡ các công trình trên đất.
Tại biên bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị đơn trình bày: Nguồn
gốc thửa đất số 415, tờ bản đồ số 01 tại khu dân cư Pt, phường Cnh, thành phố
CL là do bố đẻ anh là ông Phan Thanh Th tặng cho gia đình anh. Ông Th ở thửa
đất này từ khoảng năm 1960. Năm 2017, gia đình anh T đã phá dỡ nhà cũ đi để
xây nhà mới như hiện nay. Đến năm 2018, ông Th tách giấy CNQSDĐ cho anh
và em trai là Phan Tiến Sỹ. Khoảng năm 1988, ranh giới giữa thửa đất nhà anh và
nhà ông Ch là hàng rào cây cúc tần, giáp ranh giữa 2 thửa đất là ao của nhà ông
Ch. Năm 1993, ranh giới phân định là 01 bờ tường, hiện nay chỉ còn chân móng.
Đoạn tường này chỉ xây đoạn ngắn để nối với bờ ao nhà ông Ch. Năm 2007, nhà
ông Ch lấp ao và xây dựng bờ tường để ngăn cách với thửa đất nhà anh. Năm
2017 nhà anh xây nhà vườn thì có xây trụ cổng và 1 đoạn bờ tường. Theo bản đồ
đo vẽ được lưu giữ tại UBND phường Cnh thể hiện ranh giới đất giữa nhà anh và
nhà ông Ch là đoạn đường thẳng. Đến năm 2008 thì ranh giới này là đoạn gấp
khúc, anh không rõ lý do có sự thay đổi này. Thời điểm năm 1997, thửa đất nhà
anh đang ở vẫn mang tên ông Phan Văn Th có số thửa số 51, diện tích 637m
2
, còn
anh sử dụng thửa số 50, diện tích 277m
2
. Năm 2008, theo bản đồ đo vẽ hiện trạng
4
thì thửa đất anh đang ở mang tên Phan Anh Tktcó số thửa 34, diện tích 433m
2
,
còn lại thửa số 20 diện tích 377m
2
mang tên Phan Tiến Sỹ đều là loại đất ONT và
thửa số 35, diện tích 167m
2
loại đất TSN. Lý do có việc thay đổi tên chủ sử dụng
đất là do gia đình anh chỉ tiến hành kê khai, chưa tặng cho quyền sử dụng đất. Tại
biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất vào năm 2008, anh không xác định
Ch ký chủ đất tiếp giáp ký tên là ông Ch vì lúc đó địa chính xã đi làm hồ sơ, thủ
tục, lấy Ch ký nên anh cũng không biết.
Tại phần đất của anh Phan Tiến Sỹ giáp với đường thôn, gia đình anh có
hiến đất làm đường, không rõ diện tích. Hiện tại anh Phan Tiến Sỹ đã định cư bên
Cộng Hòa Séc, không có nhà, anh Phan Anh Tktlà con trai anh cũng đi lao động
và không có nhà.
Anh không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn, buộc gia đình anh trả lại diện
tích đất 14,6m
2
, giáp ranh giữa 2 nhà vì gia đình anh không lấn chiếm đất của nhà
bà H.
Hiện tại giáp ranh giữa nhà anh và nhà bà H còn 02 đoạn bờ tường, 01 đoạn
cuối đất xây năm 1993, 01 đoạn giáp cổng xây năm 2017. Các bờ tường này xây
dựng trên đất của anh. Tại điểm giáp ranh với nhà bà H, gia đình anh xây dựng
tường bằng gạch ba banh từ năm 1997. Gia đình bà H yêu cầu xây dựng bờ tường
trên móng tường cũ thì gia đình anh đồng ý nhưng yêu cầu gia đình bà H tự chịu
kinh phí xây dựng, gia đình anh sẽ tự xây. Gia đình anh không đồng ý Đ1 móng
bờ tường lên mà chỉ đồng ý đổ giằng, xây dựng từ mặt đất lên, do nếu Đ1 lại móng
bờ tường sẽ gây ảnh hưởng sân nhà anh.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Phạm Thị Đ1, chị Phạm
Thị N, anh Phạm Văn B, anh Phan Văn G, anh Phạm Văn Đ trình bày: Anh chị là
con của ông Phạm Văn Ch và bà Trần Thị H ở Khu dân cư Pt, phường Cnh, thành
phố CL, tỉnh Hải Dương. Ông Ch đã chết năm 2023. Khi chết, ông Ch không để
lại di chúc. Thửa đất số 34 tờ bản đồ số 01 diện tích 665m
2
tại khu dân cư Pt,
phường Cnh, thành phố CL, tỉnh Hải Dương được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 2003 mang tên ông Phạm Văn Ch. Nguồn gốc thửa đất này do Hợp
tác xã tại Cnh cấp cho bố mẹ anh chị. Khi anh chị còn nhỏ có sinh sống trên thửa
đất này. Sau này, anh chị lớn lên, xây dựng gia đình và không còn sinh sống tại
đây. Từ nhỏ, anh chị thấy thửa đất của nhà anh chị và thửa nhà ông Th có phân
định với nhau bằng hàng rào dâm bụt. Sau này, nhà ông Th - bố đẻ anh T xây
dựng nhà, làm bờ kè, đắp đất như Th nào thì anh chị không rõ. Anh chị được biết
gia đình nhà anh T đã lấn chiếm diện tích đất của bố mẹ anh chị. Vì Th, nay bà
Trần Thị H yêu cầu gia đình anh T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm của gia đình
5
anh chị là 14,6m
2
, anh chị hoàn toàn nhất trí. Anh chị đồng ý với mọi ý kiến của
bà H.
Hiện tại, chị Đ1, chị N, anh B đều bận công việc nên ủy quyền cho là anh
Phạm Văn Đ và anh Phạm Văn G thay mặt anh chị em trong gia đình tham gia tố
tụng tại Tòa án để giải quyết việc này. Anh Đ và anh G có quyền quyết định mọi
vấn đề liên quan đến vụ án này.
Người làm chứng ông - Phan Văn Th trình bày: Ông là bố đẻ anh Phan
Hùng T. Thửa đất đang tranh chấp với nhà ông Ch, bà H có nguồn gốc của ông,
do ông được hợp tác xã cấp. Ông sinh sống trên thửa đất này từ khoảng trước năm
1960 đến nay, khi đó ranh giới đất là hàng rào, còn cụ thể như Th nào ông không
nhớ. Việc tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các con và quá trình sử
dụng đất như Th nào đề nghị Tòa án hỏi anh T, ông không nhớ. Đề nghị Tòa án
không đưa ông vào tham gia tố tụng trong vụ án này.
UBND phường Cnh cung cấp: Hồ sơ địa chính của UBND phường Cnh còn
lưu giữ: bản đồ đo vẽ 299, bản đồ đo vẽ năm 1997, bản đồ đo vẽ năm 2008, sổ
mục kê năm 2008, sổ cấp giấy CNQSDĐ năm 1998, 2003, 2018. Tại bản đồ đo
vẽ 299 thể hiện thửa đất nhà ông Ch có số 88, diện tích 500m
2
. Thửa đất nhà anh
T có số thửa số 90, diện tích 733 m
2
. Tại bản đồ đo vẽ chỉ thể hiện thửa đất, diện
tích, không có tên chủ sử dụng đất.
Tại bản đồ đo vẽ năm 1997 là bản đồ đo vẽ để cấp giấy CNQSDĐ, thể hiện:
Thửa đất nhà ông Ch là thửa số 34, diện tích 665m
2
. Thửa đất nhà anh T là thửa
số 51, diện tích 637m
2
(tại thời điểm này thửa đất mang tên ông Phan Văn Th (bố
anh T). Thửa số 50 diện tích 277m
2
được cấp giấy CNQSDĐ lần đầu năm 2003
mang tên anh Phan Văn T. Năm 2014, thửa đất của ông Th đổi tên cấp giấy
CNQSDĐ là Phan Hùng T và Lê Thị V. Năm 2018 lại nhập vào thửa đất của ông
Th, sau đó tách giấy CNQSDĐ cho anh Phan Hùng T và Phan Tiến Sỹ.
Bản đồ đo vẽ năm 1997 chỉ thể hiện số thửa, diện tích, không thể hiện chủ
sử dụng đất.
Tại bản đồ đo vẽ năm 2008 là bản đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của các
hộ gia đình thể hiện: Thửa đất nhà ông Ch ở thửa số 22, diện tích 664m
2
. Thửa
đất số 34 diện tích 433m
2
mang tên Phan Anh Tuấn Kiệt; thửa đất số 20, diện tích
377m
2
mang tên Phan Tiến Sỹ; thửa đất số 35, diện tích 167m
2
loại đất nuôi trồng
thủy sản, mang tên Phan Thị Ngân. Các thửa đất thay đổi số thửa là do quy định
về ký hiệu bản đồ của từng thời kỳ đo vẽ. Đối với bản đồ đo vẽ năm 2008, các hộ
gia đình tự kê khai tên chủ sử dụng đất cho nên chủ sử dụng đất theo kê khai có
thể không phù hợp với tên chủ sử dụng đất theo giấy CNQSDĐ được cấp.
6
Tại sổ mục kê năm 2008, trang số 01, tờ bản đồ số 41 thể hiện tại số thứ tự 20
chủ sử dụng Phan Tiến Sỹ, diện tích 377m
2
, loại đất ONT, tại số thứ tự 22, tên chủ
sử dụng đất Phạm Văn Ch, diện tích 664m
2
, loại đất ONT. Tại số thứ tự 34 tên chủ
sử dụng đất là Phan Anh Tuấn Kiệt, diện tích 433m
2
, loại đất ONT, tại số thứ tự 35,
tên chủ sử dụng đất là Phan Thị Ngân, diện tích 167m
2
, loại đất TSN.
Tại sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998, 2003,
2018 thể hiện: Thửa đất nhà ông Ch được cấp giấy CNQSDĐ năm 2003, diện tích
665m
2
(đất ở 200m
2
, đất vườn 465m
2
) ở số thửa 34 tờ bản đồ số 01. Thửa đất nhà
ông Th được cấp giấy CNQSDĐ năm 1998, diện tích 637m
2
(đất ở 200m
2
, đất
vườn 437m
2
). Năm 2014, thửa đất nhà ông Th thể hiện tại thửa số 50, tờ bản đồ
số 1, diện tích 277m
2
mang tên Phan Hùng T, được cấp đổi lại năm 2003. Năm
2018, anh T làm thủ tục tặng cho lại ông Th diện tích thửa đất này. Ông Th hợp
thửa đất số 50 và 51 lại sau đó làm thủ tục tặng cho anh Phan Hùng T và chị Lê
Thị V số thửa 415 tờ bản đồ số 01 diện tích 456m
2
và tặng cho anh Phan Tiến Sỹ,
chị Lê Thị Bảy ở thửa số 416, diện tích 524m
2
. Hai thửa này đều đã được cấp giấy
CNQSDĐ tháng 8 năm 2018.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kết quả xác định
như sau:
Phần diện tích hiện trạng nhà bà H đang sử dụng là 635,3m
2
có tứ cạnh giáp
ranh như sau: Cạnh phía Bắc giáp ngõ đi và phần đất nhà ông T có chiều dài các
cạnh là 11,05m; 5,86m, 4,54m; Cạnh phía đông giáp mương thoát nước và đất
nhà ông Th có các cạnh lần lượt là 14,23m, 0,15m, 3,04m, 1,03m, 8,95m và
4,25m; cạnh phía nam giáp ngõ đi vào nhà ông Th có chiều dài 18,28m; cạnh phía
tây giáp đường khu dân cư có chiều dài 15,07m, 16,24m.
Phần đất nhà ông Th có diện tích hiện trạng gồm S2+ S3= 446 +14,6=
460,6m2, có tứ cạnh như sau: Cạnh phía Bắc giáp mương và đất nhà ông T có
chiều dài 13,29m, 0,91m; Cạnh phía tây giáp đất nhà bà H, ngõ đi vào nhà ông Th
và đất ông Vạn có chiều dài 0,15m, 3,04m, 1,03m, 8,95m, 4,25m, 2,37m, 10m;
cạnh phía Nam giáp phần đất nhà ông Phóng có chiều dài 16,29m; cạnh phía đông
giáp đất nhà ông Sỹ có chiều dài 27,59m.
Phần đất tranh chấp được xác định là phần đất hiện trạng anh T đang quản
lý và sử dụng có tổng diện tích là 14,6m
2
có cạnh phía đông giáp nhà ông Th có
chiều dài 16,88m; cạnh phía tây giáp nhà bà H có chiều dài 0,15m, 3,04m, 1,03m,
8,95m, 4,25m.
Trên phần đất tranh chấp có các tài sản sau: 01 phần mái tôn thường được
xây năm 2017, diện tích 7,5m
2
; 01 phần sân lát gạch đỏ có kích thước 0,4x0,4 có
7
diện tích là 13,6m
2
được xây năm 2017; 01 đoạn tường ba banh được xây bằng
gạch ba banh về phía mương nước có chiều dài là 4,07m, cao 1,3m (chân móng
tường do ông Th, bố anh T xây năm 1993); 01 đoạn tường giáp ngõ đi vào nhà
ông T có chiều dài 4,25m, cao 1,1m.
Tại biên bản định giá tài sản thể hiện: Thửa đất số 34 tờ bản đồ, thửa số 51
số 01 tại khu dân cư Pt, phường Cnh là đất loại 1 thuộc nhóm C, đất ở gồm có vị
trí 1: 2.500.000 đồng x1,6 hệ số = 4.000.000 đồng (từ điểm đầu xác định kéo dài
20m). Vị trí 2, đất ở: 1.400.000 x 1,5 (hệ số) = 2.100.000 đồng/m
2
(20m tiếp theo
được xác định là vị trí điểm kế tiếp vị trí 1). Đất cây lâu năm: 85.000 đồng/m
2
.
Tài sản trên diện tích tranh chấp gồm: 01 phần mái tôn thường được xây
năm 2017 có diện tích 7,5m2 có giá 386.775 đồng; 01 phần sân lát gạch đỏ có
kích thước 0,4x0,4, diện tích 13,6m2 được xây năm 2017 có giá 688.443 đồng;
01 đoạn tường ba banh xây gạch ba banh, giáp mương nước dài 4,07m, cao 1,3m
(móng xây năm 1993, thân tường xây năm 2017) có giá 548.019 đồng; 01 đoạn
tường giáp ngõ vào nhà anh T dài 4,25m, cao 1,1m có giá 535.711 đồng.
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 29/09/2024 của Tòa án nhân dân thành
phố CL, tỉnh Hải Dương quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc buộc anh Phan
Hùng T và chị Nguyễn Thị Vịnh phải trả gia đình bà H diện tích 14,6m
2
được giới
hạn bởi các điểm A1A8A9A10A11A1 thửa số 34, tờ bản đồ số 1 KDC Pt, phường
Cnh, thành phố CL, tỉnh Hải Dương; Diện tích 14,6m
2
thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của bà Trần Thị H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Phạm
Văn N, anh Phạm Văn G, chị Phạm Thị Đ1, anh Phạm Văn Đ, chị Phạm Thị N,
anh Phạm Văn B.
Xác định ranh giới đất giữa gia đình nhà bà H và gia đình nhà anh T là điểm
nối các điểm A1A8. Nếu đường ranh giới đất phạm vào tài sản của ai thì người
đó tự tháo dỡ, phá bỏ.
2. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị H trả anh Phan Hùng T và chị
Nguyễn Thị V giá trị tài sản trên diện tích đất tranh chấp là 2.158.948đồng.
Bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền
yêu cầu thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn – anh Phan Hùng T kháng cáo đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên hiện trạng ranh giới
giữa hai gia đình vì gia đình anh không lấn chiếm đất của gia đình bà H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
8
Anh T giữ nguyên nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm. Căn cứ chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của anh như nội dung đơn trình bày tại cấp phúc
thẩm. Ông không lấn chiếm đất của gia đình bà H mà xây tường bao, tường gia
cố nền sân hoàn toàn trên nền móng cũ của gia đình anh xây từ trước khi ông Th,
bà H được cấp bìa đỏ. Đoạn tường nối các điểm mốc A8, A9, A10, A11 do gia
đình anh xây từ năm 1993. Các lần làm thủ tục nhập thửa, tách thửa đất, anh nhờ
cán bộ văn phòng đăng ký đất đai làm giúp, anh không biết gia đình bà H có ký
giáp ranh cho gia đình anh không. Năm 2009, gia đình bà H đã xây đoạn tường
bao nối từ A1, A12 đến A11 làm ranh giới giữa hai gia đình đến năm 2023 mới
phá đi nhưng vẫn còn một đoạn chân tường ở giáp đoạn tường A1A12.
Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa liên quan về phía nguyên
đơn đề nghị căn cứ giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông Ch, bà H năm 2003, bản đồ
qua các thời kỳ, hiện trạng đất nhà bà H thiếu, đất nhà ông Th thừa, biên bản làm
việc tại xã ông Th thừa nhận có lấn đất nhà bà H và đồng ý trả lại. Nhà bà H có
hiến đất làm đường với chiều sâu khoảng 30cm, chiều dài hết đất. Ở các vị trí giáp
ranh khác không có tranh chấp. Diện tích đất thiếu là do nhà ông T lấn chiếm, yêu
cầu gia đình ông T trả lại gia đình bà H 14,6m
2
như cấp sơ thẩm đã giải quyết.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án
cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi
thụ lý đến khi xét xử. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi đại diện Viện kiểm
sát phân tích các tình tiết của vụ án, các căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn, ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng
cáo của bị đơn. Sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Giữ nguyên hiện trạng mốc giới giữa hai gia đình anh
T và bà H. Anh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà H được miễn án
phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của vị Đ
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng, kháng cáo của bị đơn - anh Phan Hùng T trong thời hạn luật
định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, vắng mặt bà V (đã có đơn xin xét xử vắng mặt), bà H (có
người Đ diện có mặt), Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo Điều 296 Bộ
9
luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Thửa đất của gia đình ông Ch, bà H và gia đình ông Th có nguồn gốc
được Nhà nước giao đất từ những năm 1960. Hiện bà H vẫn đang sử dụng, ông
Ch đã chết năm 2023. Còn thửa đất của ông Th được cho tặng anh T. Theo bản
đồ 299, thửa đất nhà ông Ch có số thửa 88, diện tích 500m
2
. Thửa đất nhà anh T có
số thửa 90, diện tích 733m
2
. Giữa hai thửa đất trên có một phần đất hình Ch nhật
không thể hiện diện tích, số thửa đất, loại đất, không có tên chủ sử dụng.
[2.2] Năm 1998, ông Th được cấp giấy CNQSDĐ lần đầu. Hồ sơ cấp giấy
CNQSDĐ chỉ có Đơn xin cấp giấy CNQSDĐ của ông Th. Hình thể thửa đất trên
đơn xin cấp và trên giấy CNQSDĐ phù hợp với hình thể thửa đất trên bản đồ năm
1997 thể hiện cạnh giáp với đất nhà bà H và nhà ông Vạn là đường Thẳng dài
28,9m. Thửa đất nhà ông Ch, bà H được cấp giấy CNQSDĐ lần đầu năm 2003. Địa
phương không còn lưu giữ hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ lần đầu của gia đình ông Ch
nên Tòa án không thu thập được. Căn cứ giấy CNQSDĐ cấp lần đầu cho hai gia
đình ông Ch và ông Th thể hiện ranh giới giữa hai gia đình là đường thẳng, phù
hợp với bản đồ 1997 là bản đồ được sử dụng để cấp giấy CNQSDĐ cho các gia
đình.
[2.3] Năm 2014, ông Th tặng cho anh T thửa đất trên. Ông T còn có một thửa
đất giáp với thửa đất của ông Th về phía đông. Ngoài ra, ông Th còn có một phần
đất ao khác nằm ở phía nam của thửa đất của ông T. Năm 2018, ông T tặng cho lại
ông Th và ông Th làm thủ tục hợp ba thửa đất trên thành một thửa đất rồi lại tách
thành hai thửa để tặng cho cho anh T và anh Sỹ. Hồ sơ thủ tục tặng cho, nhập thửa,
tách thửa nêu trên không có văn bản, tài liệu nào thể hiện việc các gia đình có đất
giáp với đất nhà ông T trong đó có nhà bà H ký xác nhận ranh giới, mốc giới đất với
gia đình ông Th trước đây và sau này là anh T, anh Sỹ. Bà H, ông Ch cũng chưa bao
giờ ký giáp ranh cho ông Th hay anh T để xác định ranh giới, mốc giới đất giữa hai
nhà. Khi gia đình ông Th hoặc anh T xây tường, làm sân đều không báo cho gia đình
bà H để thống nhất mốc giới. Trong khi đó, giấy CNQSDĐ cấp cho gia đình anh T
năm 2018 lại thể hiện cạnh giáp ranh với đất nhà bà H là đường gấp khúc và không
trùng khớp với giấy CNQSDĐ đã cấp lần đầu cho gia đình ông Th và bà H.
[2.4] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất của gia đình bà
H thiếu 29,7m
2
đất so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất
của gia đình anh T thừa 4,6m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi
trước đây, hai gia đình đã hiến đất làm đường nhưng không xác định được chính xác
diện tích đã bỏ ra làm đường của mỗi nhà là bao nhiêu mét vuông.
10
[2.5] Tại vị trí giáp ranh giữa hai gia đình hiện còn tồn tại các đoạn tường
bao do cả hai gia đình xây dựng. Tại phần đất có tranh chấp có đoạn tường
A1A12=4,25m; Đoạn tường gia cố sân A12A11= 8,95m; sân lát gạch đỏ, mái tôn
do gia đình anh T xây năm 2017 trong khi bà H đi vắng, không có ai ở nhà nên
nhà bà H không biết. Khi biết, bà H đã phản đối dẫn đến hai gia đình có tranh
chấp. Đoạn tường tiếp theo là A11A10=1,03m; A10A9=3.04m; A9A8=0,15m là
do gia đình anh T xây. Theo anh T, các đoạn tường này xây từ năm 1993 nhưng
anh không có căn cứ chứng minh. Trên phần đất của gia đình bà H giáp với vị trí
đất đang tranh chấp, gia đình bà H lấp ao, xây đoạn tường ở giáp vị trí
A1A11=13,21m vào năm 2009 để ngăn gia cầm sang nhà nhau và không xác định
bức tường đã xây là ranh giới giữa hai gia đình. Thời điểm đó, gia đình bà H
không biết gia đình ông Th, anh T xây công trình lấn sang đất nhà mình. Sau khi
so sánh với giấy CNQSDĐ, gia đình bà H mới phát hiện thiếu đất nên đã phá đi
vào năm 2023, hiện chỉ còn đoạn chân móng nằm giáp vị trí tường A1A12 do gia
đình anh T xây. Các đương sự đều xác định điểm mốc A1 và A8 không có tranh
chấp.
[2.6] Như vậy, có căn cứ xác định ranh giới thực tế hai gia đình sử dụng
chưa ổn định, không có mốc giới lịch sử, không có sự thỏa thuận về ranh giới giữa
hai gia đình. Vì vậy, cần căn cứ vào giấy CNQSDĐ do UBND huyện nay là thành
phố CL cấp để xác định ranh giới của hai thửa đất. Cụ thể, gia đình bà H được
Nhà nước giao đất và được cấp giấy CNQSDĐ năm 2003 thể hiện cạnh giáp với
đất nhà ông Th là đường thẳng; giấy CNQSDĐ của ông T cấp năm 2018 có cạnh
giáp ranh với nhà bà H không phù hợp với cạnh giáp ranh được thể hiện tại giấy
CNQSDĐ đã cấp cho ông Th năm 1998. Đối chiếu diện tích, kích thước thửa đất
trên giấy CNQSDĐ với hiện trạng sử dụng đất của hai gia đình, sơ đồ địa chính
năm 1997, có căn cứ xác định mốc giới đất giữa hai nhà đường thẳng nối thẳng
giữa điểm A1 với A8. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H là có cơ sở, cần buộc
gia đình ông T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản có trên diện tích đất là 14,6m
2
được
giới hạn bởi các điểm A1A8A9A10A11A12A1 để trả lại cho gia đình bà H.
[2.7] Trên phần đất tranh chấp có các tài sản gồm: 01 phần mái tôn thường
trị giá 386.775 đồng; 01 phần sân lát gạch đỏ có kích thước (0,4x0,4)m, diện tích
13,6m
2
trị giá 688.443 đồng; 01 đoạn tường xây gạch ba banh, giáp mương nước
dài 4,07m, cao 1,3m trị giá 548.019 đồng; 01 đoạn tường giáp ngõ vào nhà ông T
dài 4,25m, cao 1,1m có trị giá 535.711 đồng, tổng trị giá: 2.158.948đồng. Gia đình
ông T phải tự tháo dỡ trả lại mặt bằng đất cho gia đình bà H. Gia đình bà H tự
11
nguyện trả gia đình anh T trị giá tài sản trên phần đất tranh chấp là 2.158.948đồng,
cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
[2.9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã áp
dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ đầy đủ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
H là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, anh T kháng cáo nhưng không xuất trình được
thêm chứng cứ mới có giá trị chứng minh nội dung kháng cáo của mình là có căn
cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T;
Không có sở chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; Cần
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu
án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn – anh Phan Hùng T. Giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 29/09/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố CL, tỉnh Hải Dương.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho anh Phan Hùng T.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- TAND TP. CL;
- Chi cục THA dân sự TP. CL;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thúy Hằng
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm