Bản án số 55/2023/DS-PT ngày 11/05/2023 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 55/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 55/2023/DS-PT ngày 11/05/2023 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 55/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty G làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 55/2023/DS - PT
Ngày: 11 5 2023
V/v Yêu cầu chấm dứt hợp đồng, thực
hiện thanh toán các khoản cam kết theo
hợp đồng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Mai
Bà Trần Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Lương Thị Chung
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 145/2022/TLPT-DS ngày 26 tháng
12 năm 2022 về việc “Yêu cầu chấm dứt hợp đồng, thực hiện thanh toán các khoản
cam kết theo hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2022/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2022 của
Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2023/QĐPT – DS ngày
03 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 71/2023/QĐ PT
ngày 23 tháng 3 năm 2023 Thông báo vthay đổi thời gian mở phiên tòa phúc
thẩm số: 72/2023/TB – TA ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần thực phẩm G (gọi tắt Công ty G); địa chỉ:
V-xy, đường số 1x, khu công nghiệp N, xã N 3, huyện B, tỉnh Đ.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Huy Đ, sinh năm
1978; Địa chỉ liên lạc: Số 1xxx/1x/6x đường P, phường T, thành phố D, tỉnh B (theo
giấy ủy quyền ngày 02/04/2021). Có mặt
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đầu phát triển và Xây dựng T (Công ty T),
địa chỉ: Số 6xx B, đường Q, phường N, quận T, thành phố H.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Lê Thanh S, sinh năm: 1978;
Trần Thị Ngọc T, sinh năm: 1989; bà Trương Thị H, sinh năm: 1994; bà Nguyễn Thị
Mai H1, sinh năm: 1981 và bà Trương Thị N, sinh năm: 1976; cùng địa chỉ: Tầng x,
số 8x đường H, phường V, quận Đ, thành phố H. (Theo Giấy ủy quyền số:
202/2022/GUQ-TĐ ngày 08/08/2022 và Giấyy quyền số: 248/2022/GUQ-ngày
09/09/2022 của Chủ tịch HĐQT Công ty). Trương Thị N mặt, vắng mặt ông
Thanh S, bà Trần Thị Ngọc T, bà Trương Thị H, bà Nguyễn Thị Mai H1.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn bao gồm: Luật Đỗ Thanh
Thủy và Luật sư Nguyễn Tiến Dũng, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Ls Thủy
có mặt, vắng mặt Ls Dũng.
3. Do có kháng cáo của Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển xây dựng Đ –
bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, trình bày của nguyên đơn, đại diện hợp
pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm:
Công ty G và Công ty T có ký hợp đồng mua 02 căn hộ gồm:
- Căn hộ số Rx-2xxx, Tòa nhà Căn hộ khách sạn C 1 C O Resort”, địa chỉ:
đường S, phường H, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng mua bán căn hộ số
2xx/2xxx/HĐMB/C O Resort MN ngày 24/11/2016. Giá bán Căn hộ Rx 2xxx
2.164.366.848 đồng. Khoản 4.1, Điều 4 Hợp đồng số 2XX ngày 24/11/2016 quy định
việc bàn giao căn hộ được thực hiện khi Bên mua hoàn tất và thanh toán đầy đủ tiến
độ thanh toán giá bán căn hộ quy định tại Mục III, Phụ lục 1 của Hợp đồng. Công ty
G đã thanh toán đủ cho Công ty T số tiền 2.019.361.008 đồng tương đương với 95%
giá mua. Ngày 29/12/2017, Công ty G và Công ty T kết Phụ Lục 6A (sửa đổi bổ
sung Phụ Lục 1 của Hợp đồng số 2XX ngày 24/11/2016). Nội dung gồm, Công ty T
xác nhận Công ty G đã thanh toán đủ tối thiểu 95% Giá bán căn hộ thuế GTGT
theo Quy định của Hợp đồng số 2XX ngày 24/11/2016 (Điều 4, Phụ Lục 6A). Kể từ
ngày 29 tháng 12 năm 2017 đến Ngày bắt đầu của chương trình cho thuê, Bên mua
được hưởng khoản tiền 220.301.626 VNĐ/1 năm tương đương 12%/1 năm tính trên
số tiền 1.835.846.880 đồng).
3
- Căn hộ số Rx-1xxx a nhà Căn hộ khách sạn C 1 “C O Resort”, địa chỉ:
đường S, phường H, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng mua bán căn hộ số
2YY/2016/HĐMB/C O Resort MN ngày 24/11/2016. Giá bán Căn hộ R1 – 1616
2.503.433.632. Tại khoản 4.1, Điều 4 Hợp đồng quy định việc bàn giao căn hộ được
thực hiện khi Bên mua hoàn tất thanh toán đầy đủ tiến độ thanh toán giá bán n
hộ quy định tại Mục III, Phụ lục 1 của Hợp đồng. Công ty G đã thanh toán đủ cho
Công ty T số tiền 2.335.752.987 đồng tương đương với 95% g mua. Ngày
29/12/2017, Công ty G và Công ty T ký kết Phụ Lục 6A (sửa đổi bổ sung Phụ Lục 1
của Hợp đồng s2YY ngày 24/11/2016). Nội dung, Công ty T xác nhận Công ty G
đã thanh toán đtối thiểu 95% Giá bán căn hộ và thuế GTGT theo Quy định của Hợp
đồng số 2YY ngày 24/11/2016 (Điều 4 Phụ Lục 6A). Kể từ ngày 29 tháng 12 năm
2017 đến Ngày bắt đầu của chương trình cho thuê, Bên mua được hưởng khoản tiền
254.813.780 đồng tương đương 12%/1 năm tính trên số tiền 2.123.448.170 đồng.
Quá tnh thực hiện hai Hợp đồng số 2XX ngày 24/11/2016 Hợp đồng số
2YY ngày 24/11/2016 các Phụ lục kèm theo. Công ty T đã thanh toán số tiền thu
nhập cam kết (TNCK) 12%/1 năm tính từ ngày 29/12/2017 theo 02 Phụ Lục 6A ngày
29 tháng 12 năm 2017 như sau:
- Đối với Căn hộ R1- 2414 đã thanh toán gồm: Năm 2018 thanh toán tiền thu
nhập cam kết cho Công ty G stiền là: 244.323.556 đồng nửa năm 2019, đã thanh
toán được là: 120.170.010 đồng. Tổng stiền thu nhập cam kết Công ty T đã trả cho
Công ty G = 364.493.566 đồng.
- Đối với Căn hộ Rx-1xxx gồm: Năm 2018 đã thanh toán số tiền thu nhập cam
kết cho Công ty G số tiền là: 282.598.954 đồng và nửa năm 2019 thanh toán được s
tiền là: 138.995.681 đồng. Tổng số tiền thu nhập cam kết Công ty T đã trả cho Công
ty G = 421.594.635 đồng.
Công ty G đã thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình, tuy nhiên Công
ty T đã không thực hiện nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ (Căn hộ số Rx-2xxx và Căn hộ
số Rx-1xxx) cho Công ty G và không thanh toán tiền nhập cam kết cho Công ty G là
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty G.
Công ty G làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
1. Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ số 2XX/2016/HĐMB/C O Resort MN
ngày 24/11/2016) gồm:
- Yêu cầu buộc Công ty T phải trả cho Công ty G khoản thu nhập cam kết còn
chưa thanh toán của nửa năm 2019 là: 110.146.964 đồng năm 2020 là: 220.293.298
đồng, năm 2021 là: 220.293.298 đồng nửa năm 2022 là: 110.146.964 đồng, tổng
cộng: 660.879.894 đồng.
4
- Yêu cầu Tòa án chấm dứt thực hiện Hợp đồng mua bán căn hộ s
2XX/2016/HĐMB/C O Resort MN ngày 24/11/2016 do Công ty T vi phạm các
nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng.
- Yêu cầu Công ty T phải trả cho ng ty G số tiền đã thanh toán: 2.019.361.008
đồng (Hai tỷ không trăm mười chín triệu ba trăm sáu mươi một ngàn lẻ tám đồng).
- Yêu cầu Công ty T phải trả cho Công ty G số tiền phạt vi phạm tương đương
với 8% số tiền Công ty G đã thanh toán cho Công ty T = 2.019.361.008 đồng x 8% =
161.548.880 đồng.
2. Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ số 2YY/2016/HĐMB/C O Resort MN
ngày 24/11/2016) gồm:
- Yêu cầu buộc Công ty T phải trả cho Công ty Cổ phần Thực phẩm G khoản
thu nhập cam kết còn chưa thanh toán của nửa năm 2019 là: 127.406.890 đồng, năm
2020 là: 254.813.780 đồng, năm 2021 là: 254.813.780 đồng, nửa năm 2022 là:
127.406.890 đồng, tổng cộng: 764.441.340 đồng.
- Yêu cầu chấm dứt thực hiện Hợp đồng mua bán n hộ số
2YY/2016/HĐMB/C O Resort MN ngày 24/11/2016 do Công ty T vi phạm các
nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng.
- Yêu cầu buộc ng ty T phải trả cho ng ty G số tiền đã thanh toán
2.335.752.987 VNĐ (Hai tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn
chín trăm tám mươi bảy đồng.
- Yêu cầu buộc Công ty T phải trả cho Công ty G số tiền phạt vi phạm tương
đương với 8% số tiền Công ty G đã thanh toán cho Công ty T = 2.335.752.987 đồng
x 8% = 186.877.677 đồng.
Tổng số tiền Công ty G yêu cầu Tòa án buộc Công ty T phải trả cho Công ty
Cổ phần Thực phẩm G = 660.879.894 đồng + 2.019.361.008 đồng + 161.548.880
đồng + 764.441.340 đồng + 2.335.752.987 đồng + 186.877.677 đồng = 6.128.861.786
đồng.
Trong quá trình giải quyết Công ty T đã thanh toán tiếp cho Công ty G năm
2022 số tiền 210.000.000 đồng. Vậy số tiền Công ty T phải thanh toán tiếp cho Công
ty G là: 6.128.861.786 đồng - 210.000.000đồng = 5.918.861.786 đồng.
Về yêu cầu phản tố của Công ty T tuyên bố Hợp đồng mua bán số
2XX/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort-MN Hợp đồng mua bán căn hộ số
2YY/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort-MN ký kết giữa Công ty T và Công ty G vô hiệu
do vi phạm điều cấm của luật và đề nghị Công ty G hoàn trả lại tiền đã nhận tạm ứng
thu nhập cam kết của năm 2018 526.922.510 đồng. Thu nhập cam kết kI m
5
2019 là 259.165.691 đồng. Tổng cộng số tiền của hai hợp đồng là: 786.088.201 đồng
Công ty G không chấp nhận.
* Đại diện ủy quyền bị đơn Công ty T trình bày:
Ngày 24/11/2016, Công ty T ng với Công ty G Hợp đồng mua bán số
2YY/2016/HĐMB/C O -Spa Resort-MN về việc mua bán căn hộ số Rx-1xxx và Hợp
đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/C O - Spa Resort-MN về việc mua bán căn hộ
số Rx-2xxx Tòa nhà Căn hộ Khách sạn C 3 “C O - Spa Resort” thuộc dự án Khu nghỉ
dưỡng và ncao cấp E tại địa chỉ: Tổ 5x đường T, phường H, quận S, thành phố
Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là HĐMB). Theo thỏa thuận giữa hai bên, nội dung của việc
mua bán như sau: Căn hộ số Rx-1xxx,Diện tích 64.5 m
2
, Giá bán căn hộ
2.235.208.600 đồng và căn hộ Rx-2xxx, diện tích 53.6 m
2
, giá bán 1.932.470.400
đồng.
- Tiến độ thanh toán: Ngay khi ký Hợp Đồng Mua Bán căn hộ tỷ lệ thanh toán
đủ 30% giá bán căn hộ + VAT của 30% giá bán căn hộ, số tiền thanh toán cho căn hộ
số Rx-1xxx là 737.618.838 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 637.715.232 đồng.
- Ngày 30/12/2016 , thanh toán 10% + VAT của 10%, số tiền phải thanh tn
cho căn hộ số Rx-1xxx 245.872.946 đồng căn hRx-2xxx 212.571.744 đồng.
- Ngày 30/3/2017, thanh toán 10% + VAT của 10% , số tiền phải thanh toán
cho căn hộ số Rx-1xxx là 245.872.946 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 212.571.744 đồng.
- Ngày 30/6/2017, thanh toán 10% + VAT của 10%, số tiền phải thanh toán cho
căn hộ số Rx-1xxx là 245.872.946 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 212.571.744 đồng.
- Ngày 30/9/2017, thanh toán 10% + VAT của 10%, số tiền phải thanh toán căn
hộ số Rx-1xxx là 245.872.946 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 212.571.744 đồng.
- Thông báo bàn giao căn hộ (dự kiến quý 4/2017) thanh toán 25% + VAT của
30% (bao gồm cả VAT của 5% Giá Bán Căn Hộ đợt 7 2% Phí Bảo Trì, stiền phải
thanh toán căn hộ số Rx-1xxx 670.562.580 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 579.741.120
đồng và thông báo GCNQSDĐ, QSHNO và TSKGLVĐ 5% giá bán căn hộ, số tiền
phải thanh toán cho căn hộ sRx-1xxx 111.760.430 đồng căn hộ Rx-2xxx
96.623.520 đồng. Tổng cộng số tiền phải thanh toán cho căn h Rx-1xxx
2.530.433.632 đồng, tổng của căn hộ số Rx-2xxx là 2.164.366.848 đồng.
Tại Điều 2 của Hợp đồng mua bán, hai bên cũng thỏa thuận, sau khi bàn giao
nhà, bên bán sẽ thuê lại căn hộ để kinh doanh và thanh toán cho bên mua một khoản
thu nhập cam kết bằng 12%/năm tính trên giá trị căn hộ chưa bao gồm thuế GTGT
hoặc bằng 80% tổng lợi nhuận trước thuế của việc kinh doanh căn hộ (gọi tắt là Thu
nhập cam kết).
6
Đến ngày 29/12/2017, hai bên tiếp tục Phụ Lục 1A để thỏa thuận bổ sung
về việc thanh toán, theo đó tiến độ thanh toán được điều chỉnh như sau:
Ngay khi Hợp Đồng Mua Bán Căn Hộ tsố tiền phải thanh toán cho căn
hộ Rx-1xxx là 737.618.838 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 637.715.232 đồng.
- Ngày 30/12/2016, số tiền phải thanh toán cho căn hộ Rx-1xxx là 245.872.946
đồng và căn hộ Rx-2xxx là 212.571.744 đồng.
- Ngày 30/6/2017, số tiền phải thanh toán cho căn hộ Rx-1xxx 245.872.946
căn hộ Rx-2xxx là 212.571.744 đồng.
- Ngày 30/9/2017, số tiền phải thanh toán cho căn hộ Rx-1xxx là 245.872.946
đồng và căn hộ Rx-2xxx là 212.571.744 đồng.
- Ngày 29/01/2018, số tiền phải thanh toán cho căn hộ Rx-1xxx 614.682.365
đồng và căn hộ Rx-2xxx là 531.429.360đồng.
- Thông báo bàn giao căn hộ dự kiến Quý 2/2018, số tiền phải thanh toán cho căn
hộ Rx-1xxx là 55.880.215 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 48.311.760 đồng.
- Thông báo GCNQSDĐ, QSHNO và TSKGLVĐ,số tiền phải thanh toán cho căn
hộ Rx-1xxx là 111.760.430 đồng và căn hộ Rx-2xxx là 96.623.520 đồng.
Tổng cộng số tiền phải thanh toán cho căn hộ Rx-1xxx là 2.503.433.632đồng,
tổng của căn hộ Rx-2xxx là 2.164.366.848 đồng .
Cùng ngày 29/12/2017, hai bên tiếp tục Phụ Lục 6A để thỏa thuận sửa đổi
thời hạn thanh toán thu nhập cam kết. Theo đó, Điều 1 quy định, kể từ ngày bên mua
thanh toán đến 95% giá trị căn hộ thì bên mua sẽ được hưởng một khoản tiền tạm ứng
Thu nhập cam kết 12%/năm tính trên giá trị căn hchưa bao gồm thuế GTGT. Việc
thanh toán tiền tạm ứng Thu nhập cam kết được thực hiện mỗi năm 02 lần.
Thực hiện thỏa thuận bổ sung nói trên, đến ngày 29/12/2017, bên mua đã thanh
toán cho bên bán tổng số tiền 4.667.800.480 đồng, tương đương với 95% giá trị căn
hộ. Về phía bên bán cũng đã thực hiện thanh toán cho bên mua khoản tiền tạm ứng
Thu nhập cam kết với tổng số tiền là 948.186.155 đồng, cụ thể như sau:
- Ngày 07/8/2018 Công ty T thanh toán tiền cam kết cho căn hộ Rx-1xxx
128.454.070 đồng và cho căn hộ Rx-2xxx là 111.056.162 đồng.
- Ngày 31/12/2018 Công ty T thanh toán tiền cam kết cho căn hộ Rx-1xxx
128.454.070 đồng cho căn hộ Rx-2xxx là 111.056.162 đồng.
- Ngày 03/10/2019 thanh toán tiền cam kết cho căn hộ Rx-1xxx 138.995.681
đồng và cho căn hộ Rx-2xxx là 120.170.010 đồng.
- Ngày 11/01/2022, thanh toán tiền cam kết cho căn hộ Rx-1xxx là 30.000.000
đồng và cho căn hộ Rx-2xxx là 30.000.000 đồng.
7
- Ngày 15/3/2022, thanh toán tiền cam kết cho căn hộ Rx-1xxx là 75.000.000
đồng và cho căn hộ Rx-2xxx là 75.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền đã thanh toán cho căn hộ Rx-1xxx 500.903.821 đồng
cho căn hộ Rx-2xxx là 447.282.334 đồng.
Ngày 01/11/2019, UBND thành phố Đà Nẵng đã quyết định xử phạt vi phạm
hành chính số 5046/QĐ – XPVPHC. Trong đó, tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Quyết
định đã xác định Công ty T chủ đầu dán đã hành vi vi phạm hành chính
Thu tiền của bên mua bất động sản hình thành trong tương lai vượt quá tỷ lệ phần
trăm giá trị hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật kinh doanh bất động
sản số 66/2014/QH13. Cụ thể: Tại Khu HH8 528 trường hợp, Khu HH3 704
trường hợp, Khu HH4 có 8 trường hợp, Khu HH5 có 638 trường hợp và Khu HH8 có
88 trường hợp”.
Công ty T đầu xây dựng dự án Khu nghỉ dưỡng nhà cao cấp E để bán
căn hộ cho khách hàng nhằm mục đích sinh lợi là hoạt động kinh doanh bất động sản,
thực hiện theo các quy định tại Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 (Luật
KDBĐS). Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật KDBĐS:
- Kinh doanh bất động sản việc đầu vốn để thực hiện hoạt động xây dựng,
mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê
mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất
động sản; dịch vụ vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh
lợi. n cứ các thỏa thuận tại HĐMB, việc các bên thỏa thuận mua bán căn hộ số Rx-
1xxx, Rx-2xxx theo HĐMB thỏa thuận mua bán bất động sản hình thành trong
tương lai. Khoản 4 Điều 3 Luật KDBĐS quy định: Nhà, công trình xây dựng hình
thành trong tương lai là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và
chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Do đây hoạt động kinh doanh bất động
sản hình thành trong tương lai nên việc kinh doanh phải thực hiện theo quy định tại
Chương III Luật KDBĐS. Khoản 1 Điều 57 Luật KDBĐS quy định:
Việc thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương
lai được thực hiện nhiều lần, lần đầu không quá 30% giá trị hợp đồng, những lần tiếp
theo phải phù hợp với tiến độ xây dựng bất động sản nhưng tổng số không quá 70%
giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà, công trình xây dựng cho khách hàng; trường
hợp bên bán, bên cho thuê mua là doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài thì tổng số
không quá 50% giá trị hợp đồng.
Theo thỏa thuận tại HĐMB, tính đến ngày 29/12/2017, bên mua đã thanh toán
cho bên bán số tiền 4.667.800.480 đồng, bằng 95% giá trị căn hộ nhằm mục đích để
bên bán huy động vốn nhanh nhằm thực hiện dự án bên mua được hưởng khoản
8
tiền tạm ứng Thu nhập cam kết. Tính đến ngày 05/8/2022, căn hộ Rx-1xxx; Rx-2xxx
Tòa nhà Căn hộ Khách sạn C3 “C O Spa Resort” vẫn chưa được bàn giao cho
bên mua. Đây là thỏa thuận về việc thanh toán không phù hợp với quy định của Luật
KDBĐS nói trên. Theo quy định tại Điều 122, Điều 123, Điều 131 Bộ luật dân sự số
91/2015/QH13 thì thỏa thuận thanh toán vượt 70% giá trị căn hộ để được hưởng tạm
ứng Thu nhập cam kết tại i (a) khoản 3 Mục 1 - Phụ lục số 06 kèm theo HĐMB bị
xác định là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
Do vậy, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu Tòa án
tuyên bố Hợp đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/C O-Spa Resort-MN Hợp đồng
mua bán căn hộ số 2YY/2016/HĐMB/C O-Spa Resort-MN ký kết giữa Công ty T và
Công ty G hiệu do vi phạm điều cấm của luật đề nghị Công ty G hoàn trả lại
tiền đã nhận thu nhập cam kết ứng trước của năm 2018 526.922.510 đồng. Thu
nhập cam kết ứng trước kỳ I năm 2019 259.165.691 đồng. Tổng cộng số tiền của
hai hợp đồng là: 786.088.201 đồng.
* Ý kiến phát biểu của luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn
gồm:
Đối với Khoản TNCK 12%/năm nguyên đơn nại ra theo quy định tại PL 6A
của HĐMB thực chất chỉ là khoản Thu Nhập Cam Kết Ứng Trước”, và sẽ được đối
trừ lại sau Ngày Bắt Đầu của Chương Trình Cho Thuê (sau khi KH đã thỏa mãn đủ
03 điều kiện: (i) thanh toán đủ tối thiểu 95% Giá Bán Căn Hộ; (ii) nhận bàn giao căn
hộ và (iii) ký Hợp đồng quản lý cho thuê căn hộ). Như vậy khoản tiền này hoàn toàn
không phải là khoản thu nhập nguyên đơn được hưởng (do nguyên đơn chưa thỏa
mãn cả 03 điều kiện nêu trên). Do đó trường hợp chấm dứt HĐMB thì nguyên đơn
phải hoàn trả lại các khoản tạm ứng trước này.
Ngoài ra, Thỏa thuận về trả tiền tạm ứng trước TNCK 12%/năm tại PL 6A của
HĐMB vi phạm quy định về huy động vốn tại K1 Điều 57 Luật Kinh doanh bất động
sản, do HĐMB có nội dung vi phạm điều cấm pháp luật nên HĐMB bị vô hiệu theo
Điều 122, Điều 123, Điều 131 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, do đó không làm
phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với các bên. Đề nghị HXXX chấp nhận yêu cầu
phản tố của Công ty CP đầu tư phát triển và xây dựng Đ buộc Công ty Thực phẩm G
hoàn trả lại tiền đã nhận tạm ứng thu nhập cam kết năm 2018 526.922.510 đồng.
Thu nhập cam kết kỳ I năm 2019 là 259.165.691 đồng. Tổng cộng là: 786.088.201
đồng.
* Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
9
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công
giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ việc; về thẩm quyền thụ lý
vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hpháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan
hệ giữa những người tham gia tố tụng, xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
2. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Tại phiên tòa
hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về việc xét
xử vụ việc.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng
đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán
thực hiện thanh toán các khoản cam kết theo hợp đồng” của Công ty G đối với
Công ty T; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty T.
Công ty T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sthẩm số: 28/2022/DS-ST ngày
10 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà
Nẵng quyết định:
Căn cứ:
- Điều 22, Điều 23, Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 166, 117, 280;
422, 428, 433, 434, 440 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 40, Điều 147 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
- Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Yêu cầu chấm dứt hợp đồng, thực hiện thanh
toán các khoản cam kết theo hợp đồng” của Công ty Cổ phần thực phẩm G đối Công
ty CP đầu tư phát triển và xây dựng Đ.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố Hợp đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/C O - Spa Resort-MN,
ngày 24/11/2016 Hợp đồng mua bán số 2YY/2016/HĐMB/C O -Spa Resort-MN
ngày 24/11/2016 của Công ty Cổ phần thực phẩm G kết với Công ty CP đầu
phát triển và xây dựng Đ được chấm dứt kể từ ngày 10/11/2022.
1.1. Buộc Công ty CP đầu tư phát triển xây dựng Đ phải thanh toán cho
Công ty Cổ phần thực phẩm G tổng cộng stiền 5.918.861.786 đồng (trong đó,
10
gồm tiền thanh toán mua 02 căn hộ 4.355.113.995 đồng; tiền thu nhập cam kết của 02
hợp đồng là 1.425.321.234 đồng và tiền phạt vi phạm của 02 hợp đồng 348.426.557
đồng, tổng cộng: 6.128.861.786 đồng - 210.000.000 đồng thanh toán thêm =
5.918.861.786 đồng).
1.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty CP đầu tư phát triểnxây
dựng Đ về tuyên bố Hợp đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort-MN
Hợp đồng mua bán căn hộ số 2YY/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort - MN kết
giữa Công ty T và Công ty G vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và đề nghị Công
ty G hoàn trả lại tiền đã nhận tạm ứng thu nhập cam kết là: 786.088.201 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân
sự 2015.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định vphần án phí, chi ptố tụng thi hành
án dân sự và quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 23 tháng 11 năm 2022, bị đơn Công Đ có Đơn kháng cáo một phần bản
án sơ thẩm với các nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty T phải thanh
toán các khoản tiền thu nhập cam kết, phạt 08% giá trị hợp đồng;
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty T về việc đòi lại khoản tiền tạm ứng;
Và tuyên mt phần nội dung hợp đồng vô hiệu.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện hợp pháp của Công ty T giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị
HĐXX chấp nhận kháng cáo của Công ty T. Các bên đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo Công ty T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thời hạn kháng cáo, phạm vi kháng cáo của bị đơn Công ty T:
11
Bản án dân sự thẩm số: 28/2022/DS-ST của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng được tuyên vào ngày 10 tháng 11 năm 2022, Công ty T có
mặt tại phiên tòa và lúc tuyên án. Ngày 23 tháng 11 năm 2022 Tòa án nhân dân quận
Ngũ Hành Sơn nhận được đơn kháng cáo của Công ty T là trong thời hạn kháng cáo
theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS.
Công ty T chỉ kháng cáo mt phần bản án sơ thẩm đã tuyên, gồm:
- Phần tuyên buộc Công ty T trả cho Công ty G tiền thu nhập cam kết của 02
hợp đồng là 1.425.321.234 đồng và tiền phạt vi phạm của 02 hợp đồng 348.426.557
đồng;
- Phần tuyên không chấp nhận: Yêu cầu phản tố của Công ty T về tuyên bố Hợp
đồng mua bán s2XX/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort-MN và Hợp đồng mua bán căn
hộ số 2YY/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort - MN ký kết giữa Công ty T và Công ty G
hiệu do vi phạm điều cấm của luật; yêu cầu Công ty G hoàn trả lại tiền đã nhận
tạm ứng thu nhập cam kết là: 786.088.201 đồng.
Các phần khác tại quyết định của bản án sơ thẩm, gồm:
- Tuyên bố Hợp đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/C O - Spa Resort-MN,
ngày 24/11/2016 Hợp đồng mua bán số 2YY/2016/HĐMB/C O -Spa Resort-MN
ngày 24/11/2016 của Công ty Cổ phần thực phẩm G kết với Công ty CP đầu
phát triển và xây dựng Đ được chấm dứt kể từ ngày 10/11/2022;
- Buộc Công ty CP đầu tư phát triển và xây dựng Đ phải thanh toán cho Công
ty Cổ phần thực phẩm G số tiền đã thanh toán mua 02 căn hộ là 4.355.113.995 đồng.
Công ty T không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Do đó, HĐXX
phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án thẩm kháng cáo, theo quy định tại
Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự về phạm vi xét xử phúc thẩm.
[2] Về kháng cáo của bị đơn Công ty T.
[2.1] Về khoản tiền thu nhập cam kết của 02 hợp đồng là 1.425.321.234 đồng
tiền phạt vi phạm của 02 hợp đồng 348.426.557 đồng theo yêu cầu của nguyên đơn
Công ty G.
Theo Điều 4.1 phần b Hợp đồng các bên thỏa thuận Trong trường hợp bên
bán không bàn giao căn hộ cho bên mua sau 180 kể từ ngày bàn giao dự kiến ngoài
các trường hợp bất khả kháng bên mua thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định
tại Điều 7 thì bên mua có quyền (i) yêu cầu bên bán trả khoản lãi theo điểm a khoản
4.1 điều này và tiếp tục thực hợp đồng với thỏa thuận bổ sung về thời điểm bàn giao
căn hộ mới hoặc (ii) đơn phương chấm dứt hợp đồng (iii) áp dụng các chế tài
theo quy định tại Điều 12”. Về thời gian dự kiến bàn giao 02 căn hộ quy định tại Phụ
12
lục 01 của hợp đồng số 2XX/2016/HĐMB ngày 24/11/2016 Hợp đồng mua bán
căn hộ số 2YY/2016/HĐMB ngày 24/11/2016 ngày 30/12/ 2017 thể được
chậm nhưng không quá 180 ngày (6 tháng). Như vậy, Công ty T phải bàn giao căn hộ
cho Công ty G chậm nhất vào ngày 30/6/2018. Công ty T đã vi phạm về việc không
bàn giao căn hộ, nên Công ty G được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng áp
dụng c chế tài theo quy định tại Điều 12 như thỏa thuận của các bên tại Điều 4.1
phần b Hợp đồng trên. Điều 12.12.2 quy định: Trường hợp Hợp đồng chấm dứt theo
Điều 4.1.b thì Công ty T (Bên bán) có trách nhiệm thanh toán: (ii) khoản tiền phạt vi
phạm tương đương 20% tổng số tiền Bên Mua (Công ty G) đã thanh toán cho Công
ty T.
Tại Phụ lục 6 Điều 4 Phụ lục 6A của hợp đồng ngày 29/12/2017 hai bên
thống nhất Bên bán xác nhận, bên mua đã thanh toán tối thiểu đủ 95% giá bán căn
hộ và thuế giá trị gia tăng theo quy định hợp đồng do đó: kể từ ngày 29/12/2017 đến
ngày bắt đầu chương trình cho thuê,bên mua được hưởng khoản tiền tương đương
12% theo đúng quy định tại Điều 1 của phụ lục 6A này”.
Điều 13 về chấm dứt hợp đồng hai bên quy định tại 13.1 (iii): Công ty G thể
chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 4.1.b (là trường hợp Công ty T không
bàn giao căn hộ cho Công ty G sau 180 ngày kể từ ngày Bàn giao dự kiến); Và Hợp
đồng bị chấm dứt sẽ không giải phóng n Mua (Công ty G) hay Bên bán (Công ty
T) khỏi bất kỳ nghĩa vụ hoặc trách nhiệm nào phát sinh trước ngày chấm dứt hợp
đồng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản. (13.2. iii)
Như vậy, khoản tiền thu nhập cam kết của 02 hợp đồng là 1.425.321.234 đồng
và tiền phạt vi phạm 08% của giá trị 02 hợp đồng là 348.426.557 đồng theo yêu cầu
của nguyên đơn Công ty G sở, phù hợp với thỏa thuận thống nhất của hai bên
tại Hợp đồng Phụ lục hợp đồng. Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn Công ty G đúng quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp người bảo
vệ quyền, lợi ích của Công ty T cho rằng đây chỉ là khoản “Thu Nhập Cam Kết Ứng
Trước”, và sẽ được đối trừ lại sau Ngày Bắt Đầu của Chương Trình Cho Thuê (sau
khi KH đã thỏa mãn đủ 03 điều kiện: (i) thanh toán đủ tối thiểu 95% Giá Bán Căn Hộ;
(ii) nhận bàn giao căn hộ (iii) Hợp đồng quản lý cho thuê căn hộ. Do Công ty
G chưa thỏa mãn cả 03 điều kiện này nên khi chấm dứt HĐMB thì Công ty G phải
hoàn trả lại các khoản tạm ứng trước là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về kháng cáo của Công ty T yêu cầu chấp nhận phản tố về tuyên bố Hợp
đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/C O-Spa Resort-MN và Hợp đồng mua bán căn
hsố 2YY/2016/HĐMB/C O-Spa Resort - MN kết giữa Công ty T Công ty G
hiệu do thỏa thuận về việc thanh toán không phù hợp với quy định của khoản 1
13
Điều 57 Luật KDBĐS, nên vi phạm điều cấm của luật và đề nghị Công ty G hoàn trả
lại tiền đã nhận tạm ứng thu nhập cam kết là: 786.088.201 đồng.
Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự quy định: Điều cấm của luật
những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Hợp đồng mua bán căn hộ số Rx-1xxx, Rx-2xxx theo HĐMB là thỏa thuận mua bán
bất động sản hình thành trong tương lai, được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bất
động sản. Nội dung người đại diện hợp pháp người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp
của Công ty T viện dẫn quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật KDBĐS không thuộc các
hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản. Do đó, Bản án
sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố này của Công ty T là có căn cứ, đúng quy
định của pháp luật.
[3] Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy toàn bộ kháng cáo của Công
ty T không sở nên không được HĐXX chấp nhận. Về ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với
phân tích nhận định trên của HĐXX nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty T
phải chịu án phí phúc thẩm 300.000đ theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết
số: 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty CP Đầu phát triển Xây
dựng Đ;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2022/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm
2022 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Căn cứ:
- Điều 22, Điều 23, Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 166, 117, 280;
422, 428, 433, 434, 440 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 40, Điều 147 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
- Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Yêu cầu chấm dứt hợp đồng, thực hiện thanh
toán các khoản cam kết theo hợp đồng” của Công ty Cổ phần thực phẩm G đối Công
ty CP Đầu tư phát triển và Xây dựng Đ.
Tuyên xử:
14
1. Tuyên bố Hợp đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/C O - Spa Resort-MN,
ngày 24/11/2016 Hợp đồng mua bán số 2YY/2016/HĐMB/C O -Spa Resort-MN
ngày 24/11/2016 của Công ty Cổ phần thực phẩm G ký kết với Công ty CP Đầu tư
phát triển và Xây dựng Đ được chấm dứt kể từ ngày 10/11/2022.
1.1. Buộc Công ty CP Đầu phát triển Xây dựng Đ phải thanh toán cho
Công ty Cổ phần thực phẩm G tổng cộng số tiền 5.918.861.786 đồng (trong đó gồm:
tiền thanh toán mua 02 căn hộ 4.355.113.995 đồng; tiền thu nhập cam kết của 02 hợp
đồng 1.425.321.234 đồng tiền phạt vi phạm của 02 hợp đồng 348.426.557 đồng,
tổng cộng: 6.128.861.786 đồng - 210.000.000 đồng đã thanh toán thêm =
5.918.861.786 đồng).
1.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty CP Đầu phát triển Xây
dựng Đ về tuyên bố Hợp đồng mua bán số 2XX/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort-MN
Hợp đồng mua bán căn hộ số 2YY/2016/HĐMB/ C O-Spa Resort - MN kết
giữa Công ty T và Công ty G vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và đề nghị Công
Cổ phần thực phẩm G hoàn trả lại tiền đã nhận tạm ứng thu nhập cam kết là:
786.088.201 đồng.
1.3. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất
cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
dân sự 2015.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm Công ty CP Đầu tư phát triển và Xây dựng Đ phải
chịu 149.662.390đ (Trong đó gồm 113.918.862 tiền các khoản Công ty G yêu cầu
được chấp nhận; 300.000đ tiền bác yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu và 35.443.528
đồng phần bị bác của số tiền yêu cầu hoàn trả lại ứng trước thu nhập cam kết), được
khẩu trừ số tiền tạm ứng án phí Công ty T đã nộp 20.722.000 đồng (Trong đó gồm:
số tiền 17.722.000 đồng tại biên lai thu số 0001183 ngày 07/03/2022; số tiền 300.000
đồng tại biên lai thu số 0001337 ngày 14/9/2022 số tiền 2.700.000 đồng tại biên
lai thu số 0001345 ngày 20/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng. Số tiền còn lại phải nộp thêm là: 128.940.390 đồng.
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần thực phẩm G số tiền tạm ứng án phí đã nộp
57.008.000 đồng tại quan Thi hành án quận Ngũ Hành Sơn, theo biên lai thu số
0001113 ngày 17/12/2021.
2.2. Án phí phúc thẩm: Công ty CP Đầu tư phát triển và Xây dựng Đ phải chịu
300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ theo Biên
15
lai thu số 1463 ngày 29/11/2022 của Chi cục Thi hành án quận Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng. Như vậy, Công ty T đã nộp xong án phí phúc thẩm.
3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ Công ty Cổ phần thực phẩm G tự chịu (đã
nộp và chi xong).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Chi Cục THADS quận Ngũ Hành Sơn;
- Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Cao Văn Hiếu
Tải về
Bản án số 55/2023/DS-PT Bản án số 55/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất