Bản án số 55/2018/DS-ST ngày 30/10/2018 của TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hụi
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 55/2018/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 55/2018/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 55/2018/DS-ST ngày 30/10/2018 của TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hụi |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tháp Mười (TAND tỉnh Đồng Tháp) |
| Số hiệu: | 55/2018/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/10/2018 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hụi giữa bà Q và bà L |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 55/2018/DS-ST
Ngày: 30-10-2018
V/v Tranh chấp hụi
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn
Ông Lê Văn Vững
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 25,30/10/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh
Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sụ sơ thẩm thụ lý số:
236/2018/TLST-DS, ngày 04 tháng 6 năm 2018, về việc “Tranh chấp hụi” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2018/QĐXXST - DS ngày 08 tháng 10
năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bích Q, sinh năm: 1978
Địa chỉ: Ấp a, xã LB, huyện TM, Đồng Tháp.
Bị đơn: Trần Thị L, sinh năm: 1979.
Trang Hồng N, sinh năm: 1974.
Cùng địa chỉ: Ấp a, xã LB , huyện TM, Đồng Tháp.
( Bà Q có mặt; bà L, ông N có đơn xin vắng mặt phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Nguyễn Thị Bích Q trình bày: Bà tham gia 02 dây hụi tháng do bà L,
ông N làm đầu thảo, mỗi dây tham gia 1 phần, cụ thể như sau:
1/ Dây hụi 1.000.000đ mở ngày 20/12/2016 al, hụi tháng gồm 16 người tham
gia, bà tham gia 01 phần và đã đóng được 15 lần hụi sống đến lần thứ 16 bà hốt chót
2
với số tiền 14.700.000đ, đến ngày giao tiền thì vợ chồng bà L hẹn lần lượt không
giao.
2/ Dây hụi 1.000.000đ mở cùng ngày 20/12/2016 al, hụi tháng gồm 16 người
tham gia, bà tham gia 01 phần và đã đóng được 15 lần hụi sống đến lần thứ 16 bà hốt
chót với số tiền 14.700.000đ, đến ngày giao tiền thì vợ chồng bà L hẹn lần lượt không
giao.
Tổng cộng số tiền của 02 dây hụi là 29.400.000đ, bà có đòi nhưng vợ chồng
bà L hứa mà không thực hiện.
Nay bà Q yêu cầu bà L, ông N trả số tiền 29.400.000đ.
Theo tờ tự khai của bà Trần Thị L trình bày: Trước đây bà có mở tổ hùn
vốn xoay vòng gọi là hụi do bà làm đầu thảo, bà Q có tham gia chơi nhưng do gần
đây gia đình bà xảy ra biến cố, kinh tế gia đình gặp khó khăn nên bà tuyên bố bể hụi
nhưng chưa hoàn trả tiền vốn cho bà Q được.
Nay bà đồng ý trả cho bà Q sồ tiền hụi 29.400.000đ. Bà L có đơn xin vắng
mặt các phiên họp, hòa giải và phiên tòa xét xử.
Theo tờ tự khai của ông Trang Hồng N trình bày: Nguyên vợ ông có mở
tổ hùn vốn xoay vòng ( gọi là hụi) do vợ ông là bà Trần Thị L làm tổ trưởng (đầu
thảo), ông có biết vợ ông có mở hụi chơi nhưng chơi với ai? bao nhiêu dây, gồm
những ai ông không biết.
Nay bà Q khởi kiện yêu cầu ông trả số tiền 29.400.000đ tiền hụi, ông không
biết về số tiền này vì ông và bà Q không có làm ăn với nhau, hụi đều do vợ ông là bà
L chơi với bà Q, mọi quyết định do vợ ông quyết định và nhận nợ. Ông N có đơn xin
vắng mặt các phiên họp, hòa giải và phiên tòa xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc chấp hành pháp luật tố tụng
của Hội đồng xét xử, Thư ký đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc
xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng Từ khi Tòa
án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng
các quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự và những quy định khác của
pháp luật.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Bà L có tổ chức làm chủ đầu thảo hụi gồm nhiều dây hụi tháng, hụi
mùa có nhiều người tham gia đến tháng 02/2018 al, thì bà L tuyên bố đình hụi
(ngưng không khui hụi tiếp), các bên thống nhất số tiền nợ và bà L nhận nợ
nhưng bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên các bên xảy ra tranh chấp.
3
[2] Xét yêu cầu của bà Q yêu cầu bà L, ông N trả tiền hụi 29.400.000đ là
có cơ sở vì bà L thừa nhận có làm đầu thảo hụi, do kinh tế gia đình bà gặp khó
khăn nên bà tuyên bố bể hụi đến ngày 30/2/2018 al và bà L và bà Q có gặp nhau
chốt nợ, tổng cộng thiếu bà Q 29.400.000đ, bà đồng ý trả cho bà Q.
[3] Đối với, ông N là chồng của bà L không đồng ý trả nợ cho bà Q mà
ông cho rằng việc làm hụi đều do bà L chơi với bà Q, ông không tham gia là
không thể chấp nhận vì theo ý kiến của ông được trình bày trong tờ tự khai ông
thừa nhận biết việc bà L làm đầu thảo hụi và trong thời gian làm hụi thì bà L, ông
N là vợ chồng vẫn sống chung, việc bà L bể hụi do kinh tế gia đình khó khăn và
chi phí sinh hoạt trong gia đình bà L lo. Đồng thời, sau khi bể hụi thì ông N cùng
bà bà L đi làm để trả nợ. Do đó, ông N phải có nghĩa vụ cùng bà L trả nợ cho bà
Q.
Ngoài ra, trong qua trình giải quyết vụ án bà L và ông N có đơn xin vắng
mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự có ghi:
“1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người
đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;”.
[4] Do chấp nhận yêu cầu của bà Q nên bà L, ông N có nghĩa vụ phải
chịu án phí.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc chấp hành pháp luật tố
tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về
việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng từ khi Tòa
án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng
các quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự và những quy định khác của
pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn. Buộc bị đơn Trần Thị L, Trang Văn N liên đới trả cho bà Q số tiền
29.400.000đ
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích Q.
Buộc bà Trần Thị L, ông Trang Hồng N có trách nhiệm liên đới trả tiền
hụi cho bà Nguyễn Thị Bích Q 29.400.000đ (Hai mươi chín triệu bốn trăm đồng).
4
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Q mà bà L, ông N chưa trả
xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải bằng tiền lãi bằng 50% mức lãi suất
theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành
án đến khi thi hành xong.
2. Về án phí: Bà L, ông N phải nộp 1.470.000đ án phí sơ thẩm dân sự.
Bà Nguyễn Thị Bích Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả
lại cho bà Q 735.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai
thu số BG/2015 0005311 quyển số 0000107, ngày 11/5/2018, của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Tháp Mười.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay bà Q được quyền
làm đơn kháng cáo lên Tòa án cấp trên. Đối với bà L, ông N được quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND Tỉnh ĐT; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND cùng cấp
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.(M)
(đã ký)
Nguyễn Thanh Mai
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm