Bản án số 531/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 531/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 531/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 531/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 531/2026/DS-PT Bản án số 531/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 531/2026/DS-PT Bản án số 531/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương.
Các Thẩm phán: Ông K’Tiêng và ông Bùi Đăng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai là Thư ký viên Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 510/2026/TLPT-DS ngày 31-7-2026 về
việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng tín
dụng”. Do Bản án số: 45/2026/DS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số: 590/2026//QĐ-PT ngày 05-8-2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc
thẩm số: 597/2026/QĐ-PT ngày 19-8-2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quyết Thắng, sinh năm 1979; địa chỉ: số
39/12/8A đường Vạn Hạnh, phường Lâm Viên-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng -
Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc Hòa, sinh năm 1997; địa chỉ:
Lầu 01 - Số 189A Nguyễn Công Trứ, Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (Văn
bản ủy quyền ngày 27-5-2024) – Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1968 và bà Đoàn Thị Hậu, sinh
năm 1971; địa chỉ: Lô LK - E30 Khu dân cư-tái Định cư Phạm Hồng Thái
phường Xuân Hương – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (viết
tắt là BIDV); địa chỉ: Tháp BIDV, số 194 Trần Quang Khải, phường Hoàn
Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Những người đại diện theo ủy quyền:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 531/2026/DS-PT
Ngày 07- 9 -2026
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng
tín dụng.”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
1) Bà Lê Nguyễn Ngọc Chi-Trưởng phòng KHCN BIDV -Chi nhánh Lâm
Đồng; địa chỉ: Số 22 Trần Phú, phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
(Văn bản ủy quyền ngày 29-8-2025).
2) Bà Lê Thị Thi Yên - Phó Trưởng phòng KHCN BIDV- Chi nhánh Lâm
Đồng; địa chỉ: Số 22 Trần Phú, phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (Văn
bản ủy quyền ngày 29-8-2025) – Có mặt.
3.2. Anh Nguyễn Đoàn Bảo Khanh, sinh năm 1998; địa chỉ: Lô LK - E30
Khu dân cư – tái Định cư Phạm Hồng Thái, phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh
Lâm Đồng- Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.3. Chị Nguyễn Đoàn Bảo Trâm, sinh năm 2004; địa chỉ: Lô LK-E30
Khu dân cư – tái Định cư Phạm Hồng Thái, phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh
Lâm Đồng - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.4. Chị Nguyễn Thị Mỹ Linh, sinh năm 1982; địa chỉ: số 39/12/8A đường Vạn
Hạnh, phường Lâm Viên-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo yêu cầu khởi kiện ngày 27-5-2024 và lời trình bày trong quá trình
giải quyết vụ án của nguyên đơn ông Nguyễn Quyết Thắng:
1.1. Ngày 22-12-2010, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Đà Lạt, tỉnh
Lâm Đồng ban hành Quyết định số: 4865/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của các
hộ gia đình cá nhân để giải phóng mặt bằng, khu dân cư Phạm Hồng Thái trong
đó có hộ gia đình ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu; địa chỉ: M3/3, Cư
xá Hỏa Xa, Phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 06-12-2011,
gia đình ông Hiếu, bà Hậu đã bốc thăm trúng lô đất tái định cư LK-E30, diện
tích 90m
2
, Khu quy hoạch dân cư-tái định cư Phạm Hồng Thái, Phường 10,
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
1.2. Ngày 29-7-2015, ông Thắng đặt cọc cho ông Hiếu, bà Hậu số tiền
390.000.000đồng, để nhận chuyển nhượng lô đất lô LK-E30, diện tích 90m
2
, Khu quy
hoạch dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái, giá trị chuyển nhượng 690.000.000đồng;
đến ngày 06-12-2018 hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng lô đất trên và trả số tiền
còn lại 300.000.000đồng. Ngày 01-11-2019, ông Thắng và vợ chồng ông Hiếu, bà
Hậu đã ký biên bản cắm mốc, bàn giao thực địa; xây 06 cọc mốc và rào lưới B40. Tuy
nhiên, ngày 06-12-2020, ông Hiếu, bà Hậu ngang nhiên xây dựng nhà trên thửa đất
trên, ông Thắng đã làm đơn gửi UBND thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nhưng
không được giải quyết. Sau đó, ông Thắng đã nhiều lần gặp vợ chồng ông Hiếu yêu
cầu dừng việc thi công nhưng không có kết quả. Do đó, ông Thắng khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
06-12-2018, giữa ông Thắng với vợ chồng ông Hiếu, bà Hậu; yêu cầu vợ chồng ông
Hiếu, bà Hậu tháo dỡ công trình trên lô đất lô LK - E30, diện tích 90m
2
; yêu cầu vợ
chồng ông Hiếu, bà Hậu giao giấy chứng nhận quyền sử đất (GCNQSDĐ) để ông
Thắng thực hiện thủ tục đăng ký biến động. Đồng thời, ông Thắng yêu cầu hủy hợp
đồng thế chấp số 149/2024/13938626/HĐBĐ ngày 07-05-2024 giữa BIDV-Chi nhánh
Lâm Đồng và vợ chồng ông Hiếu, bà Hậu.
3
2. Quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn trình bày không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng
trình bày:
3.1. Ngày 18-9-2024, giữa BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng với ông Nguyễn
Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu đã ký Hợp đồng tín dụng số:
591/2024/13938626/HĐTD. Căn cứ hợp đồng tín dụng BIDV-Chi nhánh Lâm
Đồng đã cho ông Hiếu, bà Hậu vay số tiền 6.700.000.000đồng (mục đích: sản
xuất nông nghiệp, thời hạn vay: 120 tháng). Ngày 07-5-2024, giữa BIDV-Chi
nhánh Lâm Đồng và vợ chồng ông Hiếu đã ký Hợp đồng số:
149/2024/13938626/HĐBĐ thế chấp tài sản là nhà, đất tại lô LK E30, Khu quy
hoạch dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái (theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 429322 do
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 18-03-2024).
3.2. Nay, ông Nguyễn Quyết Thắng khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-12-2018 với vợ chồng ông Nguyễn
Văn Hiếu liên quan đến tài sản đã thế chấp là nhà, đất tại lô LK E30 KQH dân
cư - tái định cư Phạm Hồng Thái, Phường 10, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng.
Do đó, BIDV có yêu cầu độc lập buộc vợ ông Hiếu trả số tiền nợ gốc là
6.700.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Trường hợp,
vợ chồng ông Hiếu không trả được nợ, BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng yêu cầu
tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số: 149/2024/13938626/HĐBĐ ngày
07-5-2024 cho đến khi trả xong nợ. Ngoài ra, BIDV không đồng ý với yêu cầu
của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản số:
149/2024/13938626/HĐBĐ ngày 07-5-2024.
4. Bản án sơ thẩm số: 45/2026/DS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1- Lâm Đồng, quyết định:
4.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Quyết Thắng: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập
ngày 06-12-2018, giữa ông Nguyễn Quyết Thắng và ông Nguyễn Văn Hiếu, bà
Đoàn Thị Hậu đối với thửa đất 635, tờ bản đồ số 22, diện tích 90m
2
tại Lô LK–
E30, Khu dân cư -tái định cư Phạm Hồng Thái, phường Xuân Hương-Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng. Buộc ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu liên đới trả
cho ông Nguyễn Quyết Thắng số tiền 10.319.580.000đồng.
4.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Quyết Thắng về việc: Yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp số:
149/2024/13938626/HĐBĐ ngày 07-5-2024 giữa BIDV - Chi nhánh Lâm Đồng
với ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu; Yêu cầu buộc ông Nguyễn
Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất tại thửa đất
số 635, tờ bản đồ số 22, diện tích 90m², tọa lạc tại lô LK–E30, Khu dân cư-tái
định cư Phạm Hồng Thái, phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; Yêu
cầu buộc ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu giao Giấy chứng nhận
4
quyền sử dụng đất số DN 429322 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Lâm
Đồng cấp ngày 18-3-2024.
4.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Ngân hàng TMCPĐT&PTVN:
4.3.1. Buộc ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu liên đới thanh
toán cho BIDV số tiền: 6.809.219.178đồng (Sáu tỷ tám trăm lẻ chín triệu hai
trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám đồng). Trong đó: nợ gốc:
6.700.000.000đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 28-4-2026: 109.219.178đồng. Kể
từ ngày 29-4-2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn
Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số:
591/2024/13938626/HĐTD ngày 18-9-2024.
4.3.2. Tiếp tục duy trì hiệu lực Hợp đồng thế chấp số:
149/2024/13938626/HĐBĐ ngày 07-5-2024 giữa BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng với
ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu đối với tài sản là quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 635, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại lô LK–
E30, Khu dân cư – tái định cư Phạm Hồng Thái, phường Xuân Hương – Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 429322 do Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 18-3-2024. Trường hợp, ông
Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng thì Ngân hàng có
quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp
theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.
4.4. Về án phí, chi phí tố tụng:
4.4.1. Ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu liên đới chịu
233.428.799đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4.4.2. Ông Nguyễn Quyết Thắng phải chịu 900.000đồng án phí dân sự sơ
thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền
600.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000876 ngày 10-6-2024
và biên lai thu 0008999 ngày 20-11-2025 của Thi hành án sân sự tỉnh Lâm Đồng,
còn phải nộp 300.000đồng.
4.4.3. Trả cho BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng số tiền 57.350.000đồng tiền tạm
ứng án phí theo biên lai thu số 0005118 ngày 14-10 -2025 của Thi hành án sân sự
tỉnh Lâm Đồng.
4.4. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu phải trả
cho ông Nguyễn Quyết Thắng số tiền 57.450.846đồng chi phí tố tụng đã nộp.
5. Sau khi xét xử nguyên đơn và bị đơn kháng cáo, cụ thể:
5.1. Ngày 11-5-2026, nguyên đơn kháng cáo, nội dung: Công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 06-12-2018, giữa ông Thắng với vợ
chồng ông Hiếu, bà Hậu; yêu cầu vợ chồng ông Hiếu, bà Hậu tháo dỡ công trình
trên lô đất lô LK - E30, diện tích 90m
2
; yêu cầu vợ chồng ông Hiếu, bà Hậu giao
giấy chứng nhận quyền sử đất để ông Thắng thực hiện thủ tục đăng ký biến động.
5.2. Ngày 01-5-2026, bị đơn ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu
kháng cáo, nội dung: Bản án sơ thẩm buộc bị đơn trả cho BIDV-Chi nhánh Lâm
5
Đồng số tiền gốc, tiền lãi phát sinh và trả cho ông Nguyễn Quyết Thắng số tiền
hơn 10.000.000.000đồng là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tòa án sơ thẩm chưa xem xét và đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện theo
quy định của pháp luật: Thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản hình thành
trong tương lai, đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất được bố trí tái định
cư mới được hình thành, chưa được giao đất trên thực địa, chưa hoàn tất thủ tục
để xác định quyền về tài sản; đồng thời bị đơn đã phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ
tài chính đối với Nhà nước. Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm hủy, hoặc sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm:
6.1. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút toàn bộ kháng cáo; không
chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
6.2. Đại diện theo ủy quyền của BIDV-Chi nhánh Lâm Đồng đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
6.3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu: Đề nghị
Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn; chấp nhận một
phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Đoàn Thị Hậu, sửa một
phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2026/DS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 01-Lâm Đồng về cách tuyên theo hướng: Chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quyết Thắng; hủy Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 06-12-2018 giữa ông Nguyễn Quyết
Thắng với ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Đoàn Thị Hậu đối với thửa đất số 635, tờ
bản đồ số 22, diện tích 90m² tại lô LK-E30, Khu dân cư - tái định cư Phạm
Hồng Thái, phường Xuân Hương - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; giữ nguyên các
quyết định còn lại của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận, đối
chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn:
[2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
rút toàn bộ kháng cáo, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các nội dung kháng
cáo của nguyên đơn.
[2.2]. Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.2.1]. Ngày 06-12-2011, bà Hậu bốc thăm trúng lô đất tái định cư LK-E30,
diện tích 90m
2
, tọa lạc tại Khu quy hoạch dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái,
Phường 10, thành phố Đà Lạt (bút lục 262). Quyết định số: 5733/QĐ-UBND
ngày 23-11-2019 của UBND thành phố Đà Lạt: giao cho ông Hiếu, bà Hậu 90m
2
6
lô LK E30 KQH tại khu quy hoạch dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái để sử
dụng vào mục đích đất ở (bút lục số 94); ngày 11-5-2020 UBND thành phố Đà
Lạt cấp GCNQSDĐ số CV 036564, thửa đất 635 (gốc lô LKE30), tờ bản đồ 22,
diện tích 90m
2
(bút lục 98); Giấy phép xây dựng số: 1197/GPXD ngày 10-10-
2023: tổng diện tích xây dựng 239,4m2, 03 tầng (bút lục 79-86); ngày 18-3-2024,
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng cấp GCNQSDĐ và tài sản khác gắn
liền với đất số DN 429322 (bút lục 100).
[2.2.2]. Ngày 29-7-2015, ông Thắng ký hợp đồng đặt cọc số tiền
390.000.000đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất LK-E30, diện
tích 90m
2
, tọa lạc tại Khu quy hoạch dân cư-tái định cư Phạm Hồng Thái, giá
trị chuyển nhượng 690.000.000đồng. Đến ngày 06-12-2018, ông Thắng và vợ
chồng ông Hiếu, bà Hậu ký “HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN
HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI (LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI
VỚI LÔ LK-E30, DIỆN TÍCH 90M
2
…”, trả số tiền 300.000.000đồng và thỏa
thuận: “Sau khi Nhà nước có thẩm quyền cấp chủ quyền cho bên A, bên A có
nghĩa vụ sang tên ngay (không quá 30 ngày) cho bên B mà không được đòi hỏi
bất cứ điều kiện nào khác… bên A phải trả toàn bộ số tiền cho Nhà nước
(nghĩa vụ tài chính theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền, thuế trước bạ,
thuế thu nhập cá nhân, lệ phí…”; “Nếu bên A không chuyển nhượng cho bên B
mà dùng lô đất trên chuyển nhượng cho người khác thì bên A bồi thường cho
bên B…”, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
1) Khoản 2 Điều 108 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “2.Tài sản
hình thành trong tương lai bao gồm: a) Tài sản chưa hình thành; b) Tài sản đã
hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao
dịch”; điểm c khoản 2 Nghị định số: 11/2012/NĐ-CP ngày 22-02-2012 quy
định:“...Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất”.
2) Bản chất giao dịch ngày 06-12-2018, giữa ông Thắng với vợ chồng ông
Hiếu và bà Hậu là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với lô đất LK-E30,
diện tích 90m
2
, tọa lạc tại Khu quy hoạch dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái,
phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Mặc dù, giữa các bên đã thỏa thuận:
“Sau khi Nhà nước có thẩm quyền cấp chủ quyền cho bên A, bên A có nghĩa vụ
sang tên ngay (không quá 30 ngày) cho bên B mà không được đòi hỏi bất cứ điều
kiện nào khác… bên A phải trả toàn bộ số tiền cho Nhà nước (nghĩa vụ tài chính)
theo thông báo…”. Tuy nhiên, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013, quy định về
điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng...quyền sử dụng đất, cụ
thể: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng...
khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của
Luật này”. Theo quy định của Luật Đất đai: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý do Nhà nước cấp để xác
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người
có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”. Do đó, tại thời điểm
giao kết hợp đồng (ngày 06-12-2018) giữa ông Thắng với vợ chồng ông Hiếu và bà
Hậu đã vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể Điều 123 của Bộ luật Dân sự năm
7
2015 quy định: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của
luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật
không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định...”. Ngoài ra, Điều 131
của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô
hiệu: “1.Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao
dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá
thành tiền để hoàn trả...4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
3) Trước khi giao kết hợp đồng ngày 06-12-2018, ông Thắng và ông Hiếu,
bà Hậu đều biết rõ lô đất LK-E30, diện tích 90m
2
, tọa lạc tại Khu quy hoạch dân
cư -tái định cư Phạm Hồng Thái chưa được cấp GCNQSDĐ. Như vậy, ông Thắng
và ông Hiếu, bà Hậu đều có lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 06-12-2018 bị vô hiệu. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng,
nhận định hợp đồng trên có hiệu lực và công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất
ngày 06-12-2018 giữa ông Thắng, ông Hiếu và bà Hậu là không đúng pháp luật.
[2.2.3]. Tại Biên bản làm việc ngày 25-6-2025 của Tòa án nhân dân khu vực
1- Lâm Đồng (bút lục 43) bị đơn trình bày: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến
ngày 06-9-2025, bị đơn có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án (bút
lục 197). Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-12-2018 vô hiệu và giải quyết hậu
quả của hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, cần phải xem xét, đánh giá tình trạng pháp lý
của hợp đồng ngày 06-12-2018, giữa ông Thắng và ông Hiếu, bà Hậu do có liên
quan trực tiếp đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, không chỉ vì đương
sự không yêu cầu tuyên vô hiệu mà bỏ qua việc xem xét hiệu lực của hợp đồng.
Quyền định đoạt của đương sự là nguyên tắc quan trọng, song không vì thế cho
rằng đương sự có quyền quyết định giao dịch có hiệu lực hay vô hiệu. Mặt khác,
hiệu lực của giao dịch được xác định trên cơ sở các điều kiện do pháp luật quy
định. Đồng thời, giao dịch vi phạm điều kiện có hiệu lực theo quy định của Bộ luật
Dân sự thì việc xác định giao dịch vô hiệu là vấn đề pháp lý khách quan, nội dung
này đã được hướng dẫn tại mục 7, phần III Công văn số: 196/TANDTC-PC ngày
03-11-2023 của Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-12-2018, giữa ông Thắng
và ông Hiếu, bà Hậu đối với lô đất LK-E30, diện tích 90m
2
, tọa lạc tại Khu quy
hoạch dân cư-tái định cư Phạm Hồng Thái vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu, cụ thể:
1) Chứng thư thẩm định giá ngày 12-8-2025 của Công ty Cổ phần thẩm
định giá Đông Á, giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 90m² tại lô LK-E30
là 10.319.580.000đồng; tài sản trên đất 2.500.000.000đồng.
2) Giá trị hợp đồng CNQSDĐ tại thời điểm các bên giao kết là
690.000.000đồng; ông Hiếu, bà Hậu đã nộp lệ phí trước bạ nhà, đất:
201.612.000đồng.
3) Số tiền chênh lệch thiệt hại được xác định là: 10.319.580.000đồng trừ
8
số tiền (690.000.000đồng+201.612.000đồng) = 9.427.968.000đồng; mỗi bên
phải chịu 50% số tiền chênh lệch thiệt hại là 4.713.984.000đồng. Do vậy, ông
Hiếu, bà Hậu phải trả cho ông Thắng số tiền 690.000.000đồng đã nhận và bồi
thường số tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất là 4.713.984.000đồng.
[2.2.4]. Đối với Hợp đồng tín dụng số: 591/2024/13938626/HĐTD ngày
18-9-2024 được giao kết giữa ông Hiếu, bà Hậu với BIDV-Chi nhánh Lâm
Đồng: Ông Hiếu, bà Hậu đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Do đó,
Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu độc lập của BIDV buộc ông Hiếu, bà Hậu
trả số tiền nợ gốc và tiền lãi suất phát sinh; đồng thời tiếp tục duy trì hợp đồng
thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.3]. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ: Đình chỉ
xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn về việc: Yêu cầu bị đơn
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tháo dỡ tài sản trên đất;
giao GCNQSDĐ để thực hiện đăng ký biến động, hủy hợp đồng thế chấp.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Chấp
nhận một phần kháng cáo của bị đơn tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-12-2018 đối với lô đất tái định cư số lô
LK-E30, diện tích 90m
2
, Khu quy hoạch dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái
và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; không có căn cứ chấp nhận kháng
cáo của bị đơn đối với yêu cầu độc lập của BIDV.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và án phí
dân sự sơ thẩm đối với các yêu cầu không được chấp nhận. Do kháng cáo của
bị đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm,
song phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả, phải bồi
thường cho nguyên đơn và số tiền phải trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan. Đối với số tiền chi phí thẩm định giá: Yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn được chấp nhận một phần; đồng thời kháng cáo của bị đơn được chấp nhận
một phần, nên mỗi bên đương sự phải chịu 50% số tiền 57.450.846đồng chi phí
thẩm định giá, số tiền này ông Thắng đã nộp, ông Hiếu, bà Hậu có nghĩa vụ trả
ông Thắng số tiền 28.725.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 289; khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố
tụng dân sự:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn là ông
Nguyễn Quyết Thắng về việc: Yêu cầu ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị
Hậu thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-12-2018;
tháo dỡ tài sản trên đất; giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện
đăng ký biến động; yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp số 149/2024/13938626/HĐBĐ
ngày 07-05-2024 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Chi nhánh Lâm Đồng và ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Đoàn Thị Hậu. Chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quyết Thắng đối với ông Nguyễn
Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu.
9
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Hiếu và bà
Đoàn Thị Hậu, sửa Bản án sơ thẩm số: 45/2026/DS-ST ngày 28-4-2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng. Áp dụng Điều 123, Điều 131 của Bộ
luật Dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013:
2.1. Tuyên bố vô hiệu đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 06-12-2018, giữa ông Nguyễn Quyết Thắng với ông Nguyễn Văn Hiếu và bà
Đoàn Thị Hậu lô đất LK-E30, diện tích 90m
2
, Khu quy hoạch dân cư - tái định cư
Phạm Hồng Thái, Phường 10, thành phố Đà Lạt (nay là phường Xuân Hương - Đà
Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Buộc ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Đoàn Thị Hậu trả lại và bồi
thường cho ông Nguyễn Quyết Thắng tổng số tiền là 5.403.984.000đ (Năm tỷ bốn
trăm lẻ ba triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
2.2. Kể từ ngày ông Thắng có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành
xong ông Hiếu và bà Hậu còn phải chịu khoản tiền lãi suất chậm thực hiện nghĩa
vụ quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Đoàn Thị
Hậu đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và
Phát triển Việt Nam. Áp dụng khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các
Tổ chức tín dụng năm 2010.
3.1. Buộc ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu có nghĩa vụ trả cho Ngân
hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam số tiền nợ gốc là
6.700.000.000đ (Sáu tỷ bảy trăm triệu đồng) và số tiền lãi tính đến ngày 28-4-2026
là 109.219.000đ (Một trăm lẻ chín triệu hai trăm mười chín nghìn đồng), tổng số tiền
là phải trả là 6.809.219.000đ (Sáu tỷ tám trăm lẻ chín triệu hai trăm mười chín nghìn
đồng). Kể từ ngày 29-4-2026 cho đến khi thi hành xong toàn bộ số tiền trên, ông
Hiếu và bà Hậu còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại
Hợp đồng tín dụng số: 591/2024/13938626/HĐTD ngày 18-9-2024.
3.2. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số: 149/2024/13938626/HĐBĐ ngày
07-5-2024 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam với
ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất thuộc thửa số 635, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại lô LK–E30, Khu quy
hoạch dân cư-tái định cư Phạm Hồng Thái, phường Xuân Hương -Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 429322 do Văn phòng đăng
ký đất đai tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 18-3-2024). Trường hợp, ông Nguyễn Văn Hiếu
và bà Đoàn Thị Hậu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam có quyền yêu cầu
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản theo quy định pháp luật.
4. Về án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 147 và Điều 164 của Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015. Áp dụng khoản 3 Điều 27; khoản 2 khoản 4 Điều 29 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội về án phí, lệ phí Tòa án:
4.1. Ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu phải chịu 227.613.000đ
(Hai trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm mười ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ
10
thẩm, được trừ vào 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai số 0010146 ngày 29-5-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Lâm Đồng.
4.2. Ông Nguyễn Quyết Thắng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) án phí phúc thẩm và 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm, được trừ vào 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo các Biên lai số 0000876 ngày 10-6-2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Đà Lạt, số 0008999 ngày 20-11-2025 và số
0009771 ngày 25-5-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
4.3. Trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển -Chi nhánh
Lâm Đồng 57.350.000đ (Năm mươi bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005118 ngày 14-10-2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Lâm Đồng.
4.4. Ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Đoàn Thị Hậu có nghĩa vụ trả ông
Nguyễn Quyết Thắng số tiền chi phí thẩm định giá là 28.725.000đ (Hai mươi
tám triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36
và Điều 72 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 1-Lâm Đồng;
- TAND khu vực 1-Lâm Đồng;
- THADS tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng THADSKV1-Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: Tổ HCTP, Tòa DS.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lương Đức Dương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 531/2026/DS-PT Bản án số 531/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 531/2026/DS-PT Bản án số 531/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất