Bản án số 513/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 513/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 513/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 513/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đường-Nga
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 513/2025/DS-PT
Ngày 24 12 2025
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và bồi thường thiệt hại về tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.
Các Thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Thị Hiền.
2. Bà Giang Thị Cẩm Thúy.
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Công Hậu Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thuý Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Mau xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 373/2025/TLPT-DS, ngày
14/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 433/2025/QĐ-PT ngày
03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1961; CCCD: 095061002750
Địa chỉ: Ấp N, N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay ấp N, N, tỉnh
Mau).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Châu Phi Đ1, sinh
ngày 09/7/1967. Địa chỉ: Khóm G, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Nay
Khóm E, phường B, tỉnh Mau)(văn bản uỷ quyền ngày 18/7/2025)(vắng
mặt).
2. Bị đơn: Bà Trần Hồng N, sinh ngày 06/10/1963 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (Nay ấp L, P, tỉnh
Cà Mau).
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
4.1. Bà Trần Thị D, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp N, N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Này ấp N, N, tỉnh
Mau).
4.2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1964 (vắng mặt).
4.3. Bà Mai Thị L1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là ấp V, xã V, tỉnh
Cà Mau).
Cùng chỗ hiện nay: Đường N, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu (Nay là đường N, Khóm C, phường B, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Văn Đ; Bị đơn Trần Hồng
N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn ông Trần Văn Đ trình bày: Ngày 21/7/2022, giữa nguyên
đơn bị đơn Trần Hồng N lập giấy tay đặt cọc nhận chuyển nhượng diện tích
đất tại thửa 1575 với số tiền 220.000.000 đồng, hẹn đến ngày 28/10/2022, các bên
kết hợp đồng chuyển nhượng trả số tiền còn lại 410.000.000 đồng. Nhưng
ngày 28/10/2022, các bên không thực hiện được, nên ngày 21/11/2022, Trần
Hồng N khiếu nại ra Ban N2. Tại biên bản hoà giải của ấp, N và ông Đ tiếp tục
thoả thuận các bên sẽ kết hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 09/12/2022.
Nhưng do N đã thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng TMCP B1 nên các
bên không thực hiện được việc kết hợp đồng chuyển nhượng như đã thoả thuận,
hoàn toàn lỗi của bà N. Nay, ông Đ yêu cầu chấm dứt hợp đồng đặt cọc, buộc bà
N trả lại tiền cọc 220.000.000 đồng, phạt cọc 220.000.000 đồng; yêu cầu trả tiền
lại 3%/tháng đối với số tiền 220.000.000 đồng đã nhận tngày 21/11/2022 đến
ngày xét xử sơ thẩm.
Theo bị đơn bà Trần Hồng N trình bày: Thời gian thoả thuận hợp đồng đặt
cọc, s tiền cọc đã nhận như ông Đ trình bày đúng. Nhưng đến ngày hẹn
09/12/2022, ông Đ không mặt tại UBND để kết hợp đồng chuyển
nhượng, đây hoàn toàn là lỗi của ông Đ. Do đó, bà không đồng ý toàn bộ các yêu
cầu khởi kiện của ông Đ. Bà có yêu cầu phản tố: Yêu cầu chấm dứt hợp đồng đặt
cọc với ông Đ; yêu cầu ông Đ trả lãi suất 2% đối với số tiền gốc 300.000.000 đồng
từ ngày 28/3/2023 đến ngày N trả lại tiền 44.000.000 đồng và trlãi suất 2%
đối với số tiền gốc 100.000.000 đồng từ ngày 11/3/2022 đến ngày xét xử
40.000.000 đồng (do N phải đi vay của người khác để trả tiền ngân hàng lấy
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất ra); yêu cầu ông Đ trả tiền thuê đất 02 năm
(từ 9/2022 đến 9/2024) với số tiền 3.000.000 đồng.
Theo người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị D trình bày: Trước
đây ông Đ cho canh tác trên phần đất của ông Đ nhận đặt cọc để chuyển
nhượng của N, phần đất tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P nhưng đến nay bà đã
3
trả lại phần đất này cho ông Đ. Hiện nay, ông Đ N đang quản đối với
phần đất này.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L trình bày: Vào
năm 2023, N hỏi vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng.
Khoảng 04 tháng sau thì bà N đã trả lại cho bà toàn bộ số tiền trên. Việc bà N có
gửi cho D để trả cho số tiền 120.000.000 đồng N trả cho trong
khoản vay khác chứ không phải trong khoản vay của số tiền vay 300.000.000
đồng giữa với N. Còn việc ông Đ bà N thỏa thuận đặt cọc mua bán đất
với nhau như thế nào thì bà hoàn toàn không biết việc này.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 24
tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ đối với bà
Trần Hồng N.
Tuyên bố chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 21/7/2022 và ghi chú kèm theo
hợp đồng đặt cọc đề ngày 28/9/2022 giữa bà Trần Hồng N với ông Trần Văn Đ.
Buộc Trần Hồng N nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn Đ số tiền cọc
220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
Buộc ông Trần Văn Đ nghĩa vụ giao trả cho Trần Hồng N diện tích
đất 1.037,1m
2
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ đối
với bà Trần Hồng N về việc yêu cầu phạt cọc với số tiền 220.000.000 đồng (Hai
trăm hai mươi triệu đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn Đ đối với bà Trần Hồng N
yêu cầu trả lãi của số tiền gốc 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Trần Hồng N đối với ông
Trần Văn Đ về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng đặt cọc đề ngày 21/7/2022 giữa
Trần Hồng N với ông Trần Văn Đ.
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Hồng N tính tiền lãi với
số tiền 44.000.000 đồng (tiền gốc 300.000.000 đồng).
6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Hồng N tính tiền lãi với
số tiền 40.000.000 đồng (tiền gốc 100.000.000 đồng).
7. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Hồng N yêu cầu ông Trần
Văn Đ trả tiền thuê đất với số tiền 3.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất trong giai đoạn thi hành án, chi phí
tố tụng, án phí, quyền thoả thuận thi thành án và quyền kháng cáo của các đương
sự.
Ngày 04 tháng 8 năm 2025 nguyên đơn ông Trần Văn Đ kháng cáo yêu cầu
sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
4
Ngày 06 tháng 8 năm 2025 bị đơn bà Trần Hồng N kháng cáo yêu cầu sửa
bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện chấp
nhận toàn bộ yêu cầu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Châu Phi Đ1 đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không rõ lý do.
- Bị đơn bà Trần Hồng N rút một phần yêu cầu kháng cáo đối với yêu cầu
ông Trần Văn Đ trả tiền lãi 84.000.000 đồng (của số tiền gốc 300.000.000 đồng
+ 100.000.000 đồng) và tiền thuê đất 3.000.000 đồng.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Vviệc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ đến khi xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán Hội đồng xét xử; Thư các đương sự thực hiện đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét x
phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ; không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn; Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Mau. Đương sự phải chịu án phí theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của đương sự ý kiến phát
biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị án,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ, bị đơn Trần
Hồng N hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Mau thụ lý và giải quyết vụ án theo trình
tự phúc thẩm, quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 280 và
Điều 285 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Người kháng cáo nguyên đơn ông Trần Văn Đ được Toà án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo, Hội đồng xét
xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần
Văn Đ, theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Tại phiên toà, người kháng cáo bị đơn Trần Hồng N rút lại một
phần kháng cáo đối với yêu cầu ông Trần Văn Đ trả tiền lãi 84.000.000 đồng (của
số tiền gốc 300.000.000 đồng + 100.000.000 đồng) tiền thuê đất 3.000.000
đồng. Do đó, Hội đồng xét xđình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần yêu cầu
kháng cáo bị đơn bà Trần Hồng N đã rút, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
289 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
5
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Trần Văn Đ yêu cầu chấm dứt hợp đồng đặt cọc, buộc bà
N trả lại tiền cọc 220.000.000 đồng, phạt cọc 220.000.000 đồng; yêu cầu trả tiền
lại 3%/tháng đối với số tiền gốc 220.000.000 đồng đã nhận tngày 21/11/2022
đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn Trần Hồng N yêu cầu phản tố: Yêu cầu chấm dứt hợp đồng
đặt cọc với ông Đ; yêu cầu ông Đ trả lãi suất 2% đối với số tiền gốc 300.000.000
đồng từ ngày 28/3/2023 đến ngày bà N trả tiền là 44.000.000 đồng và trả lãi suất
2% đối với số tiền gốc 100.000.000 đồng từ ngày 11/3/2022 đến ngày xét xử
40.000.000 đồng (do N phải đi vay của người khác để trả tiền ngân hàng lấy
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất ra); yêu cầu ông Đ trả tiền thuê đất 02 năm
(từ 9/2022 đến 9/2024) với số tiền 3.000.000 đồng.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn Trần Hồng N về việc không đồng ý trả tiền
cọc 220.000.000 đồng cho ông Trần Văn Đ:
[3.1] Cả nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận thoả thuận kết hợp đồng
đặt cọc nhận chuyển nhượng đất ngày 21/7/2022. Bà N nhận tiền cọc của ông
Đ 220.000.000 đồng. Sự thừa nhận của đương sự là tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
[3.2] Xét về lỗi dẫn đến các bên không kết được hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất như đã thoả thuận: Ông Đ cho rằng ngày 09/12/2022,
N không đến ký kết hợp đồng chuyển nhượng là do N không Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, đang thế chấp trong ngân hàng. Ông Đường không
biết đất N chuyển nhượng cho ông đang thế chấp Ngân hàng. Tuy nhiên, tại lời
trình bày của ông Đ tại phiên toà ngày 24/7/2025, ông Đ thừa nhận ông biết bà N
đang thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ngân hàng (biết được vào
ngày 28/10/2022) các bên tiếp tục thoả thuận để tiến đến kết hợp đồng
chuyển nhượng vào ngày 09/12/2022. Như vậy, mặc ông Đ biết được N
đang thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng, nhưng ông Đ vẫn chấp nhận đặt
cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Về phần bà N, biết Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp ngân hàng sẽ không ký kết được hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dũng đất, nhưng vẫn nhận đặt cọc. Cho thấy, cả
nguyên đơn bị đơn đều lỗi trong việc không thực hiện được sự thoả thuận
theo hợp đồng đặt cọc, cấp thẩm xác định lỗi của ông Đ, N ngang nhau
có căn cứ. Từ đó, không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của ông Đ và nuộc bà N trả
tiền cọc 220.000.000 đồng lại cho ông Đ là có cơ sở.
[3.3] Từ sự phân tích trên, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Trần Hồng N, cần giữ nguyên bản án dân thẩm, theo quy định tại khoản 1
Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật.
6
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Trần Văn Đ bị đơn
Trần Hồng N mỗi người được miễn nộp 300.000 đồng, do N, ông Đ người
cao tuổi và đơn xin miễn án phí, theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 1 Điều
29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ, nên
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 117, 320, 321, 328, 357, 398 và Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 1
Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, điểm
b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, điểm a, b khoản 1 Điều 24,
khoản 4 Điều 26, khoản 4 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn Đ
về việc yêu cầu bà Trần Hồng N trả tiền phạt cọc 220.000.000 đồng (Hai trăm hai
mươi triệu đồng) và trả lãi suất.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần kháng cáo của bị đơn Trần Hồng
N về việc yêu cầu ông Trần Văn Đ trả tiền lãi 84.000.000 đồng (T mươi bốn triệu
đồng) và tiền thuê đất 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Hồng N về việc buộc ông
Trần Văn Đ phải mất tiền cọc 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Đ
đối với Trần Hồng N về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
1.1. Tuyên bố chấm dứt hợp đồng đặt cọc tiêu đề “Hợp đồng đặt cọc
mua bán nhà đất, tài sản gắn liền với đất” đề ngày 21/7/2022 và ghi chú kèm theo
hợp đồng đặt cọc đề ngày 28/9/2022 giữa bà Trần Hồng N với ông Trần Văn Đ.
1.2. Buộc bà Trần Hồng N có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn Đ số tiền cọc
220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
7
Kể từ ngày người đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án
không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo
mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
1.3. Buộc ông Trần Văn Đ phải nghĩa vụ giao trả cho Trần Hồng N
phần đất tại thửa số 1575 tờ bản đồ số 02 diện tích 1.037,1m
2
, phần đất tọa lạc tại
ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp M, xã P, tỉnh Cà Mau) do bà Trần
Hồng N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tứ cạnh cụ thể như sau:
+ H: Giáp phần đất của bà Trần Thị D có cạnh dài 9m + 131,1m.
+ Hướng Tây: Giáp phần đất của ông Lâm Văn S cạnh dài 9m + 88,8m +
42,2m.
+ Hướng N1: Giáp K có cạnh dài 7m.
+ Hướng B: Giáp ranh giải phóng mặt bằng của đường Q có cạnh dài 7m.
(Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/01/2024 của Toà án nhân
dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng
thửa đất ngày 09/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P)
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần
Văn Đ đòi Trần Hồng N trả tiền phạt cọc 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi
triệu đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Đ đòi
Trần Hồng N trả tiền lãi của số tiền gốc 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi
triệu đồng).
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Hồng N đối với
ông Trần Văn Đ về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng đặt cọc đề ngày 21/7/2022
giữa bà Trần Hồng N với ông Trần Văn Đ. Tuyên bố chấm dứt hợp đồng đặt cọc
tiêu đề “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất, tài sản gắn liền với đất” đề ngày
21/7/2022 và ghi chú kèm theo hợp đồng đặt cc đngày 28/9/2022 giữa bà Trần
Hồng N với ông Trần Văn Đ.
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Hồng N đòi ông
Trần Văn Đ trả tiền lãi 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng)(lãi của số tiền
gốc 300.000.000 đồng).
6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Hồng N đòi ông
Trần Văn Đ trả tiền lãi 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng)(lãi của số tiền gốc
100.000.000 đồng).
7. Không chấp nhận yêu cầu phả tố của bị đơn Trần Hồng N yêu cầu ông
Trần Văn Đ trả tiền thuê đất 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
8. Về chi phí tố tụng: Buộc ông ĐN mỗi người phải chịu 1.230.680
đồng (Một triệu hai trăm ba chục nghìn sáu trăm tám mươi đồng). N đã dự nộp
và chi xong chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 2.461.361 đồng (Hai triệu bốn trăm
sáu mươi một nghìn ba trăm sáu mươi một đồng). Buộc ông Đ phải hoàn trả cho
8
Trần Hồng N số tiền 1.230.680 đồng (Một triệu hai trăm ba chục nghìn sáu
trăm tám mươi đồng).
9. Ván phí dân sự thẩm: Nguyên đơn ông Trần Văn Đ bị đơn
Trần Hồng N được miễn nộp án phí.
10. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bị đơn bà
Trần Hồng N được miễn nộp án phí.
11. Vhướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TPT- TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Cà Mau; (Đã ký)
- TAND khu vực 9, tỉnh Cà Mau;
- PTHADS khu vực 9, tỉnh Cà Mau;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
Lê Phan Công Trí
Tải về
Bản án số 513/2025/DS-PT Bản án số 513/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 513/2025/DS-PT Bản án số 513/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất