Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 51/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 51/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 51/2026/HNGĐ-PT
Ngày 17 - 9 - 2026
V/v tranh chấp ly hôn,
chia tài sản chung và nợ khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 43/2026/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm
2026 về việc “tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung và nợ khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 296/2026/HNGĐ-ST ngày 24
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 48/2026/QĐ-PT ngày 19
tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt T, sinh năm 1975; số CCCD:
************, ngày cấp 28/6/2021; cư trú tại: Ấp Thị K (Địa chỉ cũ: Ấp V), xã S,
tỉnh Cà Mau (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Bà Du Thị B là luật sư
của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Lệ T1, sinh năm 1978; số CCCD: ************, ngày cấp
28/6/2021; cư trú tại: Ấp Thị K (Địa chỉ cũ: Ấp V), xã S, tỉnh Cà Mau (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của bà T1 về tranh chấp tài sản: Ông
Nguyễn Văn T2, sinh năm 1971; trú tại: ấp R (Địa chỉ cũ: Ấp A), xã T, Cà Mau
(văn bản uỷ quyền ngày 29/7/2025) (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971
2. Bà Đào Thị B1, sinh năm 1979
2
3. Ông Dương Văn L, sinh năm 1981
4. Bà Nguyễn Bích T3, sinh năm 1968
5. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1976
6. Bà Lê Kim N, sinh năm 1983
7. Bà Phạm Ngọc B2 (Phạm Thị B3), sinh năm 1978
8. Bà Nguyễn D
9. Bà Lưu Kim P, sinh năm 1970 (Có mặt)
10. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1984
11. Bà Lưu Thị G, sinh năm 1962 (Có mặt)
12. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1953 (Có mặt)
13. Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1960
14. Bà Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh năm 1983
15. Bà Trần Mỹ N2, sinh năm 1982
16. Ông Nguyễn Phước M, sinh năm 1933
17. Ông Ngô Văn S, sinh năm 1974
Người đại diện hợp pháp cho ông S: Bà Lê Kim N3 (văn bản uỷ quyền ngày
03/9/2025).
Cùng cư trú tại: Ấp Thị K (Địa chỉ cũ: Ấp V), xã S, tỉnh Cà Mau.
18. Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1979
19. Bà Phạm Kim T4, sinh năm 1990
20. Ông Nguyễn Ca N4
Cùng cư trú tại: Ấp P (Địa chỉ cũ: Ấp C), xã T, tỉnh Cà Mau
21. Chị Trần Ngọc P1, sinh năm 1988 (Có mặt)
22. Bà Hồ Thị N5, sinh năm 1955 (Có mặt)
23. Ông Hồ Văn Q, sinh năm 1981
Cùng cư trú tại: Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau
24. Chị Trần Ngọc T5, sinh năm 1991 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp R, xã T, tỉnh Cà Mau
25. Bà Tạ Hồng O, sinh năm 1971 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau
26. Bà Huỳnh Thị M1, sinh năm 1985
Cư trú tại: Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau
27. Ông Nguyễn Văn C
28. Ông Nguyễn Hưng P2, sinh năm 1974
3
Cùng cư trú tại: Ấp R (Địa chỉ cũ: Ấp D), xã S, tỉnh Cà Mau.
29. Bà Nguyễn Kim X, sinh năm 2000 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp R (Địa chỉ cũ: Ấp I), xã T, tỉnh Cà Mau.
30. Ngân hàng N7
Trụ sở: Số B L, phường G, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền: Ông Sơn Vĩnh P3 – Chức vụ Giám
đốc A Chi nhánh T9 – Phòng G1 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R (Địa chỉ cũ: Ấp I), xã T, tỉnh Cà Mau.
31. Ngân hàng C1
Trụ sở: Số A Phố L, phường H, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền: Ông Lê Trọng T6 – Phó giám đốc
Phòng G2 Trần Văn T7.
Địa chỉ: Ấp R (Địa chỉ cũ: Ấp I), xã T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo:
+ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt T;
+ Bị đơn: Bà Trần Lệ T1;
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lưu Kim P, sinh năm 1970;
2. Bà Lưu Thị G, sinh năm 1962;
3. Chị Trần Ngọc P1, sinh năm 1988;
4. Chị Trần Ngọc T5, sinh năm 1991;
5. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1953;
6. Bà Lê Kim N, sinh năm 1983;
7. Bà Tạ Hồng O, sinh năm 1971.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về hôn nhân: Ông T và bà T1 kết hôn vào năm 1998, hôn nhân tự nguyện
và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K ngày 27/01/1999. Nguyên nhân
mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không thể
hàn gắn, ông T yêu cầu ly hôn với bà T1; bà T1 thống nhất ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt B4, sinh ngày
25/10/1999 và Nguyễn Kim X, sinh ngày 25/12/2000, hiện tại 02 con đã trưởng
thành, thể chất phát triển bình thường nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Ông T và bà T1 thống nhất xác định quá trình chung sống
ông bà có tạo lập được những tài sản chung gồm:
Chi phí sửa chửa căn nhà chính trị giá 60.000.000 đồng; các tài sản đã qua sử
4
dụng bao gồm bồn nước nhựa 2.000 lít, tủ lạnh S2, giường hộp, tủ áo nhôm, bàn
học sinh nhôm, tủ chén, máy lọc nước, motor, tủ thần tài nhôm, bàn I và 30 ghế
nhựa, máy phát điện tổng trị giá 15.150.000 đồng; nhà để máy phát điện trị giá
3.822.300 đồng; mái che trị giá 11.684.400 đồng; lộ bê tông trị giá 35.280.000
đồng; chuồng nuôi cá sấu trị giá 5.406.000 đồng; cống xổ nước trị giá 20.685.000
đồng; bạc nuôi tôm và lưới điện giá trị 8.000.000 đồng.
Ông T và bà T1 thống nhất chia đôi tài sản chung mỗi người được hưởng ½
giá trị tài sản, ông T nhận hiện vật, bà T1 nhận giá trị.
+ Đối với các tài sản không thống nhất:
Theo bà T1, tài sản chung còn có căn nhà sau trị giá 134.880.180 đồng, nhà
bếp trị giá 29.660.500 đồng và diện tích đất theo đo đạc thực tế thửa số 1 diện tích
6.739,4m
2
và thửa số 2 diện tích 13.160,3m
2
tổng giá trị 2.529.687.100 đồng và
yêu cầu chia số tiền vợ chồng đã góp vào xây dựng nhà mồ cho mẹ chồng
148.000.000 đồng, bà T1 yêu cầu chia đôi tài sản chung, bà T1 yêu cầu nhận giá
trị.
Theo ông T, diện tích đất theo đo đạc thực tế thửa số 1 diện tích 6.739,4m
2
và
thửa số 2 diện tích 13.160,3m
2
là tài sản riêng của ông nhận thừa kế riêng; căn nhà
sau và nhà bếp là tài sản của cha mẹ ông xây cất từ nguồn tiền của cha mẹ ông,
không phải là tài sản chung; đối với giá trị xây dựng nhà mồ cho mẹ ông số tiền
148.000.000 đồng, thời điểm xây dựng nhà mồ vợ chồng ông không có công đóng
góp, chi phí xây dựng nhà mồ là của anh em ông đóng góp và tiền phúng điếu khi
mẹ ông chết nên không đồng ý chia cho bà T1.
- Về nợ chung:
Theo ông T, nợ chung chỉ có nợ Ngân hàng C1, đối với các khoản nợ của bà
T1 khai là nợ riêng của bà T1, ông không đồng ý có trách nhiệm cùng bà T1 trả các
khoản nợ này. Nợ Ngân hàng N7 là nợ riêng của ông.
Theo bà T1, thời gian chung sống vợ chồng có các khoản nợ chung gồm:
Nợ bà Lê Kim N3 và ông Ngô Văn S 30 chỉ vàng 24k, bà Lê Thị H2 100.000.000
đồng và 2 chỉ vàng 24k, ông Hồ Văn Q 100.000.000 đồng, bà Lưu Thị G
666.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H 20.000.000 đồng, bà Đào Thị B1 70.000.000
đồng, ông Dương Văn L 20.000.000 đồng, bà Nguyễn Bích T3 88.000.000 đồng,
ông Nguyễn Minh Đ và bà Phạm Kim T4 12.000.000 đồng, chị Trần Ngọc P1
220.000.000 đồng, chị Trần Ngọc T5 80.000.000 đồng và 16 chỉ vàng 24k, bà Tạ
Hồng O 140.000.000 đồng, bà Phạm Thị H3 130.000.000 đồng, tổ phụ nữ và tổ
nông dân xã Vàm Xáng 114.179.000 đồng, tổ phụ nữ, tổ nông dân ấp Thị Kẹo
128.459.000 đồng, ngân hàng C1 số tiền tạm tính đến 26/02/2026 là 146.265.000
đồng, bà Nguyễn Thị K1 17.000.000 đồng, bà Phạm Thị B3 132.000.000 đồng, bà
Lưu Kim P 117.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị M1 50.000.000 đồng, bà Trần Thị H1
74.000.000 đồng, bà Nguyễn Diễm H4 10.000.000 đồng, ông Nguyễn Ca N4
5
10.000.000 đồng, bà Hồ Thị N5 6 chỉ vàng 24k, ông Nguyễn Văn C 145.000.000
đồng và lãi 60.000.000 đồng. Bà T1 yêu cầu ông T có trách nhiệm trả ½ các khoản
nợ trên.
Từ nội dung trên, tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
296/2026/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 -
Cà Mau đã quyết định:
1. Hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Việt T và bà Trần Lệ
T1.
Buộc ông ông Nguyễn Việt T giao lại cho bà Trần Lệ T1 tổng số tiền 725.311.110
đồng (số tiền được chia 668.221.610 đồng, tiền nợ bà T1 trả bà N2 57.089.500
đồng).
Giao cho ông Nguyễn Việt T toàn bộ tài sản tranh chấp hiện tại ông T đang quản lý
sử dụng bao gồm các tài sản đã qua sử dụng bao gồm bồn nước nhựa 2.000 lít, tủ
lạnh S2, giường hộp, tủ áo nhôm, bàn học sinh nhôm, tủ chén, máy lọc nước,
motor, tủ thần tài nhôm, bàn I1 và 30 ghế nhựa, máy phát điện; nhà để máy phát
điện, mái che; lộ bê tông; chuồng nuôi cá sấu; cống xổ nước; bạc nuôi tôm và lưới
điện giá trị, nhà bếp, nhà sau.
(Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 25/12/2025 của Công ty TNHH MTV T10)
Đình chỉ yêu cầu độc lập bà Lưu Kim P về việc yêu cầu bà Trần Lệ T1 ông
Nguyễn Việt T trả số tiền 117.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Minh Đ và bà Phạm Kim T4, bà
Nguyễn Thị K1, bà Phạm Thị B3, bà Nguyễn Thị Mỹ N1, Ngân hàng C1. Buộc
ông Nguyễn Việt T, bà Trần Lệ T1 mỗi người phải trả cho bà Phạm Kim T4 và
ông Nguyễn Minh Đ 6.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị K1 8.500.000 đồng,
trả cho bà Phạm Thị B3 66.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ N1
64.229.500 đồng.
Buộc ông Nguyễn Việt T, bà Trần Lệ T1 mỗi người phải trả cho Ngân hàng C1
tạm tính đến ngày 26/02/2026 là 73.132.500 đồng và tiếp tục chịu lãi suất từ ngày
27/02/2026 đến khi tất toán xong theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Kim N và ông Ngô Văn S, bà Lê Thị H2,
ông Hồ Văn Q, bà Lưu Thị G, bà Nguyễn Thị H, bà Đào Thị B1, bà Nguyễn Bích
T3, bà Tạ Hồng O, bà phạm Thị H3, ông Dương Văn L, bà Trần Ngọc P1, bà Trần
Ngọc T5 đối với bà Trần Lệ T1. Buộc bà Trần Lệ T1 trả cho bà Lê Kim N3 và ông
Ngô Quốc S1 30 chỉ vàng 24k, bà Lê Thị H2 100.000.000 đồng và 02 chỉ vàng
24k, ông Hồ Văn Q 100.000.000 đồng, bà Lưu Thị G 666.000.000 đồng, bà
Nguyễn Thị H 20.000.000 đồng, bà Đào Thị B1 70.000.000 đồng, bà Nguyễn Bích
T3 88.000.000 đồng, bà Tạ Hồng O 140.000.000 đồng, bà Phạm Thị H3
130.000.000 đồng, ông Dương Văn L 20.000.000 đồng, bà Trần Ngọc P1
6
220.000.000 đồng, bà Trần Ngọc T5 80.000.000 đồng và 16 chỉ vàng 24k. Không
chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Kim N3 và ông Ngô Văn S, bà Lê Thị H2,
ông Hồ Văn Q, bà Lưu Thị G, bà Nguyễn Thị H, bà Đào Thị B1, bà Nguyễn Bích
T3, bà Tạ Hồng O, bà Phạm Thị H3, ông Dương Văn L, bà Trần Ngọc P1, bà Trần
Ngọc T5 về việc yêu cầu ông Nguyễn Việt T cùng có trách nhiệm với bà T1 trả nợ.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Mỹ N2. Buộc bà Trần Lệ T1 trả cho bà
Trần Mỹ N2 số tiền 114.179.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N7 đối với ông Nguyễn Việt T. Buộc
ông Nguyễn Việt T trả cho Ngân hàng N7 tổng số tiền tạm tính đến ngày
18/5/2026 là 400.082.192 đồng (gốc 400.000.000 đồng và lãi 82.192 đồng) và tiền
lãi từ ngày 19/8/2026 đến khi tất toán các khoản nợ mức lãi suất theo hợp đồng tín
dụng các bên đã ký kết.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp 7504-LCL-202500805/HĐTC ngày 26/5/2025
tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất số CS 720107 do
sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 16/5/2019 kèm theo nội dung thay
đổi ngày 20/5/2022 và ngày 16/5/2025 thửa số 736 tờ bản đồ số 01 diện tích
12.876,9m
2
(trong đó 300m
2
(ONT) và 12.576,9m
2
(CLN) đất tại ấp V, xã P, huyện
T, tỉnh Cà Mau (nay ấp V, xã S, tỉnh Cà Mau). Trường hợp ông T không thực hiện
hoặc thực hiện trả nợ không đầy đủ buộc ông T giao tài sản thế chấp để Ngân hàng
N7 yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về lãi suất trong giai
đoạn thi hành án, về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định pháp luật.
- Ngày 06/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Kim P
kháng cáo: Yêu cầu hủy 01 phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của bà P
để xét xử lại theo quy định pháp luật.
- Ngày 08/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị G
kháng cáo: Yêu cầu sửa 1 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà, buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T1 trả cho bà số
tiền 660.000.000 đồng.
- Ngày 08/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc T5
kháng cáo: Yêu cầu sửa 1 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà, buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T1 trả cho bà 1 chỉ
vàng 24k và số tiền 80.000.000 đồng.
- Ngày 08/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc P1
kháng cáo: Yêu cầu sửa 1 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà, buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T1 trả cho bà 1 chỉ
vàng 24k và số tiền 80.000.000 đồng.
7
- Ngày 08/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2
kháng cáo: Yêu cầu sửa 1 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà, buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T1 trả cho bà 0 chỉ
vàng 24k và số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 09/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Hồng O
kháng cáo: Yêu cầu sửa 1 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà, buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T1 trả cho bà
140.000.000 đồng.
- Ngày 09/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim N
kháng cáo: Yêu cầu sửa 1 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà, buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T1 trả cho bà 3 chỉ
vàng 24k.
- Ngày 10/7/2026 nguyên đơn ông T kháng cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa 01 phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu giao lại
cho bà T1 tổng số tiền 725.311.310 đồng (số tiền được chia 668.221.810 đồng và
tiền nợ bà T1 trả bà N2 58.589.500 đồng) và không chấp nhận yêu cầu độc lập của
ông Nguyễn Minh Đ, bà Phạm Kim T4, bà Nguyễn Thị K1, bà Phạm Thị B3, bà
Nguyễn Thị Mỹ N1 buộc ông trả cho bà T4, ông Đ 6.000.000 đồng, trả cho bà K1
8.500.000 đồng, trả cho bà B3 66.000.000 đồng, trả cho bà N1 64.229.500 đồng.
- Ngày 08/7/2026 bị đơn bà T1 kháng cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
sửa 01 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà, buộc
ông T có nghĩa vụ chia cho bà ½ giá trị phần đất diện tích 13.160,3m
2
thuộc thửa
763, tờ bản đồ số 01, tại ấp V, xã S, tỉnh Cà Mau với giá trị 1.264.843.100 đồng,
buộc ôngTrì có nghĩa vụ trả ½ số nợ vay mượn theo yêu cầu độc lập của các chủ
nợ được ghi nhận trong bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Riêng nguyên đơn có thay đổi 01 phần kháng
cáo đối với số tiền buộc ông T giao cho bà T1 tổng số tiền 725.311.310 đồng (gồm
số tiền được chia 668.221.810 đồng và tiền nợ bà T1 trả bà N2 58.589.500 đồng),
nay đồng ý giao cho bà T1 số tiền trị giá ½ giá trị các tài sản ông T và bà T1 đã
thỏa thuận được là 162.284.190 đồng, chỉ kháng cáo số tiền 20% giá trị các thửa
đất là 505.937.420 đồng và tiền nợ bà T1 trả bà N2 58.589.500 đồng, giữ nguyên
nội dung kháng cáo về các khoản nợ của ông Đ, bà T4, bà K1, bà B3, bà Mỹ N1 và
bà N2.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Du Thị B trình
bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Việt T, không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn bà Trần Lệ T1, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của những người có
8
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Kim P, bà Lưu Thị G, chị Trần Ngọc P1, chị
Trần Ngọc T5, bà Lê Thị H2, bà Lê Kim N, bà Tạ Hồng O.
Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2
Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà Lưu Kim P, hủy 01
phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của bà P, giao về cho Tòa án nhân
dân Khu vực 3 - Cà Mau thụ lý giải quyết lại theo thủ tục chung đối với yêu cầu
của bà P buộc bà Trần Lệ T1 ông Nguyễn Việt T trả số tiền 117.000.000 đồng; áp
dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo
của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị G, chị Trần Ngọc
P1, chị Trần Ngọc T5, bà Lê Thị H2, bà Lê Kim N, bà Tạ Hồng O; giữ nguyên Bản
án hôn nhân và gia đình số 296/2026/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên
đơn ông T khởi kiện bị đơn bà T1 yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung và nợ khi ly
hôn, bị đơn bà T1 có địa chỉ cư trú tại xã S, tỉnh Cà Mau nên cấp sơ thẩm xác định
quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ. Xét
đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan nộp trong thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn
pháp luật quy định, trong đó có bà G và bà H2 là người cao tuổi và có đơn xin
miễn án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự
phúc thẩm là phù hợp.
[2] Về nội dung: Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 296/2026/HNGĐ-ST
ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau đã tuyên xử
về hôn nhân công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Việt T và bà Trần Lệ
T1; về con chung các con đã trưởng thành nên không yêu cầu; về tài sản chung cấp
sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận thống nhất của ông T và bà T1 đối với các tài sản
chung gồm: chi phí sửa chửa căn nhà chính trị giá 60.000.000 đồng, bồn nước
nhựa 2.000 lít, tủ lạnh S2, giường hộp, tủ áo nhôm, bàn học sinh nhôm, tủ chén,
9
máy lọc nước, motor, tủ thần tài nhôm, bàn I1 và 30 ghế nhựa, máy phát điện tổng
trị giá 15.150.000 đồng; nhà để máy phát điện trị giá 3.822.300 đồng; mái che trị
giá 11.684.400 đồng; lộ bê tông trị giá 35.280.000 đồng; chuồng nuôi cá sấu trị giá
5.406.000 đồng; cống xổ nước trị giá 20.685.000 đồng; bạc nuôi tôm và lưới điện
giá trị 8.000.000 đồng (tổng số tiền 324.568.380 đồng), ông T nhận hiện vật các tài
sản trên và giao trả cho bà T1 ½ giá trị là 162.284.190 đồng. Xét thấy, ông T và bà
T1 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đối với các nội dung này
nên các nội dung này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Xét kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Kim P yêu cầu
hủy 01 phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của bà P để xét xử lại theo quy
định pháp luật. Xét thấy, bà P có đơn yêu cầu độc lập và đã nộp tạm ứng án phí
đúng quy định. Suốt quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bà P đều có tham gia đầy đủ
các buổi làm việc theo triệu tập của Tòa án. Đến ngày 26/5/2026 Tòa án cấp sơ
thẩm có mở phiên tòa xét xử vụ án, tuy nhiên, phiên tòa tạm ngừng và mở lại ngày
25/6/2026, bà P khẳng định không được triệu tập để tham dự phiên tòa ngày
25/6/2026. Qua kiểm tra toàn bộ hồ sơ vụ án thể hiện cấp sơ thẩm chưa tống đạt
thủ tục triệu tập hợp lệ bà P đến tham dự phiên tòa, do đó, cấp sơ thẩm xác định bà
P vắng mặt và đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của bà P, buộc bà P chịu tiền án phí
đã dự nộp là ảnh hưởng nghiêm trọng quyền lợi của bà P. Do đó, căn cứ khoản 2
Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy 01 phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu
độc lập của bà P, giao về cho Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau thụ lý giải
quyết lại theo thủ tục chung đối với yêu cầu của bà P buộc bà T1 và ông T trả số
tiền 117.000.000 đồng.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
bà Lưu Thị G, chị Trần Ngọc P1, chị Trần Ngọc T5, bà Lê Thị H2, bà Lê Kim N,
bà Tạ Hồng O: Do các đương sự đều thừa nhận việc cho vay chỉ có văn bản nhận
nợ của bà T1 ký tên, ông T không thừa nhận có biết các khoản vay này, người cho
vay không cung cấp được chứng cứ văn bản, nhân chứng biết rõ hoặc trực tiếp
chứng kiến việc giao tiền, vàng cho cả 02 vợ chồng T và T1. Tại phiên tòa phúc
thẩm, bà G, bà P1, bà T5, bà H2, bà N, bà O đều thừa nhận không cung cấp thêm
chứng cứ gì mới để chứng minh ông T biết các khoản nợ này. Đối với lời khai của
Nguyễn Kim X là con chung của bà T1 và ông T xác định biết cha mẹ có vay tiền
của nhiều người, dùng tiền vay để lo cho cuộc sống chung của gia đình, lo ăn học
cho các con và bản thân chị có những lần chở mẹ là bà T1 đi đóng tiền lãi cho chủ
nợ. Tuy nhiên, chị X cũng thừa nhận không biết cụ thể cha mẹ đã vay tổng cộng
bao nhiêu và từng người nợ cụ thể thế nào, do đó, lời khai của chị X không có giá
trị chứng minh các khoản nợ trên là nợ chung của vợ chồng ông T, bà T1, giữ
nguyên Bản án hôn nhân và gia đình số 296/2026/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm
10
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau đối với nghĩa vụ trả nợ của cá nhân
bà T1 đối với bà G, bà P1, bà T5, bà H2, bà N, bà O.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
01 phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu giao lại cho bà T1 số
tiền 505.937.420 đồng (là 20% giá trị diện tích đất 13.160,3m
2
thuộc thửa số 763
(thửa 234 củ) và diện tích 6.739,4m
2
thuộc một phần thửa 220) và tiền nợ bà T1 trả
bà N2 58.589.500 đồng; không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Minh
Đ, bà Phạm Kim T4, bà Nguyễn Thị K1, bà Phạm Thị B3, bà Nguyễn Thị Mỹ N1
buộc ông trả cho bà T4, ông Đ 6.000.000 đồng, trả cho bà K1 8.500.000 đồng, trả
cho bà B3 66.000.000 đồng, trả cho bà N1 64.229.500 đồng. Xét thấy, không có
căn cứ xác định tài sản tranh chấp diện tích 13.160,3m
2
và diện tích 6.739,4m
2
là
tài sản chung của ông T và bà T1, có căn cứ các diện tích đất này là tài sản ông T
được tặng cho và thừa kế riêng, cấp sơ thẩm căn cứ các thủ tục tặng cho, thừa kế
riêng để xác định tài sản tranh chấp là tài sản riêng của ông T là phù hợp, đúng quy
định pháp luật. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm phân chia công sức đóng góp 20% giá trị
các phần đất cho bà T1 là chưa phù hợp, bởi lẽ, nếu chia công sức phải có chứng
cứ chứng minh bà T1 đã cải tạo, tu bổ làm tăng giá trị đất, trong khi các diện tích
đất này đã được cha mẹ ông T cải tạo thành đất có thể khai thác sử dụng, quá trình
bà T1 chung sống đã được hưởng lợi tức từ các diện tích đất trên, cấp sơ thẩm nhận
định công chăm sóc cha mẹ chồng và xác định “bà T1 có công sức đóng góp” mà
không thể hiện đóng góp cụ thể gì vào việc cải tạo, nâng giá trị đất. Mặt khác,
chính bản thân bà T1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trực tiếp
đóng góp công sức tu bổ, cải tạo đất nên không có căn cứ chia 20% giá trị các phần
đất cho bà T1 như án sơ thẩm đã tuyên. Do đó, chấp nhận 01 phần kháng cáo của
ông T, không chia cho bà T1 20% giá trị đất tranh chấp. Đối với các khoản nợ ông
Đ, bà T4, bà K1, bà B3, bà Mỹ N1 và tiền nợ bà T1 trả bà N2 (58.589.500 đồng),
đủ căn cứ chứng minh đây là các khoản nợ trong thời gian hôn nhân hợp pháp của
bà T1 và ông T tồn tại nên cần buộc cả ông T và bà T1 cùng có nghĩa vụ thanh
toán nợ như án sơ thẩm đã tuyên, do đó, không chấp nhận 01 phần kháng cáo của
ông T đối với các khoản nợ chung của ông Đ, bà T4, bà K1, bà B3, bà Mỹ N1 và
bà N2.
[6] Xét kháng cáo của bị đơn bà T1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa 01
phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà, buộc ông T
có nghĩa vụ chia cho bà ½ giá trị phần đất diện tích 13.160,3m
2
thuộc thửa 763, tờ
bản đồ số 01, tại ấp V, xã S, tỉnh Cà Mau với giá trị 1.264.843.100 đồng, buộc
ôngTrì có nghĩa vụ trả ½ số nợ vay mượn theo yêu cầu độc lập của các chủ nợ
được ghi nhận trong bản án. Như đã nhận định tại các mục [3] đến mục [6] của bản
án, không có căn cứ chứng minh diện tích đất theo đo đạc thực tế thửa số 2 diện
tích 13.160,3m
2
và thửa số 1 diện tích 6.739,4m
2
là tài sản chung của ông T và bà
11
T1 nên cấp sơ thẩm không phân chia cho bà T1 là phù hợp; các khoản nợ chỉ chấp
nhận 01 phần yêu cầu của bà T1 và 01 số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
để buộc ông T cùng có nghĩa vụ trả nợ chung, các khoản nợ khác của bà G, bà P1,
bà T5, bà H2, bà N, bà O chỉ đủ căn cứ chứng minh nợ riêng của bà T1 nên không
buộc ông T cùng có trách nhiệm trả nợ là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bà T1
không cung cấp thêm chứng cứ mới chứng minh yêu cầu kháng cáo của bà là có
căn cứ và hợp pháp nên không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà T1.
[7] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề
nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như đã nhận định tại các mục
[3] đến mục [6] của bản án, có căn cứ chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông T,
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan nên chấp nhận 01 phần đề xuất của luật sư.
[8] Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của bà Lưu Kim P, hủy 01 phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của bà
P, giao về cho Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau thụ lý giải quyết lại theo thủ
tục chung đối với yêu cầu của bà P buộc bà T1 và ông T trả số tiền 117.000.000
đồng; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; không chấp nhận kháng cáo của
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị G, chị Trần Ngọc P1, chị
Trần Ngọc T5, bà Lê Thị H2, bà Lê Kim N, bà Tạ Hồng O, giữ nguyên Bản án hôn
nhân và gia đình số 296/2026/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau là có căn cứ nên được chấp nhận. Riêng đề nghị
không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn là chưa phù hợp như đã nhận
định tại mục [5] của bản án nên không được chấp nhận.
[9] Về án phí:
[9.1] Án phí chia tài sản: Do cấp phúc thẩm sửa 01 phần án sơ thẩm về việc không
chia công sức đóng góp cho bà T1 (20% giá trị các phần đất tranh chấp) nên án phí
chia tài sản được điều chỉnh cho phù hợp tài sản các bên được phân chia theo đúng
quy định. Tài sản chung của ông T, bà T1 có tổng giá trị là 324.568.380 đồng, mỗi
người được chia ½ = 162.284.190 đồng. Tuy nhiên, ông T và bà T1 mỗi người còn
có nghĩa vụ “thực hiện nghĩa vụ về tài sản với bên thứ 3 từ nguồn tài sản chung”
gồm trả cho bà T4 và ông Đ 6.000.000 đồng, trả cho bà K1 8.500.000 đồng, trả cho
bà B3 66.000.000 đồng, trả cho bà M2 Nhiên 64.229.500 đồng, trả cho Ngân hàng
C1 tạm tính đến ngày 26/02/2026 là 73.132.500 đồng, trả cho bà N2 58.589.500
đồng (tổng cộng là 276.451.500 đồng). Xét thấy, theo quy định tại điểm b khoản 7
Điều 27 Nghị quyết số 326, ông T, bà T1 “phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với
phần tài sản được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ
3”, tuy nhiên, số tiền ông T, bà T1 thực hiện nghĩa vụ với bên thứ 3 lớn hơn giá trị
12
tài sản được chia nên ông T, bà T1 không phải chịu án phí chia tài sản chung, buộc
ông T, bà T1 phải chịu án phí do thực hiện nghĩa vụ trả các khoản nợ nêu trên.
Ngoài ra, ông T, bà T1 còn có nghĩa vụ chịu án phí đối với số tiền mỗi người có
nghĩa vụ trả nợ riêng theo đúng quy định pháp luật.
Cụ thể, bà T1 chịu án phí trên số tiền có nghĩa vụ trả nợ chung 276.451.500 đồng
và tổng số tiền có nghĩa vụ trả nợ riêng là 1.634.000.000 đồng (gồm trả cho bà N3
và ông S 30 chỉ vàng 24k, bà H2 100.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24k, ông Q
100.000.000 đồng, bà G 666.000.000 đồng, bà H 20.000.000 đồng, bà B1
70.000.000 đồng, bà T3 88.000.000 đồng, bà O 140.000.000 đồng, bà H2
130.000.000 đồng, ông L 20.000.000 đồng, bà P1 220.000.000 đồng, bà T5
80.000.000 đồng và 16 chỉ vàng 24k; giá vàng 13.600.000 đồng/01 chỉ vàng 24k)
nên tổng số tiền phải chịu án phí là 1.910.451.500 đồng, bà T1 phải chịu án phí có
giá ngạch là 69.313.545 đồng.
Ông T chịu án phí trên số tiền có nghĩa vụ trả nợ chung 276.451.500 đồng và số
tiền có nghĩa vụ trả nợ riêng là 400.082.192 đồng (trả cho Ngân hàng N7 chi nhánh
T9, Phòng G1) nên tổng số tiền phải chịu án phí là 676.533.692 đồng, ông T phải
chịu án phí có giá ngạch là 31.061.348 đồng.
Bà Lưu Kim P đã nộp tạm ứng án phí 2.925.000 đồng theo biên lai số 2532 ngày
09/3/2026 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Cà Mau được xem xét xử lý
khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại yêu cầu độc lập của bà P.
[9.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà P và ông T kháng cáo và được chấp nhận
kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Bà T1 và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan khác kháng cáo và không được chấp nhận kháng cáo nên
phải chịu án phí phúc thẩm, đã dự nộp án phí phúc thẩm được chuyển thu toàn bộ.
Miễn án phí phúc thẩm cho bà G và bà H2.
[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy 01 phần bản án sơ thẩm
đối với yêu cầu độc lập của bà P, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân Khu vực 3 -
Cà Mau thụ lý giải quyết lại theo thủ tục chung đối với yêu cầu của bà P buộc bà
T1 và ông T trả số tiền 117.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận 01 phần
kháng cáo của nguyên đơn; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; không chấp
nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị G, chị Trần
Ngọc P1, chị Trần Ngọc T5, bà Lê Thị H2, bà Lê Kim N, bà Tạ Hồng O; sửa một
13
phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 296/2026/HNGĐ-ST ngày 24 tháng
6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, 227, 157 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ Điều 33, 37, 38, 43, 55 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 463, 466, 468, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định 19/2019/NĐ-CP
ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; các điểm a, b khoản 1 Điều 24, các khoản
1, 4, 5 Điều 26, các điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 27;
Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Việt T và bà Trần
Lệ T1.
2. Về con chung: Các con chung đã trưởng thành nên không giải quyết.
3. Về tài sản chung:
3.1. Giao cho ông Nguyễn Việt T toàn bộ tài sản tranh chấp hiện tại ông T đang
quản lý sử dụng bao gồm các tài sản đã qua sử dụng: bồn nước nhựa 2.000 lít, tủ
lạnh S2, giường hộp, tủ áo nhôm, bàn học sinh nhôm, tủ chén, máy lọc nước,
motor, tủ thần tài nhôm, bàn I1 và 30 ghế nhựa, máy phát điện; nhà để máy phát
điện, mái che; lộ bê tông; chuồng nuôi cá sấu; cống xổ nước; bạc nuôi tôm và lưới
điện, nhà bếp, nhà sau.
(Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 25/12/2025 của Công ty TNHH MTV T10)
3.2. Buộc ông Nguyễn Việt T giao lại cho bà Trần Lệ T1 ½ giá trị tài sản chung là
162.284.190 đồng và tiền nợ bà T1 trả bà Trần Mỹ N2 là 57.089.500 đồng.
4. Về nợ:
4.1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Minh Đ và bà Phạm Kim T4, bà
Nguyễn Thị K1, bà Phạm Thị B3, bà Nguyễn Thị Mỹ N1, Ngân hàng C1.
Buộc ông Nguyễn Việt T, bà Trần Lệ T1 mỗi người phải trả cho bà Phạm Kim T4
và ông Nguyễn Minh Đ 6.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị K1 8.500.000
đồng, trả cho bà Phạm Thị B3 66.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ N1
64.229.500 đồng.
Buộc ông Nguyễn Việt T, bà Trần Lệ T1 mỗi người phải trả cho Ngân hàng C1
tạm tính đến ngày 26/02/2026 là 73.132.500 đồng và tiếp tục chịu lãi suất từ ngày
27/02/2026 đến khi tất toán xong theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
14
4.2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Kim N và ông Ngô Văn S, bà Lê Thị
H2, ông Hồ Văn Q, bà Lưu Thị G, bà Nguyễn Thị H, bà Đào Thị B1, bà Nguyễn
Bích T3, bà Tạ Hồng O, bà phạm Thị H3, ông Dương Văn L, bà Trần Ngọc P1, bà
Trần Ngọc T5 đối với bà Trần Lệ T1.
Buộc bà Trần Lệ T1 trả cho bà Lê Kim N3 và ông Ngô Quốc S1 30 chỉ vàng 24k,
bà Lê Thị H2 100.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24k, ông Hồ Văn Q 100.000.000
đồng, bà Lưu Thị G 666.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H 20.000.000 đồng, bà Đào
Thị B1 70.000.000 đồng, bà Nguyễn Bích T3 88.000.000 đồng, bà Tạ Hồng O
140.000.000 đồng, bà Phạm Thị H3 130.000.000 đồng, ông Dương Văn L
20.000.000 đồng, bà Trần Ngọc P1 220.000.000 đồng, bà Trần Ngọc T5
80.000.000 đồng và 16 chỉ vàng 24k.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Kim N3 và ông Ngô Văn S, bà Lê Thị
H2, ông Hồ Văn Q, bà Lưu Thị G, bà Nguyễn Thị H, bà Đào Thị B1, bà Nguyễn
Bích T3, bà Tạ Hồng O, bà Phạm Thị H3, ông Dương Văn L, bà Trần Ngọc P1, bà
Trần Ngọc T5 về việc yêu cầu ông Nguyễn Việt T cùng có trách nhiệm trả nợ với
bà T1.
4.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Mỹ N2. Buộc bà Trần Lệ T1 trả cho
bà Trần Mỹ N2 số tiền 114.179.000 đồng.
4.4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N7 đối với ông Nguyễn Việt T.
Buộc ông Nguyễn Việt T trả cho Ngân hàng N7 tổng số tiền tạm tính đến ngày
18/5/2026 là 400.082.192 đồng (gốc 400.000.000 đồng và lãi 82.192 đồng) và tiền
lãi từ ngày 19/8/2026 đến khi tất toán các khoản nợ mức lãi suất theo hợp đồng tín
dụng các bên đã ký kết.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp 7504-LCL-202500805/HĐTC ngày 26/5/2025
tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất số CS 720107 do
sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 16/5/2019 kèm theo nội dung thay
đổi ngày 20/5/2022 và ngày 16/5/2025 thửa số 736 tờ bản đồ số 01 diện tích
12.876,9m
2
(trong đó 300m
2
(ONT) và 12.576,9m
2
(CLN) đất tại ấp V, xã P, huyện
T, tỉnh Cà Mau (nay ấp V, xã S, tỉnh Cà Mau). Trường hợp ông T không thực hiện
hoặc thực hiện trả nợ không đầy đủ buộc ông T giao tài sản thế chấp để Ngân hàng
N7 yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ.
5. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
15
6. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trần Lệ T1 phải chịu 39.763.200 đồng, ông
Nguyễn Việt T phải chịu 9.940.800 đồng. Bà Trần Lệ T1 đã tạm ứng trước, do đó,
buộc ông Nguyễn Việt T phải trả lại cho bà T1 9.910.800 đồng.
7. Về án phí:
7.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí hôn nhân và gia đình: Ông Nguyễn Việt T, bà Nguyễn Lệ T8 mỗi người
phải chịu 75.000 đồng.
Án phí dân sự có giá ngạch: Bà Trần Lệ T1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch
69.313.545 đồng. Ngày 16/6/2026 bà T1 dự nộp tạm ứng án phí 20.250.000 đồng
biên lai thu số 7961 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Cà Mau được
chuyển thu đối trừ, bà T1 phải nộp tiếp 49.063.545 đồng.
Ông Nguyễn Việt T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch 31.061.348 đồng. Ngày
03/7/2025 ông T dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng biên lai thu số 313 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng Thi hành án dân sự
Khu vực 3 - Cà Mau) được chuyển thu đối trừ, ông T phải nộp tiếp 30.761.348
đồng.
Ông Ngô Văn S và bà Lê Kim N được nhận lại án phí 11.144.000 đồng biên lai số
2404 ngày 17/10/2025, bà Nguyễn Thị H được nhận lại án phí 500.000 đồng biên
lai số 11493 ngày 30/7/2025, bà Đào Thị B1 được nhận lại án phí 1.750.000 đồng
biên lai số 11494 ngày 30/7/2025, ông Dương Văn L được nhận lại án phí 500.000
đồng biên lai số 11501 ngày 31/7/2025, bà Nguyễn Bích T3 được nhận lại án phí
2.250.000 đồng biên lai số 11511 ngày 01/8/2025, ông Nguyễn Minh Đ và bà
Phạm Kim T4 được nhận lại án phí 300.000 đồng biên lai số 11551 ngày
05/8/2025, bà Nguyễn Thị K1 được nhận lại án phí 425.000 đồng biên lai số
115449 ngày 05/8/2025, bà Trần Ngọc P1 được nhận lại án phí 5.500.000 đồng
biên lai số 11522 ngày 04/8/2025, bà Trần Ngọc T5 được nhận lại án phí 6.176.000
đồng biên lai số 11541 ngày 05/8/2025, bà Tạ Hồng O được nhận lại án phí
3.500.000 đồng biên lai số 3957 ngày 05/11/2025, bà Phạm Thị B3 được nhận lại
án phí 3.300.000 đồng biên lai số 11608 ngày 11/8/2025, ông Hồ Văn Q được nhận
lại 300.000 đồng biên lai số 345 ngày 07/7/2025, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 được
nhận lại án phí 3.211.000 đồng biên lai số 1552 ngày 09/02/2026, bà Nguyễn Mỹ
N6 được nhận lại án phí 4.753.000 đồng biên lai số 1562 ngày 09/02/2026, Ngân
hàng N7 được nhận lại 10.000.000 đồng biên lai số 6375 ngày 19/5/2026 của Chi
cục H5 hành án dân sự huyện Trần Văn T7 (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 3 - Cà Mau).
Ngày 09/3/2026 bà Lưu Kim P đã nộp tạm ứng án phí số tiền 2.925.000 đồng theo
biên lai số 2532 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Cà Mau được xử lý khi
Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại yêu cầu độc lập của bà P.
16
7.2. Án phí phúc thẩm:
Bà P không phải chịu án phí phúc thẩm. Bà P đã nộp tạm ứng án phí
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000282 ngày 06/7/2026
của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
Ông T không phải chịu án phí phúc thẩm. Ông T đã nộp tạm ứng án phí
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000472 ngày 10/7/2026
của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
Bà T1 phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà T1 đã nộp tạm ứng án
phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000373 ngày
08/7/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh C được chuyển thu án phí toàn bộ.
Miễn án phí phúc thẩm cho bà Lưu Thị G và bà Lê Thị H2.
Bà Trần Ngọc P1 phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà P1 đã nộp
tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000372
ngày 08/7/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh C được chuyển thu án phí
toàn bộ.
Bà Trần Ngọc T5 phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà T5 đã nộp
tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000375
ngày 08/7/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh C được chuyển thu án phí
toàn bộ.
Bà Lê Kim N phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà N3 đã nộp tạm
ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000432 ngày
09/7/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh C được chuyển thu án phí toàn bộ.
Bà Tạ Hồng O phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà O đã nộp tạm
ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000718 ngày
14/7/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh C được chuyển thu án phí toàn bộ.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
tại TP. Hồ Chí Minh (01 bản);
- VKSND tỉnh Cà Mau (01 bản);
- TAND Khu vực 3 - Cà Mau (01 bản);
- Phòng THADS Khu vực 3 - Cà Mau (01 bản);
- Các đương sự;
- Lưu HS, Tổ HCTP (02 bản).
17
Châu Minh Nguyệt
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Đỗ Cao Khánh Hoàng Thị Hải Hà Châu Minh Nguyệt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT Bản án số 51/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất