Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 51/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bạch Thông (TAND tỉnh Bắc Kạn)
Số hiệu: 51/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/12/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phạm Hồng H và Hoàng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông bị xử phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN
–––––––––––––––
Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày 22/12/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG - TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Tập
Bà Triu Th Hiến
Thư phiên toà: Đàm Thị Bưởi - Thư Tòa án nhân dân huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông,
tỉnh Bắc Kạn, xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 48/2023/TLST-
HS, ngày 27/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
50/2023/QĐXXST-HS ngày 11/12/2023 đối với các bị cáo:
Phm Hng H (tên gi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 11 năm 1991
ti: Huyn B, tnh Bc Kn; i ĐKHKTT chỗ : Thôn T, T, huyn B,
tnh Bc Kn; ngh nghiệp: Lao động t do; trình độ văn hóa (hc vn): 11/12;
dân tc: Tày; gii tính: Nam; quc tch: Vit Nam; tôn giáo: Không; con ông:
Phm Hng T : ng Th H1; v Ha Th L, 02 con; tiền án:
Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày 19/7/2023; bị
cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
Hoàng Văn T1 (tên gi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 8 năm 1983
ti: Huyn B, tnh Bc Kn; nơi ĐKHKTT chỗ : T dân ph C, th trn P,
huyn B, tnh Bc Kn; ngh nghiệp: Lao động t do; trình độ văn hóa (học
vn): 9/12; dân tc: Tày; gii tính: Nam; quc tch: Vit Nam; tôn giáo: Không;
con ông: Hoàng Văn T2 : ng Th V; vợ Nguyn Th L1, 02
con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày
19/7/2023; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ ng Th H1 sinh năm 1960. Vắng mt
+ Ông Phm Hng T sinh năm 1957. Vắng mt
2
+ Ch Ha Th L sinh năm 1993. Có mặt
Cùng địa ch: Thôn T, xã T, huyn B, tnh Bc Kn.
+ Ch Nguyn Th L1 sinh năm 1982. Có mặt
Địa ch: T dân ph C, th trn P, huyn B, tnh Bc Kn.
- Người làm chng:
+ Anh Nguyn Duy H2 sinh năm 1965. Vắng mt
+ Anh Nguyn Duy T3 sinh năm 1995. Vắng mt
Cùng địa ch: T N, phường H, thành ph B, tnh Bc Kn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, Tổ công tác Công an xã T, huyện
B đang làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại: Thôn T, xã T phát hiện hai đối
tượng nam giới đang bụi cây ven đường quốc lộ 3 thuộc thôn T, T biểu
hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính.
Hai đối tượng trình bày họ tên là Phạm Hồng H, sinh năm 1991, trú tại: Thôn T,
T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn Hoàng Văn T1, sinh năm 1983, trú tại: Tổ dân
phố C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình kiểm tra, Phạm Hồng H tự
giác giao nộp cho Tổ công tác 02 gói nhỏ (trong đó: 01 gói được gói bằng giấy
một mặt màu vàng một mặt màu trắng 01 gói nhỏ được gói bằng giấy một
mặt màu trắng bạc một mặt màu trắng, bên trong cả 02 gói nhỏ đều chứa chất
màu trắng, nghi vấn là ma túy); Hoàng Văn T1 tự giác giao nộp cho Tổ công tác
02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng, bên
trong đều chứa chất màu trắng, nghi vấn là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành thử
phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy đối với 04 gói nhỏ nêu trên, kết quả thử
phản ng đều trùng với đặc trưng của chất ma túy, loại heroine. Cùng ngày,
Công an T đã chuyển hồ vụ việc đến quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 16/7/2023, quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp
với quan chức năng tiến hành lập biên bản mở niêm phong cân xác định
khối lượng chất nghi vấn ma túy thu giữ được của Phạm Hồng H Hoàng
Văn T1, xác định: Số chất màu trắng có trong 04 gói nhỏ thu giữ của H và T1
tổng khối lượng 0,206g (Không phẩy hai không sáu gam), trong đó: Số chất
màu trắng có trong 02 gói nhỏ thu giữ được của Phạm Hồng H khối lượng
0,093g (Không phẩy không chín ba gam) và schất màu trắng trong 02 gói
nhỏ thu giữ được của Hoàng n T1 khối lượng 0,113g (Không phẩy một
một ba gam).
3
Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K Công
an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng trong 02 phong hiệu GĐ1
gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine; có tổng khối lượng là 0,206g (Không
phẩy hai không sáu gam).
Quá trình điều tra, truy tố Phạm Hồng H Hoàng Văn T1 khai nhận:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, H và T1 gặp nhau tại quán P thuộc thôn
T, T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Tại quán phở Quỳnh H3, H T1 rủ nhau góp
tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Do không tiền nên H hỏi vay T1
100.000đ, T1 đồng ý rồi đưa cho H 400.000đ (trong đó 100.000đ tiền T1
cho H vay, 300.000đ là tiền của T1). H cầm tiền, điều khiển xe mô biển kiểm
soát 97B1 - 202.65 đi về hướng thành phố B tìm mua ma túy, đi được khoảng 30
phút thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, biểu hiện nghiện ma túy, H
hỏi mua được người đàn ông này bán cho 03 gói ma túy với giá 400.000đ.
Sau khi mua được ma y, H quay lại quán phở Quỳnh H3 gọi T1 đi theo để
tìm nơi sử dụng ma túy. H điều khiển xe mô biển kiểm soát 97B1 - 202.65 đi
trước, T1 điều khiển xe tô biển kiểm soát 97B1 - 456.60 đi theo H về hướng
thành phố B. Đi được khoảng 300m thì dừng lại, H T1 để xe ven đường; sau
đó, cùng nhau đi vào bụi cây cách đó khoảng 10m đến 15m; tại đây, H nói mua
được 03 gói ma túy, H đưa cho T1 02 gói, còn 01 gói H giữ lại rồi chia ra làm
hai phần, một phần H gói bằng giấy, một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng,
phần còn lại gói bằng giấy ban đầu. Khi H và T1 đang chuẩn bị sử dụng ma túy
thì bị tổ công tác Công an T yêu cầu kiểm tra hành chính; H và T1 đã tự giác
giao nộp toàn bộ số ma túy đang tàng trữ trên người cho tổ công tác.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) phong niêm phong hiệu “VC”, bên trong 01 (một)
mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng; 01 (một) mảnh giấy một mặt
màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng 01 (một) phong niêm phong ban đầu
ký hiệu “H”.
- 01 (một) phong niêm phong hiệu “VC1”, bên trong 02 (hai)
mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng ng 01 (một) phong niêm
phong ban đầu ký hiệu “T”.
- 01 (một) phong niêm phong hiệu T137 n trong mẫu chất
trong phong hiệu còn lại 0,073g (Không phẩy không bảy ba gam);
mẫu chất trong phong hiệu GĐ1 còn lại 0,093g (Không phẩy không chín
ba gam) cùng phong bì, bao gói cũ, mẫu hoàn trả sau giám định do quan
giám định hoàn trả lại.
- 01 (một) xe mô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng đen
bạc, biển số đăng ký 97B1 - 456.60, cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu đen đỏ xám
trắng, biển số đăng ký 97B1 - 202.65, cũ đã qua sử dụng.
4
- 01 (một) đăng ký xe mô tô số 97019169 mang tên Nguyễn Thị L1.
- 01 (một) đăng ký xe mô tô số 97009573 mang tên Phạm Hồng H.
Quá trình điều tra, Phạm Hồng H Hoàng Văn T1 đã thành khẩn khai
nhận về hành vi phạm tội của mình. Do nghiện ma túy nên H T1 rủ nhau góp
tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng.
Người quyn lợi, nghĩa v liên quan ông Phm Hng T, ng Th
H1 trình bày: Ông T H1 không biết vic Phm Hng H s dng chiếc xe
BKS 97B1 20265 đi mua ma túy ngày 16/7/2023. Chiếc xe BKS
97B1 20265 là do ông T và H1 cho H tiền để mua, đăng ký xe tên H, t khi
mua xe cho đến nay do H toàn quyn qun lý, s dng; chiếc xe trên thuc
quyn s hu ca H. Vic H s dng chiếc xe mô trên đi mua ma túy không
liên quan đến ông T và bà H1; do vy, ông T H1 đề ngh Tòa án nhân dân
huyn Bch Thông, tnh Bc Kn x theo quy định ca pháp lut. Ngoài ra,
ông T và bà H1 không còn ý kiến nào khác.
Ni làm chng:
Anh Nguyn Duy H2 trình bày: Khoảng tháng 01 năm 2022, thương
hoàn cảnh gia đình em gái Nguyn Th L1 khó khăn, không có phương tiện đi
li nên anh H2 có cho em gái là Nguyn Th L1, trú ti: T dân ph C, th trn P,
huyn B, tnh Bc Kn 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng) để mua xe làm
phương tiện đi lại. Khi cho tin thì mt Hoàng Văn T1 (chng ca L1)
Nguyn Duy T3; lúc anh H2 đưa tiền nói ch cho tin ch L1 đi mua xe
và chiếc xe phi thuc quyn s hu riêng ca ch L1, T1 có mặt và cũng đồng ý
chiếc xe sau khi được mua s là tài sn riêng ca ch L1.
Anh Nguyn Duy T3 trình bày: Khoảng tháng 01/2022, anh có đến nhà anh
Nguyn Duy H2 chơi và được chng kiến vic anh H2 cho riêng ch L1
16.000.000đ (mười sáu triệu đồng) để mua xe làm phương tiện đi li. Khi anh
H2 cho ch L1 tin, T1 cũng mặt cũng đồng ý chiếc xe sau khi mua s
thuc quyn s hu ca riêng ch L1.
Cáo trạng số 50/CT-VKS-BT ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Phạm Hồng H Hoàng Văn T1 tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình
sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Phạm Hồng H và Hoàng Văn T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo H và bị cáo T1 đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét, cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
- Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan ch Ha Th L tnh bày: Ch L
không biết vic Phm Hng H s dng chiếc xe tô BKS 97B1 202.65 đi
mua ma túy ngày 16/7/2023. Chiếc xe trên tài sn riêng ca H, được H
mua trước khi kết hôn vi ch L. Ch L đề ngh Tòa án nhân dân huyn Bch
Thông, tnh Bc Kn x theo quy định ca pháp lut. Ngoài ra, ch L không
5
còn ý kiến nào khác.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan ch Nguyn Th L1 trình bày: Ch
L1 không biết vic Hoàng Văn T1 s dng chiếc xe mô BKS 97B1 456. 60
làm phương tiện đi theo Phm Hng H đến khu vc ven đường Q thuộc thôn T,
T để m nơi sử dụng ma túy. Chiếc xe trên, đăng xe mang tên
Nguyn Th L1, tin mua xe là tin riêng ca ch L1 (ch L1 đưc anh trai
Nguyn Duy H2 tng cho riêng). Ch Lạc đề n HĐXX trả li chiếc xe mô tô trên
cho ch L1. Ngoài ra, ch L1 không còn ý kiến nào khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đề
nghị HĐXX tuyên bố: Phạm Hồng H Hoàng Văn T1 tội "Tàng trữ trái phép
chất ma túy'.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Hồng H từ 12 (mười hai)
tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bcáo vào trại chấp
hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm gi từ ngày 16/7/2023 đến ngày
19/7/2023.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Văn T1 từ 12 (mười
hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính tngày bị cáo vào trại
chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày
19/7/2023.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC”, bên trong
01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng; 01 (một) mảnh
giấy một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng 01 (một) phong niêm
phong ban đầu ký hiệu “H”; 01 (một) phong bì niêm phong hiệu VC1”, bên
trong 02 (hai) mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng cùng 01 (một)
phong niêm phong ban đầu hiệu “T01 (một) phong niêm phong
hiệu T137 bên trong mẫu chất trong phong hiệu còn lại 0,073g
(Không phẩy không bảy ba gam); mẫu chất trong phong hiệu GĐ1 còn lại
0,093g (Không phẩy không chín ba gam) cùng phong bì, bao gói , mẫu hoàn
trả sau giám định do Cơ quan giám định hoàn trả lại.
Tch thu hóa giá sung công qu Nhà nước chiếc xe mô nhãn hiệu
HONDA, số loại WAVE, màu đen, đỏ, xám, trắng, biển kiểm soát 97B1 -
202.65, đã qua sử dụng, số khung RLHJC5221CY720520, số máy
JC52E5210145, xe không gương chiếu hậu bên phải, gương chiếu hậu bên
trái kiểu gương lùn đã hỏng, yếm xe bên phải bị vỡ hỏng, hai bên tay ga bao
tay xe máy màu hồng, phần bao tay ga xe máy bên phải bị hỏng, kèm theo chìa
khóa và 01 đăng ký xe mô tô số 97009573 mang tên Phạm Hồng H.
6
Trả lại xe nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng đen bạc,
biển kiểm soát 97B1 - 456.60, đã qua sử dụng, số khung DY590146, số máy
HC 12E5590211, xe hai gương chiếu hậu hai bên, kèm theo chìa khóa
đăng xe mô số 97019169, mang tên Nguyễn Thị L1 cho chNguyễn Thị
L1.
Đối với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) Hoàng Văn T1 cho Phạm
Hồng H ợn, do T1 và H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Không áp dụng hình phạt bổ sung miễn án phí hình sthẩm cho bị
cáo H và bị cáo T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định t tng của quan điều tra Công an huyn
B, Điều tra viên, Vin kim sát nhân dân huyn B, Kim sát viên trong quá trình
điu tra, truy t đã thực hiện đúng thm quyn, trình t, th tục theo quy định
ca B lut T tng hình s. Quá trình khi tố, điều tra, truy t ti phiên tòa
không có ý kiến, khiếu ni v hành vi quyết đnh của Cơ quan tiến hành t tng,
ngưi tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tng của Cơ quan tiến
hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thc hin đều đúng quy định pháp lut.
Sau khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, xét thấy cần đưa những
người làm chứng anh Nguyn Duy H2, sinh năm 1965 anh Nguyn Duy
T3, sinh năm 1995; cùng trú ti: T N, phường H, thành ph B, tnh Bc Kn
vào tham gia t tụng do liên quan đến vt chng cn x lý. Tòa án đã triệu tập
hợp lệ những người làm chứng nhưng anh Nguyễn Duy H2 anh Nguyễn Duy
T3 đều đơn xin xét xử vắng mặt ti phiên tòa. Người quyn lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Phm Hng T ng Th H1 đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt ti phiên tòa.
B cáo, người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan ch Ha Th L và ch
Nguyn Th L1, đại din Vin kiểm sát không ai đ ngh HĐXX hoãn phiên tòa,
h vụ án th hin li khai ca ông T, H1, anh H2 và anh T3 đã đầy đủ,
vic ông T, H1, anh H2 anh T3 vng mt không ảnh hưởng đến vic gii
quyết v án. Do đó, HĐXX căn c Điu 292, 293 B lut T tng hình s tiếp
tc xét x.
[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Tại phiên toà bị cáo H và bị
cáo T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo
trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của
các bị cáo tại quan điều tra, lời khai của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, người làm chứng và các tài liệu khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có
trong hồ vụ án phù hợp với kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ skết
luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, tại quán P thuộc thôn T, T,
7
huyện B. H và T1 rủ nhau góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng. H không
tiền nên hỏi vay T1 100.000đ, T1 đồng ý cho H vay 100.000,đ, T1 góp
300.000,đ rồi đưa cho H 400.000đ. H cầm tiền, điều khiển xe biển kiểm
soát 97B1 - 202.65 đi mua ma túy với một người đàn ông khoảng 40 tuổi H
không quen biết được 03 gói ma túy với số tiền 400.000đ. Sau khi mua được ma
túy, H quay lại quán phở Quỳnh H3 gọi T1 đi theo để tìm nơi sử dụng ma
túy. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, tại bụi cây ven đường quốc lộ 3
thuộc thôn T, T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Phạm Hồng H Hoàng Văn T1
đang chuẩn bị sử dụng chất ma túy thì bị Công an T, huyện B bắt quả tang,
thu giữ 0,206g (Không phẩy hai không sáu gam) ma túy, loại heroin, H
T1 đang tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
[3]. Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây vụ án đồng phạm giản
đơn, các bị cáo người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy
để sử dụng cho bản thân, các bị cáo rủ nhau góp tiền đi mua ma túy về cùng
nhau sử dụng chung. Tại thời điểm bị bắt quả tang, bị cáo T1 đang tàng trữ trên
người số ma túy khối lượng 0,113 gam, bị cáo H đang tàng trữ trên người số
ma túy khối lượng 0,093 gam. Do các bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất góp
tiền mua ma túy về để cùng nhau sử dụng chung nên các bị cáo phải chịu trách
nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm đối với hành vi tàng trữ trái phép chất
ma túy với tổng khối lượng ma túy (heroin) 0,206 gam. Trong vụ án này, bị
cáo H người khởi xướng, rủ bị cáo T1 đi mua ma túy về sử dụng chung,
nhưng bị cáo H không tiền bị cáo T1 đã cho bị cáo H vay tiền, sau đó bị
cáo H người trực tiếp đi mua ma túy từ số tiền chung của cả 02 bị cáo góp lại;
sau khi mua được ma túy, bị cáo H người gọi bị cáo T1 đi tìm nơi cùng nhau
sử dụng trái phép chất ma túy. HĐXX đánh giá bị cáo H vai tthực hành
tích cực hơn trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội so với với bị cáo T1. Do
đó, bị cáo H phải chịu mức nh phạt cao hơn so với bị o T1 để đảm bảo
nguyên tắc thể trách nhiệm hình sự tính công bằng trong quyết định hình
phạt của HĐXX.
[4]. Xét tính cht, mức độ, hành vi phm ti ca các b cáo: Hành vi ca
các b cáo nguy him cho hi, xâm phạm đến chế độ quản độc quyền
của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mt trt t tr an xã hi. B cáo H
b cáo T1 người đủ năng lc hành vi dân s, nhn thc hành vi tàng tr
trái phép cht ma túy ca mình vi phm pháp luật, nhưng các bị o vn c ý
thc hin. Do đó, cn phi x bng pháp lut hình s mc hình pht
tương xng vi tính cht, mức độ hành vi phm ti ca các b cáo. Hành vi ca
các b cáo đã đủ yếu t cu thành tội Tàng tr trái phép chất ma túy”
đưc quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B lut Hình s.
Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:
8
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) …
c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[5]. Đánh giá về quan đim truy tố, đề ngh ca Vin kim sát; ca người
có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
Xét thy Cáo trng s 50/CT-VKSBT ngày 27 tháng 10 năm 2023 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Phạm Hồng H
Hoàng Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1
Điều 249 Bộ luật Hình scăn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
về mức hình phạt, về án phí, vxử vật chứng không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo H và bị cáo T1 là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhn.
Xét đề nghị của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng
T, Hướng Thị H1, chị Hứa Thị L đối với chiếc xe nhãn hiệu HONDA,
số loại WAVE, màu đen, đỏ, xám, trắng, biển kiểm soát 97B1 - 202.65, đã
qua sử dụng, đăng xe mô mang tên Phạm Hồng H là thuộc quyền sở hữu
của H, H có toàn quyền quản lý, sử dụng đối với chiếc xe trên và đề nghị Tòa án
nhân dân huyện Bạch Thông xử chiếc xe trên theo quy định của pháp
luật là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhn.
Xét đề nghị của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị
L1 trả lại chiếc xe nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng đen
bạc, biển kiểm soát 97B1 - 456.60, đăng ký mang tên Nguyễn Thị L1 cho chị L1
là có căn cứ n được HĐXX chấp nhn.
[6]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị
cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo H và bị cáo T1 đều có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra,truy tố tại phiên tòa
các bị cáo đều thành khẩn khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình; bị cáo Phạm Hồng H mẹ đẻ là bà Hướng Thị H1 được Bộ trưởng Quốc
phòng tặng Bằng khen, bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự được tặng
danh hiệu Chiến tiên tiến; bcáo Hoàng Văn T1 bố đẻ ông Hoàng Văn
T2 được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến vvang hạng Ba. Do đó, bị
cáo H và bị cáo T1 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Hồng H bị
9
cáo Hoàng Văn T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng.
[7]. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, căn cứ
vào tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, nhân thân,
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, căn cứ vào các
quy định của pháp luật, HĐXX xét thấy: Trong vụ án này, cả hai bị cáo đều
nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cả hai bị
cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhquy định tại điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 BLHS. Do các bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất góp tiền mua ma túy về
để cùng nhau sử dụng chung nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với
vai trò là đồng phạm đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối
lượng ma túy (heroin) 0,206 gam. HĐXX thấy cn phi áp dng hình pht
giam đối vi các b cáo, có như vậy mới đủ tác dng ci to, giáo dc các b cáo,
đồng thời nêu gương, phòng ngừa chung cho xã hi.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Hồng H bị cáo Hoàng Văn T1
đều lao động tự do, không thu nhập ổn định, không tài sản. Do đó, Hội
đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H và bị cáo T1.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong niêm phong hiệu “VC”, bên trong 01 (một)
mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng; 01 (một) mảnh giấy một mặt
màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng 01 (một) phong niêm phong ban đầu
hiệu “H”; 01 (một) phong niêm phong hiệu “VC1”, bên trong 02
(hai) mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng cùng 01 (một) phong bì niêm
phong ban đầu hiệu “T” 01 (một) phong niêm phong ký hiệu T137 bên
trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,073g (Không phẩy không
bảy ba gam); mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ1 còn lại 0,093g (Không phẩy
không chín ba gam) cùng phong bì, bao gói cũ, mẫu hoàn trả sau giám định do
Cơ quan giám định hoàn trả lại là vt thuc loại Nhà nước cm tàng tr, cấm lưu
hành và là công c phm ti, không còn giá tr s dng nên cn tch thu tiêu hy.
- Đối với chiếc xe nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu đen,
đỏ, xám, trắng, biển kiểm soát 97B1 - 202.65, đã qua sử dụng, số khung
RLHJC5221CY720520, số máy JC52E5210145, xe không gương chiếu hậu
bên phải, gương chiếu hậu bên trái kiểu gương lùn đã hỏng, yếm xe bên phải bị
vỡ hỏng, hai bên tay ga bao tay xe máy màu hồng, phần bao tay ga xe máy
bên phải bị hỏng, kèm theo chìa khóa và 01 đăng ký xe mô số 97009573
mang tên Phạm Hồng H tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của bị cáo H, H đã
sử dụng làm công cụ, phương tiện phc v cho quá trình thc hin hành vi phm
tội nên HĐXX thấy cn tch thu hóa giá sung công qu Nhà nước.
- Đối với chiếc xe nhãn hiệu HONDA, sloại WAVE, màu trắng
đen bạc, biển kiểm soát 97B1 - 456.60, cũ đã qua sử dụng, số khung DY590146,
10
số máy HC 12E5590211, xe có hai gương chiếu hậu hai bên, kèm theo chìa khóa
đăng xe số 97019169, mang tên Nguyễn Thị L1. Quá trình điều tra
tại phiên tòa chị L1 trình bày đây tài sản riêng của chị L1, việc bị cáo T1
sử dụng chiếc xe trên đi theo bị cáo H tìm địa điểm sử dụng trái phép chất ma
túy chị L1 không biết. Do đó, chị L1 xin HĐXX trả lại chiếc xe trên cho
chị L1. Quá trình điều tra, quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, lấy
lời khai, căn cứ vào các tài liệu đã thu thập được, căn cứ vào đơn trình bày của
anh Nguyễn Duy H2 là anh trai của chị L1 về việc anh H2 cho riêng chị L1 tiền
để mua xe làm phương tiện đưa đón các cháu đi học (đơn xác nhận của
UBND phường H), lời khai của anh Nguyễn Duy T3 đã được chứng kiến sự việc
anh H2 cho chị L1 tiền để mua xe máy. Như vậy, đủ căn cứ để kết luận lời
trình bày của chị L1 là có căn cứ, có sở để xác định chiếc xe mô trên là tài
sản riêng của chị L1, việc bị cáo T1 sử dụng chiếc xe đi tìm nơi sdụng
chất ma túy chị L1 không biết. Mặt khác, chiếc xe trên không liên quan
trực tiếp đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đủ căn cứ để xác
định công cụ, phương tiện phạm tội. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn,
chiếc xe là phương tiện đi lại duy nhất để đưa đón con đi học. Do đó, HĐXX xét
thấy, cần trả lại chiếc xe trên cho chNguyễn Thị L1 là đúng quy định
thể hiện tính nhân văn của pháp luật.
[9]. Về án phí: B cáo H b cáo T1 phi chu án phí theo quy định của
pháp luật.
[10]. Về các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Phạm Hồng H vào ngày
16/7/2023, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, quan
Cảnh sát điều tra không xác minh làm được, nên HĐXX không đặt vấn đề
xem xét.
- Đối với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) Hoàng Văn T1 cho
Phạm Hồng H vay; T1 H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem
xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng H bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội "Tàng trữ
trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Hồng H 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị
cáo vào Trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày
16/7/2023 đến ngày 19/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Hồng H.
11
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Hoàng Văn T1 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị
cáo vào Trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ t ngày
16/7/2023 đến ngày 19/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn T1.
2. Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC”, bên trong
01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng; 01 (một) mảnh
giấy một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng 01 (một) phong niêm
phong ban đầu ký hiệu “H”; 01 (một) phong bì niêm phong hiệu VC1”, bên
trong 02 (hai) mảnh giấy một mặt màu vàng, mặt màu trắng cùng 01 (một)
phong niêm phong ban đầu hiệu “T” 01 (một) phong niêm phong
hiệu T137 bên trong mẫu chất trong phong bì hiệu còn lại 0,073g
(Không phẩy không bảy ba gam); mẫu chất trong phong hiệu GĐ1 còn lại
0,093g (Không phẩy không chín ba gam) cùng phong bì, bao gói , mẫu hoàn
trả sau giám định do Cơ quan giám định hoàn trả lại.
Tch thu hóa giá sung công qu Nhà nước chiếc xe mô nhãn hiệu
HONDA, số loại WAVE, màu đen, đỏ, xám, trắng, biển kiểm soát 97B1 -
202.65, đã qua sử dụng, số khung RLHJC5221CY720520, s máy
JC52E5210145, xe không gương chiếu hậu bên phải, gương chiếu hậu bên
trái kiểu gương lùn đã hỏng, yếm xe bên phải bị vỡ hỏng, hai bên tay ga bao
tay xe máy màu hồng, phần bao tay ga xe máy bên phải bị hỏng, kèm theo chìa
khóa và 01 đăng ký xe mô tô số 97009573 mang tên Phạm Hồng H.
Trả lại xe nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng đen bạc,
biển kiểm soát 97B1 - 456.60, đã qua sử dụng, số khung DY590146, số máy
HC 12E5590211, xe hai gương chiếu hậu hai bên, kèm theo chìa khóa
đăng xe mô số 97019169, mang tên Nguyễn Thị L1 cho chNguyễn Thị
L1.
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày
27/10/2023 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bạch
Thông).
3. V án phí: Áp dụng các Điu 135, 136 ca B lut T tng hình s
Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v
Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun s dng án phí
và l phí Tòa án:
B cáo Phm Hng H phi chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình s sơ thẩm.
12
B cáo Hoàng Văn T1 phi chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đng) án phí
hình s sơ thẩm.
4. V quyn kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 ca B lut T tng hình
s.
Các b cáo; người quyn lợi, nghĩa v liên quan ch Ha Th L ch
Nguyn Th L1 mt ti phiên tòa, quyn kháng cáo bn án trong thi hn
15 (mười lăm) ngày, kể t ngày tuyên án.
Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phm Hng T ng
Th H1 quyn kháng cáo phn bn án liên quan trc tiếp đến quyn lợi, nghĩa
v ca mình trong thi hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày nhận được bn án
hoc k t ngày bản án được niêm yết theo quy định ca pháp lut/.
Nơi nhận:
- Viện KSND huyện Bạch Thông (1);
- Viện KSND tỉnh Bắc Kạn (1);
- TAND tỉnh Bắc Kạn (1);
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (1);
- Công an huyện Bạch Thông;
- Bị cáo (2);
- Thi hành án DS huyện Bạch Thông (1);
- Bộ phận THAHS Tòa án (1);
- UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
- NCQLNVLQ;
- Lưu hồ sơ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên t
(Đã ký)
Nguyễn Thị Hương Thành
13
14
15
Tải về
Bản án số 51/2023/HS-ST Bản án số 51/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất