Bản án số 50/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 50/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 50/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 50/2026/DS-PT
Ngày: 23 – 01 - 2026
V/v Tranh chấp về đất đai
(Quyền sử dụng đất)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng và ông Phạm Thái Bình;
- Thư phiên tòa: Trần Thị Huyền Anh - Thư Toà án của a án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (Cơ
sở 1) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 467/2025/TLPT-DS ngày 24
tháng 11 năm 2025 về việc:“Tranh chấp về đất đai (Quyền sử dụng đất)”. Do
Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 15 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 738/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Lê T, sinh năm 1954; (Vắng mặt)
1.2. Bà Nguyễn Thị Hoài A, sinh năm 1951; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đức H, sinh năm
1981; địa chỉ: Thôn B, H, tỉnh Lâm Đồng (Theo Hợp đồng ủy quyền công
chứng số 000873/2025/CCGD ngày 01/8/2025). (Có mặt)
2. Bị đơn: Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn H, T, tỉnh
Lâm Đồng. (Có mặt)
2
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc A1, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ D,
thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Nay tổ D, thôn H, T, tỉnh Lâm
Đồng). (Có mặt)
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê T và bà Nguyễn Thị Hoài A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
1. Nguyên đơn trình bày: Năm 2003, ông T A nhận chuyển nhượng
của ông Nguyễn Văn B thửa đất diện tích khoảng 4ha, tọa lạc tại Đ, thuộc thôn H,
T, huyện H, tỉnh Bình Thuận nay thôn H, T, tỉnh Lâm Đồng với giá
89.000.000 đồng. Khi mua bán, hai bên lập Giấy bán đất. Sau khi nhận chuyển
nhượng ông T A trồng cây dương trên toàn bộ diện tích đất. Quá trình sử
dụng ổn định đến năm 2020, ông T và bà A phát hiện bà Nguyễn Thị V tự ý chặt
bỏ cây dương lấn chiếm diện tích khoảng 4.787,1m
2
đất chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T và A yêu cầu công nhận diện tích
4.787,1m
2
và buộc bà V trả lại diện tích tranh chấp.
Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 01/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai thị xã L vẽ thì phần diện tích tranh chấp là 4.236,2m
2
.
Nay nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện yêu cầu buộc Nguyễn Th
V trả phần diện tích đất 3.676,3m² đã lấn chiếm cho ông Lê T và bà Nguyễn Thị
Hoài A. Phần đất còn lại đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
V thì nguyên đơn không yêu cầu.
2. Bị đơn Nguyễn Thị V trình bày: Thửa đất tranh chấp nguồn
gốc bà V mua của ông Nguyễn Ngọc N vào năm 2000 và bà quản lý, sử dụng cho
đến nay. Trong quá trình sử dụng, bà trồng bạch đàn và keo. Năm 2018, bà V xin
đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng xảy ra tranh chấp do ông
Lê T bà Nguyễn Thị Hoài A không chịu ký giáp ranh (Vì ông T, bà A có một
thửa đất sát ranh đất của bà, cần giáp ranh để hoàn tất thủ tục đăng ký). Đến
năm 2022, ông T A làm đơn khởi kiện bà V thì không đồng ý. Nay,
V làm đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết: Xác định diện tích 3.676,3
m² thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại thôn H, xã T, tỉnh Lâm Đồng
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà V.
*/ Tại Bản án dân sự thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 15 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng đã quyết
định:
[1] Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều
39; Điều 91; Điều 101; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 271; Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự;
3
Căn cứ Điều 138; Điều 151; Điều 235; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 36, Điều 42 của Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024
của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất
đai.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử:
[2.1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T bà
Nguyễn Thị Hoài A về việc buộc Nguyễn Thị V trả phần diện tích đất
3.676,3m² đã lấn chiếm.
[2.2] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị V:
Xác định diện tích A2 + B = 3.676,3m² đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp
của Nguyễn Thị V theo Sơ đồ hiện trang khu đất tranh chấp ngày 24/4/2025
của Chi nhánh Văn phòng Đ (Nay Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu
vực L).
(Đính kèm đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 24/4/2025 của Chi
nhánh Văn phòng Đ).
Nguyễn Thị V được quyền liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền đ
để đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng khác, án phí, quyền và
nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2025 nguyên đơn ông Lê T và bà Nguyễn
Thị Hoài A nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu hủy bản
án dân sự thẩm, buộc V trlại 3.676,3m² đất công nhận ông T,
Nguyễn ThHoài A được quyền sử dụng hợp pháp 3.676,3m² đất đang tranh chấp.
*/ Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án dân
sự thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc V
trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm.
- Bị đơn yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự thẩm, không đồng ý với nội
dung kháng cáo của nguyên đơn.
4
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm quan
điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử,
Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương
sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bđơn là đúng quy định của pháp
luật. Kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn và đúng quy
định pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp
thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý giải quyết là đúng quy định
tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy: Thửa đất tranh chấp
giữa nguyên đơn và bị đơn diện tích đo đạc thực tế diện tích A2 + B =
3.676,3m² tại thôn H, T, thị L, tỉnh Bình Thuận (Nay thôn H, xã T, tỉnh
Lâm Đồng) theo đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 24/4/2025 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng đất đai khu vực L. Vấn đề tranh chấp: Đây 1
phần diện tích ông T A nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B
2,7ha năm 2003. Năm 2020, ông T và bà A phát hiện bà Nguyễn Thị V tự ý chặt
bỏ cây dương lấn chiếm. Theo V khai mua ông Nguyễn Ngọc N vào năm
2000 và quản lý, sdụng cho đến nay. Ông Nguyễn Ngọc N con trai của
ông Nguyễn Văn B.
[3] Chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là:
Bản photo Giấy sang nhượng đất viết tay ngày 26/7/2003, Đơn xin xác nhận
nguồn gốc đất ngày 23/3/2008. Chứng cứ bị đơn cung cấp cho yêu cầu phản tố là
Giấy xác nhận ngày 23/02/2022 của ông Nguyễn Ngọc H1, ông Nguyễn Ngọc N,
ông Nguyễn Ngọc A1 bán đất cho bị đơn năm 2000.
[4] Xét các chứng cứ các đương sự cung cấp, xác minh của Tòa án cấp
thẩm đối với người làm chứng, công văn phúc đáp của UBND T, HĐXX
5
nhận thấy: Thửa đất tranh chấp giữa các đương sự nguồn gốc từ việc khai
hoang, quy chủ cho UBND T (C). Nguyên đơn, bị đơn đều người nhận
chuyển nhượng lại của người đã khai hoang, trong đó nguyên đơn khai rằng nhận
chuyển nhượng thửa đất của người cha, còn bị đơn thì nhận chuyển nhượng thửa
đất của người con. Xung quanh thửa đất tranh chấp còn đất khác của nguyên
đơn và bị đơn, có thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa
đất chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chứng cứ của nguyên đơn cung
cấp chỉ thể hiện nguyên đơn mua đất của ông B (Người cha) diện tích 2,7ha,
trong khi thực tế nguyên đơn quản lý nhiều thửa đất tổng diện tích khoảng 7ha.
Các ranh mốc của thửa đất tranh chấp không phải do nguyên đơn xác lập, tứ cận
của thửa đất trong Giấy sang nhượng không thể hiện cụ thể thửa đất của nguyên
đơn. Nguyên đơn không xác định được diện ch 3.676,3m
2
đất nằm trong thửa
đất 2,7ha mua của ông B. Do đó Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[5] Đối với bị đơn, các con của ông B đều xác định thửa đất đã được cha cho,
còn mốc giới cũ tồn tại từ đó đến khi họ bán cho bà V, phù hợp với xác minh về
nguồn gốc đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà V mời thêm người làm chứng là ông
Nguyễn Ngọc A1, là con trai cả của ông B và nộp đơn xác nhận của ông Nguyễn
Ngọc H1, ông Nguyễn Ngọc N đều xác định đã bán thửa đất có diện tích A2 + B
= 3.676,3m² cho V. Hiện nay V sử dụng đất theo đúng ranh trước đây gia
đình đã cho ông N. Như vậy, HĐXX nhận thấy đủ căn cứ đxác định diện tích
3.676,3 nói trên thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của Nguyễn Thị V.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bà V là đúng quy định.
[6] Qua hồ vụ án, xem xét toàn bộ quá trình tố tụng cấp thẩm, HĐXX
nhận thấy: Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đúng quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa xét xử phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp chứng cứ mới để
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo do đó yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
không schấp nhận. Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
phần diện tích đất hiệu A1 = 559,9m
2
nên HĐXX bổ sung phần đình chỉ xét
xử. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Tuy kháng cáo không được chấp nhận
nhưng ông Lê T Nguyễn Thị Hoài A người cao tuổi không phải nộp án
phí dân sự phúc thẩm và HĐXX điều chỉnh lại phần án phí sơ thẩm cho phù hợp.
[8] Những quyết định khác của bản ánthẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật ktừ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê T
Nguyễn Thị Hoài A. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2025/DS-ST ngày
26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Lâm Đồng, tỉnh m
Đồng.
2. Căn cứ:
- Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
3. Tuyên xử:
3.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T
Nguyễn Thị Hoài A về việc buộc Nguyễn Thị V trả phần diện tích đất
3.676,3m² đã lấn chiếm.
3.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị V:
Xác định diện tích thửa đất kí hiệu A2 + B = 3.676,3m² đất thuộc quyền sử
dụng hợp pháp của Nguyễn Thị V theo đồ hiện trạng khu đất tranh chấp
ngày 24/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ (Nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký đất đai khu vực L).
(Đính kèm đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 24/4/2025 của Chi
nhánh Văn phòng Đ, thửa đất có vị trí 3 – 5 – 6 – 7 – 8 – 9 -10 – 11 12 – 13 1
– 2 - 3).
Nguyễn Thị V được quyền liên hquan Nhà nước thẩm quyền đ
để đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
3.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê T và bà Nguyễn Thị Hoài A là người
cao tuổi không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
3.4. Về chi phí tố tụng: Ông T Nguyễn Thị Hoài A phải chịu
7.268.000 đồng (Bảy triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng) chi phí định giá tài
sản; Xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc (Ông T và bà A đã nộp đủ).
3.5. Đình chỉ xét xử đối với phần diện tích đất kí hiệu A1 = 559,9m
2
tại
đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 24/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê T Nguyễn Thị Hoài A thuộc
diện miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
7
5. Những quyết định khác của bản án thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án y được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
23/01/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND,TAND KV15 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS KV15 – Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Cổng TTĐT-TANDTC;
- Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa DS; Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lê Phương
Tải về
Bản án số 50/2026/DS-PT Bản án số 50/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2026/DS-PT Bản án số 50/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất