Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 49/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 49/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bạch Thông (TAND tỉnh Bắc Kạn) |
| Số hiệu: | 49/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/11/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Phan Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma túy |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày: 22/11/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang và ông Đinh Văn Tuyền
Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia
phiên tòa: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông,
tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
43/2023/HSST, ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 48/2023/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Văn L (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1998 tại huyện Bạch Thông,
tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã C, huyện Bạch Thông, tỉnh
Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà
Bàn Thị G; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Bạch Thông được gia đình
nuôi ăn học đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do, sinh sống tại địa phương
đến nay. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 03/7/2023
thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt
tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo là ông Vi Hiệp Cử là Luật sư thực hiện trợ giúp
pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 50 phút, ngày 30/6/2023 tại thôn N, xã N, huyện Bạch
Thông, tỉnh Bắc Kạn, Công an huyện Bạch Thông tiến hành kiểm tra và bắt người
phạm tội quả tang đối với Phan Văn L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Thu giữ và niêm phong 01 (một) gói nhỏ chứa chất màu trắng, nghi vấn là ma túy
2
vào phong bì ký hiệu “L” (Tiến hành cân xác định khối lượng được là 0,189 gam,
niêm phong 0,189 gam chất màu trắng nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu “GĐ”
gửi giám định).
Tại cơ quan điều tra Phan Văn L khai nhận: Bản thân là người nghiện chất
ma túy từ cuối năm 2022 nên khoảng 13 giờ 50 phút ngày 30/6/2023, L một mình
điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F6-6145 đi từ nhà thuộc thôn N, xã C,
huyện Bạch Thông vào xã N, huyện Bạch Thông để xuống cổng Bệnh viện đa
khoa Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến xã N thì L gặp
một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ), có biểu hiện sử dụng
ma túy nên L đã hỏi mua ma túy và mua được với người đàn ông này một gói nhỏ
ma túy với số tiền 100.000 đồng, rồi điều khiển xe mô tô quay về, khi đến khu
vực thôn N, xã N thì bị tổ công tác Công an huyện Bạch Thông yêu cầu kiểm tra,
L khai đang tàng trữ trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp 01 gói ma túy
được lấy từ túi quần sau bên phải đang mặc, 01 gói ma túy được gói bằng giấy
một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng, kết
quả thử phản ứng trùng với đặc trưng của chất ma túy, loại Heroine. Công an tiến
hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 (một) gói nhỏ chất màu
trắng, L khai là ma túy có khối lượng là 0,189 gam (Không phẩy một tám chín
gam) và tạm giữ 01 xe mô tô BKS 97F6 – 6145 cùng đăng ký xe mô tô tên Hoàng
Hữu D.
Tại Kết luận giám định số: 229/KL-KTHS ngày 10/7/2023 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì
ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là:
Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ–CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy
định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng là 0,189g (Không phẩy
một tám chín gam).
Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSBT ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Phan Văn L về tội:
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ
luật hình sự;
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)....
c) Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.............
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
3
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông giữ
nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 của
Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/6/2023 đến ngày
03/7/2023.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong ký hiệu “T131” bên
trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,160g (Không phẩy một sáu
không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một)
phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy có một mặt
màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu
“L”;
- Tịch thu, hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (một) xe mô tô BKS 97F6-6145,
màu sơn đen, nhãn hiệu LUXARY, xe cũ đã qua sử dụng. Số khung
RMNDCH6MN5H006759, số máy VAVLC152FMH108759, xe không có gương
chiếu hậu bên phải, đèn xi nhan hai bên trước xe hỏng, đen xi nhan bên trái sau xe
không có, đèn xi nhan bên phải sau xe hỏng, vỏ thân xe bên phải vỡ hỏng, kèm
theo chìa khóa xe cùng 01 (một) đăng ký xe mô tô BKS 97F6-6145, số 0022475
do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 26/12/2007 mang
tên Hoàng Hữu D.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo
và có đơn xin miễn án phí, đề nghị xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản bào chữa nhất trí với cáo trạng mà
Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình có bố mẹ già, bị cáo là lao động
duy nhất nên đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề
nghị của Viện kiểm sát là 12 tháng và cho cải tạo tại địa phương (Hưởng án treo),
bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn
án phí cho bị cáo. Đề nghị xem xét cho bị cáo được nhận lại xe mô tô bị thu giữ
trong vụ án để làm phương tiện đi lại làm ăn.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
như Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận và nói lời sau cùng: Bản thân nhận
thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận:
Hồi 13 giờ 50 phút ngày 30/6/2023 tại thôn N, xã N, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc
Kạn, Phan Văn L đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp 0,189 gam (Không
phẩy một tám chín gam) chất ma túy (loại Heroine). Mục đích Phan Văn L tàng
trữ trái phép chất ma túy là phục vụ cho nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản
thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất
ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng
các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Phan Văn L về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình
sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, làm gia tăng tội
phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, cần xử lý nghiêm
nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết nặng trách
nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình giải quyết vụ
án cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1,
Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua với một người đàn ông không
quen biết tại xã N vào ngày 30/6/2023, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ
cụ thể của người đàn ông này nên không có cơ sở để điều tra xác minh.
[5]. Về vật chứng: Các vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần
tịch thu, tiêu hủy, gồm: 01 (một) phong bì đã niêm phong ký hiệu “T131” bên
trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,160g (Không phẩy một sáu
không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một)
phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy có một mặt
màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu
“L”;
5
- 01 (một) xe mô tô BKS 97F6-6145, màu sơn đen, nhãn hiệu LUXARY, xe
cũ đã qua sử dụng. Qua xác minh làm rõ xe mô tô thuộc quyền sở hữu của Phan
Văn L. Ngày 30/6/2023, L sử dụng xe mô tô này làm phương tiện để đi mua và
tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu hóa giá, sung quỹ Nhà nước gồm
01 (một) xe mô tô BKS 97F6-6145 cùng 01 (một) đăng ký xe mô tô BKS 97F6-
6145, số 0022475 mang tên Hoàng Hữu D.
[6]. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử
không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136/BLTTHS; Các Điều 12, 14, 15 -
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên bị cáo
đủ điều kiện được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1,
Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn L: 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được
trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 30/6/2023 đến ngày 03/7/2023.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong ký hiệu “T131” bên
trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,160g (Không phẩy một sáu
không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một)
phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy có một mặt
màu trắng bạc, một mặt màu trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu
“L”;
- Tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô BKS 97F6-6145,
màu sơn đen, nhãn hiệu LUXARY, xe cũ đã qua sử dụng. Số khung
RMNDCH6MN5H006759, số máy VAVLC152FMH108759, xe không có gương
chiếu hậu bên phải, đèn xi nhan hai bên trước xe hỏng, đen xi nhan bên trái sau xe
không có, đèn xi nhan bên phải sau xe hỏng, vỏ thân xe bên phải vỡ hỏng, kèm
theo chìa khóa xe cùng 01 (một) đăng ký xe mô tô BKS 97F6-6145, số 0022475
do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 26/12/2007 mang
tên Hoàng Hữu D.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày
11/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông và Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông)
6
* Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136/BLTTHS; Các Điều 12, 14, 15 - Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự”.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày
tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND H.Bạch Thông 1;
- VKSND tỉnh Bắc Kạn 1;
- CA huyện Bạch Thông 2;
- Bị cáo 1;
- Người bào chữa 1;
- TA tỉnh Bắc Kạn 1;
- Sở tư pháp 1;
- THADS 1;
- Lưu HSVA, lưu trữ ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Ma Thị Nguyên
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm