Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hoài Ân (TAND tỉnh Bình Định)
Số hiệu: 47/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp "Đòi lại tài sản"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 47/2024/DS-ST
Ngày 28-6-2024
V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Hiển;
Bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký phiên tòa:Đinh Thị Y Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham
gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 28/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét
xử thẩm công khai vụ án Dân sự thụ số: 64/2023/TLST-DS ngày 05/10/2023,
về việc: Tranh chấp “đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
87/2024/QĐXXST-DS ngày 13/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đình N, sinh năm 1992;
Nơi cư trú: Thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1948;
2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1948;
Cùng nơi cư trú: Thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Bà Võ Thị Hồng Đ1, sinh năm: 1994;
2. Ông Đặng Minh C, sinh năm 1984;
3. Ông Trần Văn S, sinh năm 1965;
2
Cùng nơi cư trú tại thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
(Nguyên đơn; bị đơn; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đơn xin xét xử
vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn
ông Trần Đình N trình bày:
Vào khoảng đầu năm 2019 vợ chồng ông có mua của vợ chồng ông Nguyễn Đ
Nguyễn Thị L, ở thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định một thửa đất có diện
tích khoảng 360m
2
tại chân đồi Núi Một, thuộc Đ, thôn A, xã Â, huyện H với giá
là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng (bán đất và bán cả các loại cây có trên đất là
01 cây dừa 01 cây bạch đàn). Việc mua bán đất giữa ông vợ chồng ông Đ
viết bằng giấy viết tay. Vợ chồng ông đã giao đủ số tiền cho vợ chồng ông Đ
như đã thỏa thuận.
Tháng 10 năm 2019 thì vợ chồng ông bán lại mảnh đất này cho ông Đặng Minh
C với g30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Tuy nhiên, đến năm 2020 thì giữa ông
Đ ông Đặng Đức H xảy ra tranh chấp về phần đất đã bán nói trên nên ông
H đã khởi kiện vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân để giải quyết. Vụ án
đã được Tòa án giải quyết theo bản án Dân sự thẩm số 65/2022/DS-ST ngày
20/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, theo đó thì thửa đất mà ông Đ đã
bán đã được Nhà nước giao quyền sdụng cho hộ gia đình ông Đặng Đức H, nên
ông H chủ sở hữu hợp pháp của mảnh đất chứ không phải của ông Nguyễn
Đ. Do đó, hợp đồng mua bán đất giữa ông, ông Đ ông C không thực hiện được.
vậy, mà ông đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ
chồng ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho ông số tiền 30.000.000
(ba mươi triệu) đồng, stiền mà ông đã mua mảnh đất 360
m
2
của của vợ chồng
ông Đ, bà L tại chân đồi Núi Một, thuộc Đ, thôn A, xã Â, huyện H.
Đối với 01 cây bạch đàn, 01 cây dừa có trên đất và phần diện tích đất còn lại sau
khi trừ đi phần diện tích đất của ông Đặng Đức H thì vợ chồng ông không khai
thác sử dụng các loại câyphần đất còn lại nêu trên. Tuy nhiên, khi ông bán đất
lại cho ông C thì ông C đã khai thác sử dụng 01 cây bạch đàn. Ông C đồng ý trả
1.000.000 đồng giá trị của cây bạch đàn như yêu cầu của vợ chồng ông Đ và yêu
cầu vợ chồng ông có trách nhiệm trả 1.000.000 đồng cho vợ chồng ông Đ vì hiện
nay vợ chồng ông đang còn nợ tiền ông C. Vợ chồng ông chấp nhận trả thay ông
C số tiền này và xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Đ
và bà Nguyễn Thị L phải trả cho ông số tiền là 29.000.000 đồng.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L trình bày: Vào khoảng tháng
7 năm 2019 thì vợ chồng bán cho ông Trần Đình N 01 mảnh đất ở Chân đồi
N, thuộc Đ, thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, đất này không có giấy tờ và
khi bán thì trên đất còn có 01 cây bạch đàn 01 cây dừa. Lúc đầu, đất này là ông
bán cho ông Trần Đình S1 (cậu ruột của ông Trần Đình N), ông S1 nói với vợ
chồng ông bán cho ông S1 đất này đi, giá vợ chồng ông ông S1 thỏa thuận
3
30.000.000 đồng, ông S1 đã đưa trước số tiền 10.000.000 đồng cho vợ chồng
để cọc. Nhưng không biết sau đó ông S1 ông N bàn bạc với nhau thế nào,
ông N lại qua nhà vợ chồng giao thêm số tiền 20.000.000 đồng còn thiếu
đưa giấy mua bán đất đã viết sẵn qua nhà cho vợ chồng bà ký. Sau đó không lâu
vợ chồng bà có nghe là ông N đã bán lại mảnh đất này cho ông Đặng Minh C,
thôn A, xã Â, huyện H. Khoảng năm 2022 thì ông Đặng Đức H khởi kiện ra Tòa
án tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất vợ chồng đã bán
cho ông N nêu trên. Theo Bản án dân sự thẩm số 65/2022/DS-ST ngày
20/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông Đặng Đức H, yêu cầu ông Đặng Minh C phải trả lại phần đất thuộc sở
Hữu của ông Đặng Đức H (vì lúc đó ông C là người đang sdụng mảnh đất này).
vậy, việc mua bán đất giữa vợ chồng ông Trần Đình N không thực
hiện được.
Đối với yêu cầu của ông Trần Đình N yêu cầu vợ chồng trả lại số tiền
30.000.000 đồng thì vợ chồng không đồng ý trả, vì hai vợ chồng đã già yếu
không làm ra tiền để trả lại cho ông N. Hơn nữa, lúc bán cho ông N đất vợ
chồng bà bán mảnh đất chứ không cụ thể diện tích bao nhiêu nên còn một mảnh
đất nhỏ sau khi trừ đi phần đất của ông H thì ông N cứ sử dụng. Đối với 01 cây
bạch đàn ông C đã khai thác thì ông cho rằng giá cây bạch đàn này trị giá là
1.000.000 đồng ông Đ, L đồng ý trừ số tiền này vào số tiền 30.000.000 đồng
mà vợ chồng ông, bà bán đất cho ông N.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2023 các lời khai tại Tòa án, người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị Hồng Đ1 trình bày: Thống nhất như ý
kiến và yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Đình N.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/03/2024, người quyền lợi nghĩa vliên quan
ông Đặng Minh C trình bày: Vào năm 2019 thì ông Trần Đình N ông có thỏa
thuận mua bán đất tại chân đồi Núi Một, thuộc Đ, thôn A, Â, huyện H, tỉnh
Bình Định. Lúc bán đất thì trên đất vẫn còn 01 cây bạch đàn 01 cây dừa, ông
N bán đất bán luôn cho ông những cây này kèm theo đất. cây bạch đàn bóng
to chiếm nhiều diện tích dẫn đến không trồng được cây khác nên ông đã khai
thác 01 cây bạch đàn này đtrồng chuối. Đối yêu cầu của ông Nguyễn Đ
Nguyễn Thị L yêu cầu đền số tiền 1.000.000 đồng đối với cây bạch đàn
ông đã khai thác thì ông chấp nhận bồi thường số tiền nêu trên và ông yêu cầu vợ
chồng ông Trần Đình N Thị Hồng Đ1 chịu trách nhiệm trả số tiền trên
cho ông Đ và bà L hiện nay ông N và bà Đ1 đang còn nợ tiền của ông.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2024, người có quyền lợi nghĩa vliên quan
ông Trần Văn S trình bày: Ông là cậu ruột của ông Trần Đình N. Ông Nguyễn Đ
và bà Nguyễn Thị L cho rằng ông ngỏ ý muốn mua đất của bà L và ông Đ thì sự
thật không phải như vậy, ông chỉ chỉ chỗ cho ông N mua đất chứ ông không
biết giữa vợ chồng ông Đ ông N mua bán đất với nhau như thế nào thì ông
không rõ. Việc đưa trước cho ông Đ và bà L số tiền 10.000.000 đồng cũng là tiền
của ông N ông không biết các bên cọc với nhau như thế nào cả. Đối với yêu
cầu khởi kiện của ông N khởi kiện ông Nguyễn Đ Nguyễn Thị L thì ông
4
không ý kiến gì, ông không liên quan đến việc mua bán nêu trên việc khởi
kiện của ông N ông Đ, L thì để Tòa án giải quyết giữa các bên chứ ông
không liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ hồ sơ, chuẩn bị xét xử tại phiên
tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của
pháp luật. Về nội dung, đnghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc Nguyễn Thị L ông Nguyễn Đ phải trả cho nguyên đơn
Trần Đình N số tiền còn nợ là 29.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Đình N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết
buộc ông Nguyễn Đ Nguyễn Thị L cùng thôn A, Â, huyện H, tỉnh Bình
Định phải trả số tiền 29.000.000 đồng là tiền mà ông N đã mua đất của vợ chồng
ông Đ L nên Tòa án xác định đây quan hệ tranh chấp “Đòi lại tài sản
quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân theo quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1
Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của ông Trần Đình
N, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đ, ông Đặng Minh Công Trần Văn S. Căn
cvào Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo các tài liệu, chứng cứ
trong hồ vụ án lời khai của đương sự tại Tòa, Hội đồng xét xử có căn c xác
định vào ngày 10 tháng 7 năm 2019, Nguyễn Thị L ông Nguyễn Đ chuyển
nhượng cho ông Trần Đình N một thửa đất tại nơi địa danh chân Đ, thuộc Đ,
thôn A, Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Do đất mà ông Đ bà L chuyển nhượng
cho ông Trần Đình N đã được Nhà nước giao quyền sử dụng cho hộ gia đình ông
Đặng Đức H nên không thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Đ, bà L. Tại Bản
án dân sự sơ thẩm số 65/2022/DS-ST ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện
Hoài Ân đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Đức H, buộc ông Đặng
Minh C - người mua thửa đất nêu trên do ông Trần Đình N chuyển nhượng
phải trả lại đất cho ông Đặng Đức H. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, ông Đặng
Minh C cũng đã khởi kiện ông Trần Đình N phải trả cho ông C số tiền 30.000.000
đồng. Nay ông Trần Đình N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đ và bà
Nguyễn Thị L phải trả số 30.000.000 đồng mà ông N đã mua đất. Nhưng tại biên
bản ngày 20/5/2024 thì ông N tự nguyện rút một phần yêu cầu và chỉ yêu cầu
Nguyễn Thị Lông Nguyễn Đ phải tr cho ông 29.000.000 đồng (sau khi trừ số
5
tiền 1.000.000 đồng giá trị cây Bạch Đàn). Như vậy, yêu cầu khởi kiện của ông
Trần Đình N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự
năm 2015 nên được chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử cần tuyên buộc ông Nguyễn Đ Nguyễn Thị
L phải trả cho ông Trần Đình N số tiến là 29.000.000 đồng là khoản tiền mà ông
N đã mua đất tại chân Đ, thuộc Đ, thuộc thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
[4] Đối với lời nại của ông Nguyễn Đ Nguyễn Thị L không đồng ý
trả số tiền 29.000.000 đồng cho ông Trần Đình N với lý do hiện nay hai vợ chồng
đã già yếu, không làm ra tiền để trả lại cho ông N không có căn cứ nên không
được chấp nhận.
[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cĐiều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQHK14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hi
khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án. Ông Nguyễn Đ Nguyễn Thị L người cao tuổi nên được
miễn toàn bộ án dân sự thẩm. Hoàn trả tiền tạm ng án phí đã nộp cho ông
Trần Đình N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm b khoản 1 Điều
238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Đình N.
Buộc ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L phải trả cho ông Trần Đình N số
tiền 29.000.000 (Hai mươi chín triệu) đồng.
2. Về án phí:
2.1. Ông Nguyễn Đ Nguyễn Thị L được miễn toàn bộ án phí dân sự
sơ thẩm.
2.2. Hoàn trả cho ông Trần Đình N số tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi
nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006605 ngày 05/10/2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6
3.1. Kể từ ngày án hiệu lực pháp luật (Đối với trường hợp quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn có
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm
yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Định;
- VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
- Các bên đương sự;
- CC THADS huyện Hoài Ân;
- UBND xã Ân Hậu;
- Lưu HSVA, VPTA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Việt Nam
Tải về
Bản án số 47/2024/DS-ST Bản án số 47/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2024/DS-ST Bản án số 47/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất