Bản án số 47/2022/DS-ST ngày 28/09/2022 của TAND huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp đất đai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 47/2022/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 47/2022/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 47/2022/DS-ST ngày 28/09/2022 của TAND huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp đất đai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Trần Đề (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
| Số hiệu: | 47/2022/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kim Kia đối với bị đơn Lâm Lil và bà Thạch Thị Sương, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 47/2022/DS-ST
Ngày 28/9/2022
Về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Đức Chương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Huy Tùng;
2. Ông Tăng Văn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh
Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2022/TLST-DS ngày 16
tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Kim K, sinh năm 1948; địa chỉ: Nhà không số, ấp B,
xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Ông Lâm L (Tên gọi khác là Lâm M), sinh năm 1954; địa chỉ:
Nhà không số, ấp B, xã Trung B, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lâm Thị C, sinh năm 1957; địa chỉ: Nhà không số, ấp B, xã T,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3.2. Bà Thạch Thị S, sinh năm 1954; địa chỉ: Nhà không số, ấp B, xã T,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 09/5/2022 (Bút lục 09) cũng như quá trình giải
quyết vụ án (Bút lục 34, 102) và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ông Kim K
trình bày:
2
Ông K có quyền sử dụng đất thuộc thửa 145, tờ bản đố số 52; tọa lạc tại ấp
B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban
nhân dân huyện Trần Đề cấp ngày 26/11/2014. Nguồn gốc quyền sử dụng đất này
do ông K nhận chuyển nhượng của người cháu là anh Trần P vào khoảng năm
1996. Khi nhận chuyển nhượng, anh P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; hiện trạng lúc nhận chuyển nhượng là đất trồng mía cũ của Tập đoàn
sản xuất nhưng bỏ hoang, chỉ có cỏ mọc; ranh giới thửa đất này với đất của ông
Lâm L ở hướng Nam là bờ đất cũ từ xưa, ông L có trồng cây bạch đàn trên cả hai
bên (Trái, phải) bờ đất. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông K cũng chỉ sử dụng đất
để trồng rẫy, cách nay hơn 10 năm mới cho xe ủi thành đất ruộng. Sau khi ủi đất
để trồng lúa, ruộng của ông K thường bị lá, cành cây bạch đàn của ông L rớt
xuống và rễ của những cây này cũng phát triển qua ruộng lúa của ông K nên ảnh
hưởng rất lớn đến sản xuất. Vì vậy, nhiều lần ông K đã phải yêu cầu ông L chặt
cành, đốn cây bạch đàn để không ảnh hưởng đến việc ông K trồng lúa; ông L đã
chấp nhận đốn các cây bạch đàn nhưng thời gian dài mới đốn hết.
Từ khoảng tháng 01/2021, mỗi vụ lúa ông L phá bờ ruộng một ít, ông K
biết nhưng không ra ngăn cản vì ông L đang làm thì cứ để cho làm. Đến hiện tại,
bờ ruộng cũ không còn, ông L đã cắm cọc ranh mới, lấn chiếm phần đất do ông K
sử dụng với diện tích khoảng 20m
2
có chiều ngang 0,4m và dài 39,1m. Ông K
biết được diện tích đất tranh chấp nêu trên nằm trong thửa đất của ông K là do
ông L đã phá bỏ hoàn toàn bờ cũ, trong đó có đất của ông Ki; ngoài ra, không còn
thông tin nào khác xác định đất tranh chấp nằm trong thửa 145 mà ông K được
cấp Giấy chứng nhận. Việc tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân xã Trung Bình
hòa giải nhưng không thành. Nay, ông Kim K yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc
ông Lâm L với bà Thạch Thị S trả lại diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên.
Toàn bộ thửa đất 145 cũng như diện tích đất tranh chấp chỉ có ông K cùng
vợ là bà Lâm Thị C trực tiếp trồng lúa; ngoài vợ chồng ông K, không còn ai khác
cùng sử dụng đất hoặc có liên quan đến phần tranh chấp.
Tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn giao nộp là:
Bản fotocoppy Đơn
yêu cầu ngày 29/5/2021; Biên bản hòa giải ngày 01/6/2021 của Tổ hòa giải ấp B;
Đơn yêu cầu điều chỉnh lại ranh đất ruộng ngày 03/6/2021; Bản sao Biên bản hòa
giải ngày 08/7/2021 của Ủy ban nhân dân xã T (Bút lục 01 đến 07); Bản sao Căn
cước công dân, Sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 145; Đơn
xác nhận nơi cư trú của các đương sự chưa được cấp số nhà; Đơn đề nghị không
hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Đơn yêu cầu miễn tiền tạm ứng
án phí, án phí (Bút lục 10 đến 23).
3
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2022 (Bút lục 41), Tờ tường trình
ngày 17/8/2022 (Bút lục 42) cũng như quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 102) và
tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Lâm L trình bày:
Gia đình ông L có quyền sử dụng 04 thửa đất tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh
Sóc Trăng; trong đó, có 01 thửa giáp ranh với đất của ông Kim K ở hướng Bắc,
thửa giáp ranh này của ông L là thửa 413, tờ bản đồ số 01 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cũ cấp cho hộ ông Lâm L từ năm 1996. Nguồn gốc thửa đất
413, ông L được Nhà nước trang trải lại từ năm 1990 sau khi giải thể Tập đoàn
sản xuất, trước đó là đất của cha mẹ ông L đã được nhập vào Tập đoàn. Thời
điểm được trang trải, thửa 413 của ông L và đất giáp ranh của ông Kim K đều là
đất trồng rẫy; ông L đã trồng 02 hàng cây bạch đàn làm ranh giới giữa hai bên, cả
02 hàng cây này được trồng theo ranh cũ là bờ đất thẳng phương theo hướng Tây
sang Đông, chạy dài qua nhiều thửa.
Sau năm 2012, ông K và ông L đều bang đất rẫy để làm ruộng trồng lúa;
bên ông K trồng lúa trước ông L khoảng 1 đến 2 năm. Khi bang đất rẫy, ông L đã
chặt bỏ 02 hàng cây bạch đàn, ranh giới đất giữa hai bên chỉ còn bờ đất cao
khoảng 50cm đến 60cm và rộng khoảng 80cm. Quá trình hai bên trồng lúa, gia
đình ông K thường lấn ranh bằng việc dùng dao, cuốc sạt bờ từ từ từng chút một;
vì vậy, khoảng đầu năm 2021, ông L mới dùng cuốc và len đào bờ phía ông L để
ông K phải dừng việc lấn ranh; khi ông L đào bờ, ông K không dám ngăn cản vì
ông L chỉ đào phía bên ruộng của mình. Hiện nay, ranh giới vẫn là bờ đất cũ từ
xưa nhưng nhỏ hơn với mặt bờ rộng khoảng 30cm và cao khoảng 30cm; ngoài bờ
đất này ra, không còn cột mốc hay cây trồng gì khác làm ranh. Ông Lâm L khẳng
định chỉ sử dụng đất thuộc quyền của mình, phần bờ ranh ông L đào thuộc đất
phía ông L và ông L không bao giờ có ý định lấn chiếm đất của bất cứ ai, chỉ
quản lý và sử dụng đất của mình nên không đồng ý với yêu cầu của ông Kim K.
Việc đào bờ đất do một mình ông L thực hiện, không có ai cùng đào nhưng
sử dụng đất để sản xuất thì ông L cùng vợ là bà Thạch Thị S trực tiếp trồng lúa
đến sát bờ ranh; ngoài vợ chồng ông L, không còn ai khác cùng sử dụng đất thửa
413 cũng như phần tranh chấp mà ông K khởi kiện.
- Quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 101) và tại phiên tòa sơ thẩm, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lâm Thị C trình bày: Hoàn toàn thống nhất
với toàn bộ các ý kiến của ông Kim K, không bổ sung gì thêm, không yêu cầu gì
khác.
4
- Quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 101) và tại phiên tòa sơ thẩm, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Thạch Thị S trình bày: Hoàn toàn thống
nhất với toàn bộ các ý kiến của ông Lâm L, không bổ sung gì thêm, không yêu
cầu gì khác.
- Tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập được gồm: Biên bản lấy lời khai
của các đương sự (Bút lục 34, 41); Biên bản về việc các đương sự thỏa thuận giá
tài sản tranh chấp (Bút lục 98); Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (Bút lục 85);
hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Kim K (Bút lục 66 đến
71). Các đương sự không có ý kiến phản đối về tài liệu, chứng cứ do đương sự
khác giao nộp và do Tòa án thu thập được.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần
Đề nêu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác
quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã
tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Kim K, quyết định về nghĩa
vụ chịu án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng.
Ông K yêu cầu ông L với bà S trả lại quyền sử dụng đất được cho là bị lấn
chiếm. Quan hệ tranh chấp này được pháp luật điều chỉnh tại Khoản 24 Điều 3,
Khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng quy định tại Khoản 9 Điều 26, điểm a
Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết.
- Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (Bút lục 85), quyền sử dụng
đất tranh chấp xác định được như sau:
Hướng Đông: Giáp phần đất do ông Thạch S đang sử dụng, có số đo là
50cm từ cột cây do ông K cắm trên ruộng lúa của ông L kéo về hướng Bắc, đến
cột cây cắm trên bờ đất nhỏ.
Hướng Tây: Giáp phần đất do ông Thạch K đang sử dụng, có số đo là
40cm từ cột cây do ông Kim K cắm trên ruộng lúa của ông L kéo về hướng Bắc,
đến cột cây trên bờ đất nhỏ.
Hướng Nam: Giáp phần đất do ông Lâm L đang sử dụng, có số đo là
39,1m từ cột cây do ông K cắm ở hướng Tây kéo về hướng Đông, đến cột cây ở
hướng này do ông K cắm giáp với phần đất do ông S đang sử dụng.
Hướng Bắc: Giáp bờ đất là lối đi ngăn cách giữa ruộng lúa của ông L với
ruộng lúa của ông K, có số đo là 39,1m theo cột cây đã định vị.
5
Diện tích đất tranh chấp là 19,8m
2
thuộc thửa 146, tờ bản đồ số 52; tọa lạc
tại ấp Bưng Lức, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Lâm L đứng tên (Theo thửa cũ là 413, tờ bản
đồ số 01). Các cột cây cắm để xác định ranh giới khi thẩm định được định vị và
lưu vị trí bằng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đo đạc, cập nhật lên Hệ thống dữ liệu
quản lý nhà nước về đất đai để sử dụng lâu dài, không cần lưu vị trí điểm tọa độ
trên thực địa.
Hiện trạng đất tranh chấp là một phần ngang 20cm và dài 39,1m thuộc
ruộng lúa của ông L, phần còn lại ngang khoảng 20cm và dài 39,1m chính là một
nửa bờ đất hiện tại.
- Căn cứ Biên bản về việc thỏa thuận giá tài sản tranh chấp (Bút lục 98),
thì: Các đương sự thống nhất yêu cầu Tòa án không thành lập Hội đồng định giá
để xác định giá trị tài sản tranh chấp, cùng đề nghị áp dụng giá trị quyền sử dụng
đất cao hơn giá theo khung giá đất tại Quy định được ban hành kèm theo Quyết
định số 33/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc
Trăng, làm cơ sở để giải quyết vụ án. Cụ thể: Quyền sử dụng đất tranh chấp được
xác định về loại đất theo thực tế sử dụng là đất nông nghiệp trồng cây hàng năm
có giá 60.000 đồng/m
2
.
- Căn cứ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Kim
K, do Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề cung cấp, thì: Ngày 26/11/2014, hộ ông
Kim K được Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH02509. Tại trang 3 của Giấy chứng nhận (Bút lục 67) cũng như tại
Trích lục bản đồ địa chính có trong hồ sơ (Bút lục 69) đã thể hiện, ông K được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 145 tại ấp B, xã T; thửa đất có cạnh
hướng Nam giáp với thửa đất số 146 (Thửa cũ là 413) của hộ ông Lâm L, cạnh
hướng Nam này là một đường thẳng chạy dài theo hướng Đông sang hướng Tây.
- Căn cứ những nội dung các đương sự đã thống nhất được với nhau tại
Biên bản hòa giải ngày 12/9/2022 (Bút lục 101), thì: Các đương sự thống nhất về
diện tích, vị trí, đặc điểm, hiện trạng phần đất tranh chấp theo kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ của Tòa án; ranh giới đất giữa hai bên là bờ đất cũ chạy dài
theo hướng Tây sang Đông, bắt đầu từ sát bờ kênh chạy dọc lộ đal ở hướng Tây
về hướng Đông, hiện bờ đất đầu hướng Tây còn nguyên vị trí cũ; ông Lâm L là
người trực tiếp trồng các cây trên bờ ranh, khai thác sử dụng cây trồng và chặt hết
toàn bộ hàng cây cả hai bên bờ ranh đất, gia đình ông K không trồng cây, không
khai thác và quản lý cây trồng trên bờ ranh này; các đương sự đều không có tài
liệu, chứng cứ mà chỉ căn cứ vào trí nhớ để xác định phần đất tranh chấp thuộc
quyền sử dụng của mình.
6
Xét Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thì thấy: Việc xem xét, thẩm định
tai chỗ được thực hiện đúng quy định tại Điều 97 và Điều 101 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, các đương sự cũng hoàn toàn thống nhất với kết quả thẩm định nên
Biên bản này là chứng cứ để giải quyết vụ án, có giá trị xác định được diện tích,
vị trí, hiện trạng và tình trạng pháp lý của phần đất tranh chấp.
Xét việc thỏa thuận xác định giá tài sản tranh chấp, thì thấy: Các đương sự
thống nhất loại đất tranh chấp là đất trồng cây hàng năm khác, phù hợp với thực
tế sử dụng đất; tự thỏa thuận giá 60.000 đồng/m
2
là phù hợp quy định tại Khoản 1
Điều 104 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Quyết định số 33/2019/QĐ-UBND ngày
20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và không trái đạo đức xã hội.
Hội đồng xét xử căn cứ giá nêu trên làm cơ sở giải quyết vụ án, xác định giá trị
đất tranh chấp là (19,8m
2
x 60.000 đồng/m
2
) = 1.188.000 đồng (Một triệu một
trăm tám mươi tám ngàn đồng).
Xét thông tin thu thập được tại các Biên bản lấy lời khai của đương sự,
Biên bản hòa giải cũng như ý kiến thừa nhận của các bên tại phiên tòa, thì thấy:
Lời trình bày của các bên hoàn toàn phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định tại
chỗ; việc xác định bờ đất là ranh cũ phù hợp với ranh đất theo sơ đồ tại Giấy
chứng nhận và Trích lục bản đồ địa chính trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận. Cho
nên, lời khai của các bên đương sự có giá trị là chứng cứ quy định tại Khoản 5
Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét những lời trình bày và lý lẽ của các đương sự, thì thấy: Mặc dù bên
nguyên đơn và phía bị đơn đều cho rằng mình đã quản lý, sử dụng ổn định phần
đất tranh chấp nhưng không có đương sự nào giao nộp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh nội dung này.
Từ 04 căn cứ và 04 nhận định nêu trên, đối chiếu với quy định tại Điều 92
của Bộ luật Tố tụng dân sự, có cơ sở khách quan để xác định như sau:
Ông Kim K với ông Lâm L đều có quyền sử dụng đất nông nghiệp giáp
ranh nhau tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ranh giới giữa hai bên được
ngăn cách bằng bờ đất cũ chạy dài từ giáp kênh dọc lộ đal ở hướng Tây, thẳng về
hướng Đông. Bên ông K nhận chuyển nhượng thửa đất 411 vào khoảng năm
1996, phía ông L thì được Nhà nước giao đất từ năm 1991. Năm 1996, cả ông K
và ông L đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến năm 2014, ông
K đăng ký và được cấp đổi Giấy chứng nhận theo thửa mới là 145. So với Giấy
chứng nhận được cấp năm 1996, diện tích thửa đất của ông K sau khi được cấp
đổi Giấy chứng nhận đã tăng 43,1m
2
. Tại bờ đất là ranh giới cũ, ông L đã trồng
nhiều cây bạch đàn và một số cây khác trên toàn bộ mặt bờ và trực tiếp quản lý,
khai thác cây trồng này; bên ông K không trồng cây, không khai thác cây trồng
nêu trên.
7
Do lá cây trồng trên bờ thường rụng xuống ruộng lúa của ông K, dễ cây
cũng gây cản trở việc chăm sóc lúa nên ông K đã nhiều lần yêu cầu ông L chặt
cây, đào gốc cây để đảm bảo việc canh tác của ông K; trong thời gian dài, ông L
mới chặt hết cây trồng, đào hết các gốc cây. Sau khi ông L chặt và đào hết gốc
cây, ông K thường lấn ranh bằng hành vi từ từ đào bờ phía ruộng của ông K. Để
hạn chế việc lấn ranh này, từ đầu năm 2021, ông L cũng đào bờ phía ruộng của
mình nhằm làm bờ nhỏ lại, không còn cơ hội cho ông K lấn ranh đất, ông K biết
nhưng không ngăn cản hay phản đối. Tuy nhiên, sau khi ông L đào bờ xong thì
phát sinh tranh chấp, ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L trả lại diện tích
đất được cho là lấn chiếm nêu trên.
Xét yêu cầu của ông Kim K thì thấy:
Một là, từ khi nhận chuyển nhượng thửa đất vào năm 1996 đến nay, gia
đình ông K chưa từng quản lý, sử dụng bờ đất là ranh giới cũ; ông L là người
quản lý toàn bộ bờ đất này, sử dụng để trồng và khai thác các loại cây trên bờ.
Hai là, ông K đã không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy
định tại Điều 166, Điều 170 của Luật Đất đai khi cho rằng ông L đào bờ lấn ranh
đất; không trung thực khi đã khai ông L đào hết bờ cũ, cắm cọc ranh mới.
Ba là, so với bờ ranh cũ, bờ đất nhỏ hiện tại còn cách khoảng 50cm về phía
ông L và giới hạn cuối mà ông K đòi cách bờ ranh cũ khoảng gần 1m (Một mét),
toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trọn vẹn trong thửa đất của ông L.
Đối chiếu với quy định tại các điều 99, 100 và 101 của Luật Đất đai thì ông
K không phải là đối tượng có thể được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối
với phần đất tranh chấp do đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất, xác định được diện tích này nằm trong thửa đất của ông L, ông K chưa
từng sử dụng. Cho nên, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của ông K.
[3] Về chi phí tố tụng.
Theo Phiếu thu (Bút lục 79 và 89), Tòa án đã thu tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ số tiền 4.362.377 đồng và chi phí hết. Yêu cầu của nguyên đơn
không được chấp nhận, ông K phải chịu chi phí này quy định tại Khoản 1 Điều
157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu không được chấp nhận, nguyên đơn
phải chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp là 59.400 đồng quy định
tại điểm b Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và Khoản 1
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc trường hợp như tranh chấp không có
giá ngạch. Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao tuổi, có yêu cầu được miễn tiền
án phí nên căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
nêu trên, miễn nộp tiền án phí cho ông K.

8
[5] Về quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần
Đề là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét
xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1
Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 1 Điều 147,
Khoản 1 Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 24 Điều 3, Khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai;
Căn cứ vào điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 3 Điều 26, điểm b Khoản 2
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kim K đối với bị đơn Lâm
L và bà Thạch Thị S, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” có đặc điểm, diện
tích, vị trí theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ được nêu tại Căn cứ thứ nhất
trong Mục [2] Phần Nhận định của Tòa án tại Bản án.
2. Ông Kim K phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là
4.362.377 đồng (Bốn triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn ba trăm bảy mươi bảy
đồng). Các chi phí này, ông K đã nộp tạm ứng và thanh toán xong.
3. Miễn nộp số tiền án phí là 300.000 đồng cho ông Kim K, ông K được
miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải xử lý.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử
theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Trần Đề;
- Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
- Lưu HSVA, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
CHU ĐỨC CHƯƠNG
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm