Bản án số 47/2022/DS-ST ngày 28/09/2022 của TAND huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2022/DS-ST ngày 28/09/2022 của TAND huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Trần Đề (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 47/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kim Kia đối với bị đơn Lâm Lil và bà Thạch Thị Sương, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 47/2022/DS-ST
Ngày 28/9/2022
Về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Đức Chương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Huy Tùng;
2. Ông Tăng Văn Thành.
- Thư phiên tòa: ThQual, là Thư Tòa án nhân dân huyện
Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh
Sóc Trăng; xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 63/2022/TLST-DS ngày 16
tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Kim K, sinh năm 1948; địa chỉ: Nhà không số, ấp B,
xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Ông Lâm L (Tên gọi khác m M), sinh năm 1954; địa chỉ:
Nhà không số, ấp B, xã Trung B, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lâm Thị C, sinh năm 1957; địa chỉ: Nhà không số, ấp B, xã T,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3.2. Thạch Thị S, sinh năm 1954; địa chỉ: Nhà không số, ấp B, T,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 09/5/2022 (Bút lục 09) cũng như quá trình giải
quyết vụ án (Bút lục 34, 102) tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ông Kim K
trình bày:
2
Ông K có quyền sử dụng đất thuộc thửa 145, tờ bản đố số 52; tọa lạc tại ấp
B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban
nhân dân huyện Trần Đề cấp ngày 26/11/2014. Nguồn gốc quyền sử dụng đất này
do ông K nhận chuyển nhượng của người cháu anh Trần P vào khoảng năm
1996. Khi nhận chuyển nhượng, anh P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; hiện trạng lúc nhận chuyển nhượng đất trồng mía của Tập đoàn
sản xuất nhưng bỏ hoang, chỉ cỏ mọc; ranh giới thửa đất này với đất của ông
Lâm L ở hướng Nam là bờ đất cũ từ xưa, ông L có trồng cây bạch đàn trên cả hai
bên (Trái, phải) bờ đất. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông K cũng chỉ sử dụng đất
để trồng rẫy, cách nay hơn 10 năm mới cho xe ủi thành đất ruộng. Sau khi ủi đất
để trồng lúa, ruộng của ông K thường bị lá, cành cây bạch đàn của ông L rớt
xuống rễ của những cây này cũng phát triển qua ruộng lúa của ông K nên ảnh
hưởng rất lớn đến sản xuất. vậy, nhiều lần ông K đã phải yêu cầu ông L chặt
cành, đốn cây bạch đàn để không ảnh hưởng đến việc ông K trồng lúa; ông L đã
chấp nhận đốn các cây bạch đàn nhưng thời gian dài mới đốn hết.
Từ khoảng tháng 01/2021, mỗi vụ lúa ông L phá bờ ruộng một ít, ông K
biết nhưng không ra ngăn cản ông L đang làm thì cứ để cho làm. Đến hiện tại,
bờ ruộng cũ không còn, ông L đã cắm cọc ranh mới, lấn chiếm phần đất do ông K
sử dụng với diện tích khoảng 20m
2
chiều ngang 0,4m dài 39,1m. Ông K
biết được diện tích đất tranh chấp nêu trên nằm trong thửa đất của ông K do
ông L đã phá bỏ hoàn toàn bờ cũ, trong đó có đất của ông Ki; ngoài ra, không còn
thông tin nào khác xác định đất tranh chấp nằm trong thửa 145 ông K được
cấp Giấy chứng nhận. Việc tranh chấp đã được y ban nhân dân Trung Bình
hòa giải nhưng không thành. Nay, ông Kim K yêu cầu a án giải quyết, buộc
ông Lâm L với bà Thạch Thị S trả lại diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên.
Toàn bộ thửa đất 145 cũng như diện tích đất tranh chấp chỉ ông K cùng
vợ là bà Lâm Thị C trực tiếp trồng lúa; ngoài vợ chồng ông K, không còn ai khác
cùng sử dụng đất hoặc có liên quan đến phần tranh chấp.
Tài liệu, chứng cứ phía nguyên đơn giao nộp là:
Bản fotocoppy Đơn
yêu cầu ngày 29/5/2021; Biên bản hòa giải ngày 01/6/2021 của Tổ hòa giải ấp B;
Đơn yêu cầu điều chỉnh lại ranh đất ruộng ngày 03/6/2021; Bản sao Biên bản hòa
giải ngày 08/7/2021 của Ủy ban nhân dân xã T (Bút lục 01 đến 07); Bản sao Căn
cước công dân, Sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận quyền sdụng thửa đất 145; Đơn
xác nhận nơi tcủa các đương sự chưa được cấp số nhà; Đơn đề nghị không
hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Đơn yêu cầu miễn tiền tạm ứng
án phí, án phí (Bút lục 10 đến 23).
3
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2022 (Bút lục 41), Tờ tường trình
ngày 17/8/2022 (Bút lục 42) cũng như quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 102) và
tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Lâm L trình bày:
Gia đình ông L quyền sử dụng 04 thửa đất tại ấp B, T, huyện T, tỉnh
Sóc Trăng; trong đó, 01 thửa giáp ranh với đất của ông Kim K hướng Bắc,
thửa giáp ranh này của ông L thửa 413, tờ bản đồ số 01 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Lâm L từ năm 1996. Nguồn gốc thửa đất
413, ông L được Nhà nước trang trải lại từ năm 1990 sau khi giải thể Tập đoàn
sản xuất, trước đó đất của cha mẹ ông L đã được nhập vào Tập đoàn. Thời
điểm được trang trải, thửa 413 của ông L đất giáp ranh của ông Kim K đều
đất trồng rẫy; ông L đã trồng 02 hàng cây bạch đàn làm ranh giới giữa hai bên, cả
02 hàng cây này được trồng theo ranh cũ bờ đất thẳng phương theo hướng Tây
sang Đông, chạy dài qua nhiều thửa.
Sau năm 2012, ông K ông L đều bang đất rẫy để làm ruộng trồng lúa;
bên ông K trồng lúa trước ông L khoảng 1 đến 2 năm. Khi bang đất rẫy, ông L đã
chặt bỏ 02 hàng cây bạch đàn, ranh giới đất giữa hai bên chỉ còn bờ đất cao
khoảng 50cm đến 60cm rộng khoảng 80cm. Quá trình hai bên trồng lúa, gia
đình ông K thường lấn ranh bằng việc dùng dao, cuốc sạt bờ từ từ từng chút một;
vậy, khoảng đầu năm 2021, ông L mới dùng cuốc len đào bphía ông L để
ông K phải dừng việc lấn ranh; khi ông L đào bờ, ông K không dám ngăn cản
ông L chỉ đào phía bên ruộng của mình. Hiện nay, ranh giới vẫn bờ đất từ
xưa nhưng nhỏ hơn với mặt bờ rộng khoảng 30cm và cao khoảng 30cm; ngoài bờ
đất này ra, không còn cột mốc hay cây trồng gì khác làm ranh. Ông Lâm L khẳng
định chỉ sử dụng đất thuộc quyền của mình, phần bờ ranh ông L đào thuộc đất
phía ông L ông L không bao giờ ý định lấn chiếm đất của bất cứ ai, chỉ
quản lý và sử dụng đất của mình nên không đồng ý với yêu cầu của ông Kim K.
Việc đào bờ đất do một mình ông L thực hiện, không có ai cùng đào nhưng
sử dụng đất để sản xuất thì ông L cùng vợ Thạch Thị S trực tiếp trồng lúa
đến sát bờ ranh; ngoài vợ chồng ông L, không còn ai khác cùng sdụng đất thửa
413 cũng như phần tranh chấp mà ông K khởi kiện.
- Quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 101) tại phiên tòa thẩm, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lâm Thị C trình bày: Hoàn toàn thống nhất
với toàn bcác ý kiến của ông Kim K, không bổ sung thêm, không yêu cầu
khác.
4
- Quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 101) tại phiên tòa thẩm, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch ThS trình bày: Hoàn toàn thống
nhất với toàn bộ các ý kiến của ông Lâm L, không bổ sung thêm, không yêu
cầu gì khác.
- Tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập được gồm: Biên bản lấy lời khai
của các đương sự (Bút lục 34, 41); Biên bản về việc các đương sự thỏa thuận giá
tài sản tranh chấp (Bút lục 98); Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (Bút lục 85);
hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Kim K (Bút lục 66 đến
71). Các đương sự không ý kiến phản đối về tài liệu, chứng cứ do đương sự
khác giao nộp và do Tòa án thu thập được.
- Tại phiên tòa thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần
Đề nêu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác
quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa những người tham gia tố tụng đã
tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét x
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Kim K, quyết định về nghĩa
vụ chịu án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng.
Ông K yêu cầu ông L với bà S trả lại quyền sử dụng đất được cho bị lấn
chiếm. Quan hệ tranh chấp này được pháp luật điều chỉnh tại Khoản 24 Điều 3,
Khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng quy định tại Khoản 9 Điều 26, điểm a
Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết.
- Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (Bút lục 85), quyền sử dụng
đất tranh chấp xác định được như sau:
Hướng Đông: Giáp phần đất do ông Thạch S đang sdụng, số đo
50cm từ cột cây do ông K cắm trên ruộng a của ông L kéo về ớng Bắc, đến
cột cây cắm trên bờ đất nhỏ.
Hướng Tây: Giáp phần đất do ông Thạch K đang sử dụng, số đo
40cm từ cột cây do ông Kim K cắm trên ruộng lúa của ông L kéo về hướng Bắc,
đến cột cây trên bờ đất nhỏ.
Hướng Nam: Giáp phần đất do ông Lâm L đang sử dụng, s đo
39,1m từ cột cây do ông K cắm hướng Tây kéo vhướng Đông, đến cột cây
hướng này do ông K cắm giáp với phần đất do ông S đang sử dụng.
Hướng Bắc: Giáp bờ đất là lối đi ngăn cách giữa ruộng lúa của ông L với
ruộng lúa của ông K, có số đo là 39,1m theo cột cây đã định vị.
5
Diện tích đất tranh chấp 19,8m
2
thuộc thửa 146, tờ bản đồ số 52; tọa lạc
tại ấp Bưng Lức, Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Lâm L đứng tên (Theo thửa cũ 413, tờ bản
đồ s01). Các cột cây cắm để xác định ranh giới khi thẩm định được định vị
lưu vị tbằng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đo đạc, cập nhật lên Hthống dữ liệu
quản nhà nước về đất đai để sdụng lâu dài, không cần lưu vị trí điểm tọa độ
trên thực địa.
Hiện trạng đất tranh chấp một phần ngang 20cm dài 39,1m thuộc
ruộng lúa của ông L, phần còn lại ngang khoảng 20cm và dài 39,1m chính một
nửa bờ đất hiện tại.
- Căn cứ Biên bản về việc thỏa thuận giá tài sản tranh chấp (Bút lục 98),
thì: Các đương sự thống nhất yêu cầu Tòa án không thành lập Hội đồng định giá
để xác định giá trị tài sản tranh chấp, cùng đnghị áp dụng giá trị quyền sử dụng
đất cao hơn giá theo khung giá đất tại Quy định được ban hành kèm theo Quyết
định số 33/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc
Trăng, làm cơ sở để giải quyết vụ án. Cụ thể: Quyền sử dụng đất tranh chấp được
xác định về loại đất theo thực tế sdụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm
có giá 60.000 đồng/m
2
.
- Căn cứ hồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hông Kim
K, do Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề cung cấp, thì: Ngày 26/11/2014, hộ ông
Kim K được Ủy ban nhân dân huyện Trần Đcấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH02509. Tại trang 3 của Giấy chứng nhận (Bút lục 67) cũng như tại
Trích lục bản đồ địa chính trong hồ (Bút lục 69) đã thể hiện, ông K được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 145 tại ấp B, xã T; thửa đất có cạnh
hướng Nam giáp với thửa đất số 146 (Thửa 413) của hộ ông Lâm L, cạnh
hướng Nam này là một đường thẳng chạy dài theo hướng Đông sang hướng Tây.
- Căn cứ những nội dung các đương sđã thống nhất được với nhau tại
Biên bản hòa giải ngày 12/9/2022 (Bút lục 101), thì: Các đương sự thống nhất về
diện tích, vị trí, đặc điểm, hiện trạng phần đất tranh chấp theo kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ của a án; ranh giới đất giữa hai bên là bờ đất chạy dài
theo hướng Tây sang Đông, bắt đầu từ sát bkênh chạy dọc lộ đal hướng Tây
về hướng Đông, hiện bờ đất đầu hướng Tây còn nguyên vị trí cũ; ông Lâm L
người trực tiếp trồng các cây trên bờ ranh, khai thác sử dụng cây trồng và chặt hết
toàn bhàng cây chai bên bờ ranh đất, gia đình ông K không trồng cây, không
khai thác quản cây trồng trên bờ ranh này; các đương sự đều không tài
liệu, chứng cứ chỉ căn cứ vào trí nhớ để xác định phần đất tranh chấp thuộc
quyền sử dụng của mình.
6
Xét Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thì thấy: Việc xem xét, thẩm định
tai chỗ được thực hiện đúng quy định tại Điều 97 Điều 101 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, các đương scũng hoàn toàn thống nhất với kết quả thẩm định nên
Biên bản này chứng cứ để giải quyết vụ án, gtrị xác định được diện tích,
vị trí, hiện trạng và tình trạng pháp lý của phần đất tranh chấp.
Xét việc thỏa thuận xác định giá tài sản tranh chấp, thì thấy: Các đương sự
thống nhất loại đất tranh chấp đất trồng cây hàng năm khác, phù hợp với thực
tế sử dụng đất; tự thỏa thuận giá 60.000 đồng/m
2
là phù hợp quy định tại Khoản 1
Điều 104 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Quyết định số 33/2019/QĐ-UBND ngày
20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng không trái đạo đức hội.
Hội đồng xét xử căn cứ giá nêu trên làm sở giải quyết vụ án, xác định giá trị
đất tranh chấp (19,8m
2
x 60.000 đồng/m
2
) = 1.188.000 đồng (Một triệu một
trăm tám mươi tám ngàn đồng).
Xét thông tin thu thập được tại các Biên bản lấy lời khai của đương sự,
Biên bản hòa giải cũng như ý kiến thừa nhận của các bên tại phiên tòa, thì thấy:
Lời trình bày của các bên hoàn toàn phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định tại
chỗ; việc xác định bờ đất ranh phù hợp với ranh đất theo đồ tại Giấy
chứng nhận Trích lục bản đồ địa chính trong hồ cấp Giấy chứng nhận. Cho
nên, lời khai của các bên đương sự giá trị chứng cứ quy định tại Khoản 5
Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét những lời trình bày lẽ của các đương sự, thì thấy: Mặc bên
nguyên đơn và phía bđơn đều cho rằng mình đã quản lý, sử dụng n định phần
đất tranh chấp nhưng không đương sự nào giao nộp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh nội dung này.
Từ 04 căn cứ 04 nhận định nêu trên, đối chiếu với quy định tại Điều 92
của Bộ luật Tố tụng dân sự, có cơ sở khách quan để xác định như sau:
Ông Kim K với ông Lâm L đều quyền sdụng đất nông nghiệp giáp
ranh nhau tại ấp B, T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ranh giới giữa hai bên được
ngăn cách bằng bờ đất cũ chạy dài từ giáp kênh dọc lộ đal ở hướng Tây, thẳng về
hướng Đông. Bên ông K nhận chuyển nhượng thửa đất 411 vào khoảng năm
1996, phía ông L thì được Nnước giao đất từ năm 1991. Năm 1996, cả ông K
ông L đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến năm 2014, ông
K đăng được cấp đổi Giấy chứng nhận theo thửa mới 145. So với Giấy
chứng nhận được cấp năm 1996, diện tích thửa đất của ông K sau khi được cấp
đổi Giấy chứng nhận đã tăng 43,1m
2
. Tại bờ đất ranh giới , ông L đã trồng
nhiều cây bạch đàn và một số y khác trên toàn bmặt bờ trực tiếp quản lý,
khai thác cây trồng này; bên ông K không trồng cây, không khai thác cây trồng
nêu trên.
7
Do cây trồng trên bờ thường rụng xuống ruộng lúa của ông K, dễ cây
cũng gây cản trở việc chăm sóc lúa nên ông K đã nhiều lần yêu cầu ông L chặt
cây, đào gốc cây để đảm bảo việc canh tác của ông K; trong thời gian dài, ông L
mới chặt hết cây trồng, đào hết các gốc cây. Sau khi ông L chặt và đào hết gốc
cây, ông K thường lấn ranh bằng hành vi ttừ đào bờ phía ruộng của ông K. Để
hạn chế việc lấn ranh này, từ đầu năm 2021, ông L cũng đào bờ phía ruộng của
mình nhằm làm bờ nhỏ lại, không còn hội cho ông K lấn ranh đất, ông K biết
nhưng không ngăn cản hay phản đối. Tuy nhiên, sau khi ông L đào bờ xong thì
phát sinh tranh chấp, ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L trả lại diện tích
đất được cho là lấn chiếm nêu trên.
Xét yêu cầu của ông Kim K thì thấy:
Một là, tkhi nhận chuyển nhượng thửa đất vào năm 1996 đến nay, gia
đình ông K chưa từng quản lý, sdụng bờ đất ranh giới cũ; ông L là người
quản lý toàn bộ bờ đất này, sử dụng để trồng và khai thác các loại cây trên bờ.
Hai , ông K đã không thực hiện đúng, đầy đủ quyền nghĩa vụ quy
định tại Điều 166, Điều 170 của Luật Đất đai khi cho rằng ông L đào bờ lấn ranh
đất; không trung thực khi đã khai ông L đào hết bờ cũ, cắm cọc ranh mới.
Ba là, so với bờ ranh cũ, bờ đất nhỏ hiện tại còn cách khoảng 50cm về phía
ông L giới hạn cuối ông K đòi cách bờ ranh cũ khoảng gần 1m (Một mét),
toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trọn vẹn trong thửa đất của ông L.
Đối chiếu với quy định tại các điều 99, 100 và 101 của Luật Đất đai thì ông
K không phải đối tượng thđược Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối
với phần đất tranh chấp do đã không thực hiện quyền nghĩa vcủa người sử
dụng đất, xác định được diện tích này nằm trong thửa đất của ông L, ông K chưa
từng sử dụng. Cho n, không sở để Hội đồng xét xchấp nhận yêu cầu
khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của ông K.
[3] Về chi phí tố tụng.
Theo Phiếu thu (Bút lục 79 89), Tòa án đã thu tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ số tiền 4.362.377 đồng và chi phí hết. Yêu cầu của nguyên đơn
không được chấp nhận, ông K phải chịu chi phí này quy định tại Khoản 1 Điều
157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu không được chấp nhận, nguyên đơn
phải chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp 59.400 đồng quy định
tại điểm b Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và Khoản 1
Điều 147 của Bộ luật Ttụng dân sự, thuộc trường hợp như tranh chấp không
giá ngạch. Tuy nhiên, nguyên đơn người cao tuổi, u cầu được miễn tiền
án phí nên căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
nêu trên, miễn nộp tiền án phí cho ông K.
8
[5] Về quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần
Đề căn cứ pháp lý và sở thực tiễn như đã nhận định trên, Hội đồng xét
xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1
Điều 39, Khoản 1 Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 1 Điều 147,
Khoản 1 Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 24 Điều 3, Khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai;
Căn cvào điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 3 Điều 26, điểm b Khoản 2
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kim K đối với bị đơn Lâm
L bà Thạch Thị S, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đặc điểm, diện
tích, vị trí theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ được nêu tại Căn cứ thnhất
trong Mục [2] Phần Nhận định của Tòa án tại Bản án.
2. Ông Kim K phải chịu chi pxem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền
4.362.377 đồng (Bốn triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn ba trăm bảy mươi bảy
đồng). Các chi phí này, ông K đã nộp tạm ứng và thanh toán xong.
3. Miễn nộp số tiền án phí 300.000 đồng cho ông Kim K, ông K được
miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải xử lý.
4. Các đương sự quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử
theo thủ tục phúc thẩm.
Bản ány được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi nh án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Trần Đề;
- Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
- Lưu HSVA, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
CHU ĐỨC CHƯƠNG
9
Tải về
Bản án số 47/2022/DS-ST Bản án số 47/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất