Bản án số 454/2024/DS-PT ngày 15/07/2024 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 454/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 454/2024/DS-PT ngày 15/07/2024 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng hợp tác
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 454/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 209/2024/TLPT-DS ngày 21/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 454/2024/DS-PT
Ngày: 15/7/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Liên Anh
Ông Vũ Toàn Giang
Trần Thị Thu Nam
Bà Nguyễn Thùy Trang, Thư ký
Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nội: Nguyễn Thị
Phương Lan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 209/2024/TLPT-DS
ngày 21/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Do Bản án n sự thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của a
án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 311/2024/QĐ-PT
ngày 26/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 401/2024/QĐPT-HPT ngày
08/7/2024, giữa các đương sự sau:
Nguyên đơn: Ông Ngô Quang Dũng, sinh năm 1964.
Địa chỉ: số 28, ngõ 445/46, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La,
quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Đỗ
Quốc Quyền, Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Phúc Vinh.
Bị đơn: Công ty cổ phần đầu tư KSFINANCE
Địa chỉ: Tầng 7, a nhà Sunshine Centre, số 16, đường Phạm Hùng,
phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Thành Long Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nghị Lực, ông Đặng Thành Vinh,
Cao Thị Ngọc Mai, Nguyễn Kiều Oanh (theo giấy ủy quyền s
45/2023/GUQ-KSFINANCE ngày 07.11.2023 của Công ty cổ phần đầu tư
KSFINANCE)
Do kháng cáo của Công ty cổ phần đầu tư KSFINANCE bị đơn
trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
* Nguyên đơn ông Ngô Quang Dũng trình bày:
2
Ngày 28.02.2022, ông Công ty cổ phần đầu tư KSFinance (sau đây gọi
tắt là KSF) Hợp đồng hợp tác kinh doanh số ITLH00043184 nội dung
như sau:
- Mục đích hợp tác kinh doanh: Bên B (NQuang Dũng) đồng ý góp
vốn Bên A (Công ty cổ phần đầu tư KSFinance) đồng ý nhận quản
phần góp vốn của Bên B để thực hiện hoạt động kinh doanh sản phẩm tại Dự
án theo Giấy chứng nhận đầu số ITLH00043184 nhằm hướng tới phân chia
lợi nhuận, kết quả đạt được theo thỏa thuận tại Hợp đồng này phù hợp với các
quy định của pháp luật liên quan; Bên A cam kết đảm bảo bên B sẽ được
hưởng các quyền lợi đầu tư theo quy định của pháp luật.
- Giá trị khoản đầu tư: 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng).
- Thời hạn hợp tác áp dụng với Khoản đầu tư là 01 năm từ ngày
28.02.2022 đến ngày 28.02.2023.
- Phân chia kết quả kinh doanh: lợi nhuận cố định áp dụng tính trên
khoản đầu 11.0%/năm (trên sở nh 1 năm 365 ngày), tính từ ngày
Bên B chuyển đủ khoản giá trị khoản đầu đến ngày Bên B nhận lại khoản
đầu tư gốc.
- Thời điểm chi trả lợi nhuận cố định: 03 tháng
- Mục tiêu Dự án đầu tư: Dự án Sunshine Capital Tây Thăng Long địa
chỉ tại Hà Nội.
Thực hiện Hợp đồng, ngày 28.02.2023 ông Dũng đã nộp 4.000.000.000
đồng (bốn tỷ đồng) vào tài khoản của KSF tại Ngân hàng TMCP Kiên Long.
Sau đó ông nhận được Giấy chứng nhận đầu tư số ITLH00043184 ngày
28.02.2022 do KSF phát hành.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông đã nhận được 02 lần lợi nhuận cố
định cụ thể:
Lần 1, nhận ngày 30.5.2022, số tiền 104.213.699 đồng; lần 2 nhận
ngày 29.8.2022 số tiền 104.213.699 đồng. Ngoài các lần trên, kể từ ngày
28.11.2022 đến nay ông không nhận được số tiền lợi nhuận cố định theo thỏa
thuận của Hợp đồng nữa. Thời điểm ngày 28.11.2022, ông đã đnghị KSF
thực hiện điều 3.3 Phụ lục 2 của Hợp đồng, chấp nhận trả phí rút một phần
hoặc rút hết vốn, nhưng không được KSF trả lời, ông đến văn phòng công ty để
làm việc nhưng bị bảo vchặn tầng 1 không cho gặp người thẩm quyền
của KSF.
Hết thời hạn hợp tác theo quy định của Hợp đồng, ngày 28.02.2023 ông
yêu cầu công ty hoàn trả lại vốn thông qua ứng dụng KSFInvest (là ứng
dụng điều khoản 5.2,5.5 của Hợp đồng quy định) gọi điện cho nhân
viên vấn (cô Hiền) nhưng không được trả lời cũng không nhận lại được
vốn. Đến ngày 16.8.2023, ông nhận được tin nhắn tự động của KSF về việc gia
hạn và chuyển đổi hợp đồng đặt mua, sở hữu bất động sản thương hiệu
Sunshine, có số điện thoại liên hqua tổng đài 1900633566 nhưng không thể
liên hệ. từ đó đến nay KSF không liên hệ không trả tiền vốn cho ông
theo thỏa thuận của Hợp đồng.
V mục đích sử dụng vốn hợp tác kinh doanh theo Hợp đồng hợp tác
kinh doanh số ITLH 00043184 và Giấy chứng nhận đầu tư số ITLH 00043184:
Tại Điều 1.1 Phần B (các điều kiện chính của hợp đồng) có nội dung: Bên B
3
(Ngô Quang Dũng) đồng ý góp vốn và Bên A (Công ty cổ phần đầu tư
KSFinance) đồng ý nhận và quản lý phần góp vốn của Bên B để thực hiện hoạt
động kinh doanh sản phẩm tại Dự án theo Giấy chứng nhận đầu s
ITLH00043184 nhằm hướng tới phân chia lợi nhuận, kết quả đạt được theo
thỏa thuận tại Hợp đồng này phù hợp với các quy định của pháp luật liên
quan. Tuy nhiên, tại mục 5 Phần A của hợp đồng lại thỏa thuận về Mục tiêu Dự
án đầu Dự án Sunshine Capital Tây Thăng Long. Điều này tiếp tục được
khẳng định tại mục 3 Giấy chứng nhận đầu tư số ITLH00043184 (dự án đầu tư:
ITLH00043184) sau khi KSF nhận vốn góp của ông. Như vậy, KSF trách
nhiệm thực hiện đúng cam kết sử dụng khoản vốn góp hợp tác đầu của
ông để đầu cho Dự án Sunshine Capital Tây Thăng Long. do: các điều
kiện riêng của hợp đồng luôn giá trị cao hơn các điều kiện chung của hợp
đồng . Hơn nữa, giấy chứng nhận đầu tư không thể hiện KSF được sử dụng vốn
của ông vào các mục đích kinh doanh khác.
Quá trình giải quyết vụ án, KSF cung cấp tài liệu chứng cứ về Dự án do
Công ty cổ phần đầu Xuân La với KSF trong đó Hợp đồng dịch vụ
vấn và Môi giới Bất động sản số 2012/HDDV/XUANLA-KSF, nội dung: Công
ty KSF cung cấp dịch vụ vấn, quản bất động sản, dịch vụ truyền thông
maketing, dịch vụ môi giới cho Công ty cổ phần đâu xây dựng Xuân La tại
Dự án xây dựng nhà ở thấp tầng tại ô đất TT6 2 thuộc quy hoạch chi tiết Khu
chức năng đô thị Tây Tựu, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố
Nội (do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Xuân La làm chủ đầu theo
Văn bản số 2224/UBND SXD ngày 05.6.2020 của UBND Thành phố Hà
Nội). Tuy nhiên không căn cứ pháp cũng như căn cứ nội bcủa công ty
Cổ phần đầu tư Xuân La cho thấy Dự án nêu trên Dán Sunshine Capital
Tây Thăng Long. Trường hợp giả định Dự án Sunshine Capital Tây Thăng
Long tên thương mại của Dự án do Công ty cổ phần đầy xây dng Xuân
La làm chủ đầu tư thì:
- Tại Hợp đồng dịch vụ vấn Môi giới bất động sản số
2012/HDDV/XUANLA –KSF, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Xuân La
không cho phép Công ty KSF huy động vốn cho Dự án; KSF không cũng
không quyền/nghĩa vụ/trách nhiệm được/bắt buộc phải góp vốn đầu với
Công ty cổ phần đầu xây dựng Xuân La. Tại Điều 3.c quy định “không
quy định nào trong Hợp đồng này được hiểu bên A ủy quyền cho Bên B để
thu bất kỳ khoản tiền nào của khách hàng”.
- Tại Điều 4.12 của Hợp đồng dịch vụ vấn Môi giới Bất động sản
chỉ quy định cho Bên B (KSF) quyền các hợp đồng, Phụ lục hợp đồng
liên kết/hợp tác/phân phối các văn bản thương thảo, các giao dịch phát sinh với
Đại (là đơn vị khác có chức năng phù hợp tham gia thực hiện một phần/toàn
bộ dịch vụ tại Hợp đồng này) liên quan đến hoạt động truyền thông maketing,
kinh doanh, i giới bất động sản tại các Dự án của Bên A (Công ty cổ phần
đầu tư Xuân La).
Như vậy, không căn cứ đcho rằng KSF đã sử dụng vốn đầu của
ông cho Dự án Sunshine Capital Tây Thăng Long.
Mặt khác, dấu hiệu gian dối của Ban lãnh đạo KSF chiếm dụng vốn,
nay mất khả năng thanh toán, gây thiệt hại 100% giá trị hợp đồng cho nhà đầu
4
tư: bằng việc đưa ra nhu cầu huy động vốn hợp tác kinh doanh cho D án
Sunshine Capital Tây Thăng Long một cách mập mờ, không căn cứ hợp
pháp, không mối liên hệ về đầu vốn hợp pháp, Ban lãnh đạo của KSF đã
cam kết sử dụng vốn đúng mục đích, với mức lợi nhuận cố định 11%/năm, cam
kết ông được linh hoạt rút vốn đầu trước hạn...nhằm thu tiền để sử dụng cho
các mục đích bất hợp pháp không theo thỏa thuận hợp đồng, không thanh toán
lợi nhuận tiền gốc đầu tư theo cam kết. Mặc ông đã liên tục yêu cầu
thanh toán, nhưng KSF không thanh toán lợi nhuận, không thanh toán tiền gốc
khi kết thúc thời hạn hợp đồng, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho ông là 100%
giá trị góp vốn đầu hơn 50% giá trị lợi nhuận cố định, tiếp tục chiếm
dụng vốn thời điểm hiện nay. Đến nay, KSF mất khả năng thanh toán, không lý
giải được tiền góp vốn đầu của ông được sử dụng vào mục đích gì, không
cam kết về thời hạn hoàn trả tiền gốc góp vốn tiền lãi theo cam kết. Ông đề
nghị Tòa án đánh giá hay không hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật
quyết định chuyển vụ án đến cơ quan chức năng xử theo quy định để bảo v
an toàn cho các nhà đầu tư, kịp thời ngăn chặn việc tiếp tục coi thường pháp
luật, lợi dụng lòng tin của các nhà đầu tư để trục lợi đề nghị Tòa án nhanh
chóng đưa vụ án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đối với lời khai của KSF với nội dung: “Khi phát sinh vấn đề trên, KSF
đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với ông Ngô Quang Dũng để tháo gỡ khó khăn.
Đồng thời, KSFinance cũng đã hết sức nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để bảo
đảm quyền lợi của khách hàng” ông Dũng bác bỏ hoàn toàn lời khai này. Trong
thời gian đó, khi ông nhiều khách hàng khác đến trụ sở tại số 16, đường
Phạm Hùng thì Công ty cử người chặn ngay từ cửa tầng 1, gọi điện cho nhân
viên vấn thì được hướng dẫn lòng vòng sang các số điện thoại khác, không
thể gặp trực tiếp được ai. Đến tháng 8 năm 2023 ông nhận được các tin nhắn tự
động từ tổng đài của KSF hướng dẫn về việc chuyển đổi bất động sản, ngoài ra
không gặp bất kỳ ai hướng dẫn tháo gỡ khó khăn như lời khai của bị đơn.
Đối với đề nghị của bị đơn về việc xem xét Tòa án thẩm quyền giải
quyết vụ án, nguyên đơn ý kiến như sau: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại
Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân là đúng thẩm quyền, tại thời điểm nộp đơn
khởi kiện tbị đơn đang trụ sở tại quậnThanh Xuân, Tòa án quận Thanh
Xuân đã Thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí ngày 20.10.2023, ngày
23.10.2023 Tòa án thụ vụ án, ngày 27.10.2023, bị đơn mới thông báo về
việc chuyển trụ sở, thông báo này chỉ gửi cho Tòa án chứ không gửi cho
nguyên đơn nên nguyên đơn không thể biết được. Do vậy ông đề nghị Tòa án
nhân dân quận Thanh Xuân tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp
luật.
Đối với thư bảo lãnh ngày 28.02.2022 của Công ty cổ phần tập đoàn
Sunshine đối với Bên bảo lãnh Công ty cổ phần đầu KSFinance để bảo
lãnh không hủy ngang cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh phát sinh tHợp
đồng hợp tác đầu số ITLH00043184 ngày 28.02.2022, ông Ngô Quang
Dũng (bên nhận bảo lãnh) không u cầu Công ty cphần tập đoàn Sunshine
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5
Ông Ngô Quang Dũng yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân giải
quyết: Yêu cầu Công ty KSF thanh hợp đồng đã giữa hai bên hoàn trả
số tiền lợi nhuận cố định theo thỏa thuận của Hợp đồng, cụ thể:
Số tiền gốc đã đầu tư: 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng).
Số tiền lợi nhuận cố định tính đến ngày 28.2.2023 là: 207.282.192
đồng.
Lãi quá hạn theo quy định của pháp luật đối với số tiền 4.000.000.000
đồng từ 01.3.2023 đến ngày 21.12.2023.
*Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nghị Lực trình
bày:
Trong năm 2022, KSF và ông Ngô Quang Dũng có thỏa thuận ký kết các
Hợp đồng hợp tác kinh doanh với các nội dung cơ bản như sau:
- Mục đích hợp tác kinh doanh: Ông Ngô Quang Dũng đồng ý góp vốn
KSF đồng ý nhận quản phần vốn góp của ông NQuang Dũng để
thực hiện hoạt động kinh doanh tại các dán các mục đích đầu kinh
doanh khác không trái với các quy định của pháp luật, nhằm hướng tới phân
chia lợi nhuận kết quả đạt được theo thỏa thuận tại hợp đồng hợp tác kinh
doanh này. Cụ thể, tại Hợp đồng hợp tác kinh doanh đã ký, ông Ngô Quang
Dũng được hưởng lợi nhuận cố định là 11%/năm tính trên giá trị Khoản đầu tư.
- Thời hạn hợp tác: 01 năm
- Số tiền ông Dũng đã nộp vào KSF: 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng).
Thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh nêu trên, KSF đã nhận các
Khoản đầu tư của ông Ngô Quang Dũng và thực hiện các hoạt động kinh doanh
theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký.
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ Quý IV năm 2022 đến nay, do sự suy thoái
chung của nền kinh tế toàn cầu, thị trường bất động sản trong nước đóng băng,
chính sách siết chặt tín dụng của các Ngân hàng ... đã khiến cho c công ty bất
động sản gặp rất nhiều khó khăn (không chỉ riêng KSF và các Chủ đầu tư dự án
bất động sản KSF quan hệ hợp tác, đầu tư), trực tiếp gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nguồn thu và dòng tiền của KSF.
Do đó, khi đến hạn hoàn trả giá trị Khoản đầu Lợi nhuận cố định
theo các Hợp đồng hợp tác đầu tư, KSF chưa khả năng thanh toán ngay cho
ông Ngô Quang Dũng theo đúng thỏa thuận.
Khi phát sinh vấn đề trên, KSF đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với ông
Ngô Quang Dũng để tháo gỡ khó khăn. Đồng thời, KSFinance cũng đã hết sức
nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để bảo đảm quyền lợi của khách hàng. Cụ thể,
trong thời gian vừa qua, công ty đã đề xuất khách hàng cảm thông xem xét
các phương án giải quyết như sau:
1. Gia hạn thời gian thực hiện Hợp đồng thêm 24 tháng để Công ty
thể thu xếp nguồn tiền hợp lý chi trả, đồng thời Khách hàng sẽ được nhận thêm
một khoản lợi nhuận bổ sung theo thỏa thuận của các bên.
2. Chuyển đổi gtrị khoản tiền đầu sang thành khoản thanh toán các
bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo đúng quy định của
pháp luật và ký kết Hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư, tại các Dự án: Sunshine
Green Iconic, Sunshine Golden River, Sunshine Sky City, Sunshine Diamond
6
River, Sunshine Capital Tây Thăng Long, Sunshine City, Sunshine Garden,
Sunshine Palace…
Tuy nhiên đến nay, Nguyên đơn KSF vẫn chưa đạt được sự đồng
thuận. Đề nghị: Tòa án xem xét, tiếp tục tạo điều kiện cho các bên được thương
lượng, trao đổi vcác phương án giải quyết vụ việc trên tinh thần thiện chí;
chia sẻ hỗ trợ cho KSF thêm thời gian thu hồi các khoản đầu các
nguồn thu khác, để sớm có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với ông
Ngô Quang Dũng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của
Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ngô Quang Dũng đối với Công ty
cổ phần đầu tư KSFinance.
Xác nhận Công ty cổ phần đầu tư KSFinance còn nợ ông Ngô Quang
Dũng theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh số ITLH00043184 ngày 28.02.2022
tổng số tiền nợ gốc, lợi nhuận cố định lãi 4.681.972.602 đồng, trong đó
nợ gốc là 4.000.000.000 đồng, lợi nhuận cố định là 220.602.739 đồng, nợ lãi là
461.469.863 đồng.
Buộc Công ty cổ phần đầu tư KSFinance phải trả cho ông Ngô Quang
Dũng tổng số tiền nợ gốc, lợi nhuận cố định lãi 4.681.972.602 đồng
đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí quyền kháng cáo của các đương
sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án thẩm, bị đơn Công ty cổ
phần đầu tư KSFINANCE, kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm số
32/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành
phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn Công ty cổ phần đầu KSFINANCE đề nghị Hủy bản án
thẩm do vi phạm thẩm quyền xét xử vụ án.
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
vắng mặt tại phiên toà.
HĐXX công bố lời khai của nguyên đơn.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân
Thành phố Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 1 Điều
308 Bluật ttụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 32/2024/DS-
ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về hình thức: Đơn kháng o của bị đơn Công ty cổ phần đầu tư
KSFINANCE nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng o, về hình thức
hợp lệ.
2. Về tố tụng:
7
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa
nhân doanh nghiệp đăng kinh doanh, tranh chấp theo quy định tại
Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo Khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng
hợp tác kinh doanh số ITLH00043184 ngày 28.02.2022 thì khi phát sinh tranh
chấp, hai bên có quyền đưa vụ việc ra Tòa án nơi bên A đặt trụ sở chính để giải
quyết. Tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn khởi kiện thì bị đơn đang trụ sở
tại quận Thanh Xuân, Tòa án quận Thanh Xuân đã Thông báo về việc nộp
tiền tạm ứng án phí ngày 20.10.2023, ngày 23.10.2023 (cũng ngày nguyên
đơn chuyển trụ sở) Tòa án thụ vụ án, ngày 27.10.2023, bị đơn mới thông
báo về việc chuyển trụ sở, thông báo này chỉ gửi cho Tòa án sau khi Tòa án đã
thụ lý vụ án và không gửi cho nguyên đơn nên nguyên đơn không thể biết được
bị đơn đã chuyển trụ sở.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 39 BLTTD: Trường hợp vụ án dân sự
đã được Toà án thụ đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này
về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ thì phải được Toà án đó tiếp tục giải
quyết mặc trong quá trình giải quyết vụ án sự thay đổi nơi trú, trụ sở
hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự. Do đó Tòa án nhân dân quận Thanh
Xuân giải quyết vụ kiện đúng quy định. Không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn về nội dung này.
3. Về nội dung:
Ngày 28.02.2022, giữa ông Ngô Quang Dũng KSF Hợp đồng hợp
tác kinh doanh số ITLH00043184 ngày 28.02.2022, mục đích hợp tác kinh
doanh là ông Ngô Quang Dũng đồng ý góp vốn Công ty cổ phần đầu
KSFinance đồng ý nhận quản phần góp vốn để thực hiện hoạt động kinh
doanh sản phẩm tại Dự án các mục đích đầu kinh doanh khác không trái
với quy định của pháp luật nhằm hướng tới phân chia lợi nhuận, kết quả đạt
được theo thỏa thuận tại Hợp đồng này phù hợp với các quy định của pháp luật
có liên quan.
Thực hiện Hợp đồng với KSF, ngày 28.02.2022, ông Dũng đã nộp
4.000.000.000 đồng vào tài khoản số 95119899 của KSF tại Ngân ng Kiên
Long (theo Giấy nộp tiền ngày 28.02.2022) và được KSF cấp giấy chứng nhận
đầu số ITLH00043184 ngày 28.02.2022. Cùng ngày, Công ty cổ phần tập
đoàn Sunrise phát hành tbảo lãnh để bảo lãnh không hủy ngang cho nghĩa
vụ của Bên được bảo lãnh (Công ty cổ phần đầu KSFinance) phát sinh t
Hợp đồng hợp tác.
Quá trình thực hiện hợp đồng, KSF đã thực hiện việc trả lợi nhuận cố
định cho ông Dũng được 02 lần vào ngày 30.5.2022 và ngày 29.8.2022, tổng s
tiền đã trả là 208.427.398 đồng (đã trừ 5% thuế thu nhập). Từ sau ngày
29.8.2022, KSF không thực hiện việc chi trả lợi nhuận cđịnh cho ông Dũng
nữa. Ngày 28.11.2022, ông ng đến KSF để yêu cầu thực hiện việc rút một
phần hoặc rút hết vốn theo quy định của hợp đồng nhưng không được KSF
chấp nhận. Hết thời hạn thực hiện hợp đồng, ông Dũng yêu cầu KSF thanh
hợp đồng nhưng KSF không thanh toán cả gốc lợi nhuận cố định theo đúng
cam kết của hợp đồng. Hai bên cũng không gia hạn hợp đồng hoặc các phụ
lục khác về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc chuyển đổi hình thức đầu tư.
8
Tại các buổi hòa giải, bị đơn KSF đưa ra các phương án giải quyết như gia hạn
thực hiện hợp đồng thêm 24 tháng hoặc chuyển đổi giá trị khoản đầu sang
thành khoản thanh toán các bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh
doanh nhưng nguyên đơn không đồng ý. Theo hợp đồng thỏa thuận ngày hết
hạn ngày 28.02.2023. Như vậy đủ sở xác định Hợp đồng hợp tác kinh
doanh số ITLH00043184 ngày 28.02.2022 giữa ông Ngô Quang Dũng và Công
ty cổ phần đầu KSFinance đã hết thời hạn chấm dứt hiệu lực từ ngày
01.3.2023. Tại phiên tòa bị đơn cũng đồng ý thanh toán cho ông Dũng toàn bộ
số tiền gốc ban đầu là: 4.000.000.000 đồng. Theo điểm 3.1 Điều 3 của Hợp
đồng hợp tác kinh doanh sITLH00043184 ngày 28.02.2022 quy định của
pháp luật buộc KSF phải thanh toán số tiền gốc 4.000.000.000 đồng cho ông
Dũng có căn cứ. Do vậy, chấp nhận yêu cầu của ông Dũng buộc KSF phải
trả cho ông Dũng số tiền gốc là: 4.000.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu buộc bị đơn thanh toán tiền lợi nhuận cố định từ ngày
29.8.2022 đến ngày 28.02.2023, lãi suất 11%/năm 220.602.739 đồng. Nhận
thấy:
Tại mục 3 phần A Thông tin chung của Hợp đồng quy định: “Phân
chia kết quả kinh doanh: lợi nhuận cố định áp dụng và tính trên khoản đầu tư là
11.0%/năm (trên cơ sở một năm bằng 365 ngày), tính từ ngày bên B chuyển đủ
giá trị khoản đầu tư đến ngày bên B nhận lại khoản đầu tư gốc (LNCĐ).
Thỏa thuận về i 11%/năm phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật
dân sự do vậy là hợp pháp, được chấp nhận.
Tại điểm 3.1 hợp đồng quy định quyền của bên B: được hoàn lại giá
trị của khoản đầu lợi nhuận cố định khi hết thời hạn hoặc khi yêu cầu
của bên B”.
Như vậy, theo thỏa thuận của hợp đồng, lợi nhuận cố định sẽ được tính
từ ngày ông Dũng nộp tiền vào KSF (ngày 28.02.2022) cho đến ngày hợp đồng
hết hạn. Như đã phân tích, Hợp đồng hợp tác kinh doanh số ITLH00043184
ngày 28.02.2022 đã hết thời hạn từ ngày 01.3.2023. KSF đã thanh toán lợi
nhuận cố định cho ông Dũng được 02 kỳ (kỳ 1 ngày 30.5.2022 kỳ 2 ngày
29.8.2022), còn 02 kỳ chưa thanh toán (kỳ 3 ngày 28.11.2022 và lợi nhuận cuối
kỳ). Tại phiên tòa thẩm, bị đơn cũng đồng ý nhất trí thanh toán cho nguyên
đơn số tiền lợi nhuận cố định của 02 kỳ còn thiếu là 220.602.739 đồng. Do vậy,
bản án thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số
tiền lợi nhuận cố định của 02 kỳ còn thiếu 220.602.739 đồng đúng quy
định.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán stiền lãi chậm tr
trên số tiền nợ gốc 4.000.000.000 đồng tính từ ngày 01.3.2023 đến ngày
25.4.2024, lãi suất là 10%/năm, nhận thấy:
Theo hợp đồng, KSF được sử dụng phần vốn góp của ông Ngô Quang
Dũng từ ngày 28.02.2022 đến ngày 28.02.2023, hết thời hạn trên, do KSF
không thanh toán gốc nên phải chịu i trên ngốc qhạn theo quy định tại
Điều 357 và 468 Bluật dân sự. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn phù hợp
nên chấp nhận, buộc KSF phải thanh toán cho ông Ngô Quang Dũng tiền lãi
trên nợ gốc trên số tiền 4.000.000.000 đồng, lãi suất 10%, thời gian từ ngày
01.3.2023 đến ngày 25.4.2024 tương đương 421 ngày, số tiền 461.369.863
9
đồng. Tại phiên tòa thẩm, bị đơn cũng nhất trí thanh toán cho nguyên đơn
tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 25/4/2024 461.369.863 đồng. vậy, bản
án thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán cho
nguyên đơn tổng số tiền lãi là 461.369.863 đồng là đúng quy định.
Như vậy, tổng số tiền KSF phải thanh toán cho ông Ngô Quang Dũng là:
4.681.972.602 đồng.
Đối với thư bảo lãnh ngày 28.02.2022 của Công ty cổ phần tập đoàn
Sunshine đối với Bên bảo lãnh Công ty cổ phần đầu KSFinance để bảo
lãnh không hủy ngang cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh phát sinh tHợp
đồng hợp tác đầu tư số ITLH00043184 ngày 28.02.2022, do ông Ngô Quang
Dũng (bên nhận bảo lãnh) không yêu cầu Công ty cphần tập đoàn Sunshine
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nên Tòa án không xem xét giải quyết. Giành quyền
khởi kiện giải quyết về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho các
đương sự bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận,
bị đơn Công ty cphần đầu KSFinance phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
theo quy định.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ngô Quang Dũng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Công ty cổ
phần đầu tư KSFinance phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
các lẽ trên, áp dụng Khoản 1 Điu 308 Bluật t tụng dân sự tuyên
Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân
quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 357, 385, 422, 429, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11.01.2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ
phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quang Dũng đối với Công
ty cổ phần đầu tư KSFinance.
Xác nhận Công ty cổ phần đầu KSFinance còn nợ ông Ngô Quang
Dũng theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh số ITLH00043184 ngày 28.02.2022
tổng số tiền nợ gốc, lợi nhuận cố định lãi 4.681.972.602 đồng, trong đó
nợ gốc là 4.000.000.000 đồng, lợi nhuận cố định là 220.602.739 đồng, nợ lãi là
461.469.863 đồng (tạm tính đến ngày 25/4/2024).
Buộc Công ty cổ phần đầu tư KSFinance phải trả cho ông Ngô Quang
Dũng tổng số tiền nợ gốc, lợi nhuận cố định lãi 4.681.972.602 đồng
đồng.
10
2. Giành quyền khởi kiện giải quyết về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh theo Thư bảo lãnh ngày 28.02.2022 của Công ty cổ phần tập đoàn
Sunshine cho các đương sự bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
3.V án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: ng ty cphần đầu KSFinance phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ vào số tiền dự phí kháng cáo đã
nộp tại Biên lai thu số 0036117 ngày 16/5/2024 của Chi cục Thi hành án n
sự quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty cổ phần đầu tư KSFinance phải chịu 112.670.844 đồng án phí
dân sự sơ thẩm (chưa nộp).
Hoàn trả ông Ngô Quang Dũng số tiền 56.000.000 đồng đã nộp tại Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012536 ngày 23/10/2023 tại Chi cục Thi hành
án dân sự quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể
từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hà Nội;
- TAND quận Thanh Xuân
- Chi cục thi hành án dân sự quận
Thanh Xuân;
- Các đương sự;
- Lưu văn phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Liên Anh
Tải về
Bản án số 454/2024/DS-PT Bản án số 454/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 454/2024/DS-PT Bản án số 454/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất