Bản án số 45/2026/HS-ST ngày 28/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 45/2026/HS-ST ngày 28/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 45/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Lý Hùng T phạm tội
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 45/2026/HS-ST Bản án số 45/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 45/2026/HS-ST Bản án số 45/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Duy Quốc, ông Bá Đình Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
13-Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng tham gia
phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm
Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2026/TLST-HS, ngày 15 tháng 5
năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 29
tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà số 17/2026/HSST-QĐ ngày 13
tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Hùng T (Tên gọi khác: P), sinh ngày 01/3/1982 tại tỉnh Lâm
Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã L, tỉnh Lâm Đồng; nghề
nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Chăm; giới tính: nam; tôn giáo:
Bà La M; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý N và bà Kinh Thị Ngọc H; vợ: Bích
Bá Khánh T1 (đã ly hôn); con: có 02 người con lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ
nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Hồ Hữu T2 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Hồ Hữu Q, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Hồ Hữu T3, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Hẻm T, thôn X, xã B, tỉnh Lâm Đồng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––
Bản án số: 45/2026/HS-ST
Ngày: 28-7-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Đ
Đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Thanh D, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố D, phường L, tỉnh Lâm Đồng
- Người làm chứng: Anh Thông Minh V, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Lý Hùng T (sinh năm 1982; thường trú: thôn L, xã
L, tỉnh Lâm Đồng) là tài xế chạy xe bồn chở bê tông cho công ty TNHH Đ có
địa chỉ tại xã P, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng 07 giờ ngày 23/9/2025, sau khi trộn
bê tông xong và đổ vào xe bồn biển số 86C-160.46 thì công ty giao cho T điều
khiển xe bồn biển số 86C-160.46 chở bê tông đến đổ cho nhà hàng T5 ở xã L,
tỉnh Lâm Đồng. Khi đi trên xe lúc này còn có anh Thông Minh V (sinh năm
1986; thường trú: thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng) đi theo xe để hỗ trợ, hướng dẫn
cho T lùi xe vào công trình. Khi T chạy xe tới nhà hàng tiệc cưới Bon Bon ở xã
L để đổ bê tông thì chủ nhà hàng nói với T chạy xe bồn đi đổ bê tông tại nhà
hàng T5 ở thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng nên T gọi điện báo cho quản lý công
ty thì được công ty đồng ý. Toán chạy xe bồn biển số 86C-160.46 theo đường
Q hướng từ xã L đi đến xã B, tỉnh Lâm Đồng vào khoảng 09 giờ 20 phút cùng
ngày thì tới nhà hàng T5 tại Km 1638 + 250m Quốc lộ A. Toán chạy xe sát vào
lề đường bên phải dừng lại và nói anh V xuống xe đi ra đứng ở phía sau đuôi
xe để chỉ dẫn cho T lùi đuôi xe 86C-160.46 vào đường hẻm ở hông bên trái của
nhà hàng T5 để đổ bê tông ở phía sau nhà hàng theo yêu cầu của chủ nhà hàng.
Anh V xuống xe đi ra đứng ở phía sau bên trái đuôi xe 86C – 160.46 để ra hiệu
và hướng dẫn cho T lùi xe vào đường hẻm bên hông nhà hàng. Lúc này, T không
bật đèn cảnh báo nguy hiểm trên xe, không đặt biển cảnh báo nguy hiểm và
không có ai đứng trên đường Q để cảnh báo cho các phương tiện lưu thông cùng
chiều nhưng T vẫn đánh lái xe qua trái chạy ra sát dải phân cách để lấy đầu xe
lùi vào đường hẻm. Lúc này có khoảng 07 chiếc xe mô tô lưu thông theo hướng
từ xã B đi xã P thấy xe của T chắn ngang đường Q (đầu xe hướng về dải phân
cách) và đang lùi xe vào lề thì họ dừng xe lại cách xe ô tô 86C-160.46 khoảng
hơn 05m. Toán tiếp tục lùi để xe vào đường hẻm bên hông của nhà hàng T5.
Nhưng, do bị vướng cây me tây ở phía đầu hẻm nên đuôi xe 86C-160.46 không
thể lùi hết vào đường hẻm được nên anh V lúc này đứng ở phía sau đuôi xe trên
đường hẻm vẫy tay ra hiệu cho T dừng xe lại. Toán tiếp tục điều khiển xe tiến
về phía dải phân cách cố định ở giữa đường và chắn ngang phần đường bên phải
theo hướng xã B đi xã P để lùi xe vào đường hẻm. Lúc này do T thiếu chú ý
3
quan sát chiều lưu thông từ xã B đi xã P nên không nhìn thấy Hồ Hữu T2 (sinh
năm 1996; thường trú: thôn X, xã B, tỉnh Lâm Đồng) đang điều khiển xe mô tô
biển số 86B2 – 668.19 trên làn đường dành cho xe ô tô chạy tới, T vẫn đang
điều khiển xe 86C-160.46 tiến về sát dải phân cách cố định và đầu xe 86C-
160.46 còn cách dải phân cách cố định khoảng 02m thì T mới quan sát thấy T2
cách khoảng 20 mét và đang đạp thắng để dừng xe của T2 lại (theo lời khai của
T). Tuy nhiên, do T2 chạy xe với tốc độ cao (khoảng 80 km/h theo lời khai của
T) và khoảng cách giữa xe của T2 và xe 86C-160.46 đã quá gần nên xe của T2
không dừng lại ngay mà tiếp tục trượt trên đường đến tông thẳng vào góc bên
trái của cản trước đầu xe (bên tài chính) 86C-160.46. Sau va chạm T2 đưa đi
cấp cứu tại Bệnh viện Đ1. Do T2 bị đa chấn thương nặng nên chuyển đến Bệnh
viện Đ1 để cấp cứu. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì T2 tử vong khi
đang được cấp cứu tại Bệnh viện nên được người nhà đưa về nhà để mai táng.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã thành lập đồng khám
nghiệm tử thi xác định nguyên nhân chết của anh Hồ Hữu T2 tuy nhiên gia đình
anh Hồ Hữu T2 đã từ chối cho đồng tiến hành giải phẫu tử thi để xác định
nguyên nhân chết của Hồ Hữu T2.
Ngày 23/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định tử thi
xác định nguyên nhân chết của Hồ Hữu T2. Tại Bản Kết luận Giám định tử thi
số: 155/KLGĐTT-PC09 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Kỹ thuật hình sự Công
an tỉnh L kết luận: Xây sát da nhiều vị trí trên cơ thể, gãy cung bên xương sườn
số 8 đến 10 ngực phải, gãy kín 1/3 giữa xương đùi phải, gãy kín 1/3 giữa hai
xương cẳng chân phải. Nguyên nhân chết: không đủ cơ sở kết luận.
Ngày 04/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định tử thi
xác định nguyên nhân chết của Hồ Hữu T2 qua hồ sơ bệnh án. Tại Bản Kết luận
Giám định tử thi qua hồ sơ số 09B/KLTTHS-PYLĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025
của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận:
* Các kết quả chính: Sốc đa chấn thương/ chấn thương bụng kín, chấn
thương đầu, chấn thương ngực, chấn thương khung chậu, chấn thương đùi phải,
chấn thương gối phải, chấn thương cẳng chân phải. Hồ Hữu T2 tử vong ngày
23/9/2025 tại Bệnh viện Đ1.
* Kết luận: Do không mổ tử thi và làm các xét nghiệm bổ sung nên không
có đủ cơ sở khoa học kết luận chính xác nguyên nhân tử vong của nạn nhân.
Nhưng căn cứ vào hồ sơ, tài liệu do Cơ quan trưng cầu cung cấp có thể nhận
định: nạn nhân Hồ Hữu T2 tử vong do Sốc đa chấn thương.
* Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 23/9/2025 xác định:
4
- Tình trạng tử thi: Tử thi ở giai đoạn cứng xác, hoen tử thi xuất hiện mặt
sau cơ thể chưa cố định. Hai mắt nhắm, mắt phải có dấu hiệu đeo kính đen,
đồng tử hai bên dãn tối đa, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, miệng khô. Miệng khép lưỡi
nằm trong cung răng. Bụng chướng.
- Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
+ Sưng nề ấn lõm vùng chẩm phải, KT (6 x 5cm; Xây sát da đuôi mắt phải,
KT (4 x 3cm; Xây sát da không liên tục vùng cổ, KT (7 x 2cm; Mảng xây sát
da không liên tục từ mũi ức đến hạ sườn phải, KT (20 x 9cm; Xây sát da vùng
hố tay phải, KT (11 x 5cm; Xây sát da rải rác mu bàn tay phải, KT (8 x 7cm;
Gãy cung bên xương sườn số 8 đến 10 ngực phải; Xây sát da rải rác mặt sau
cẳng tay trái, KT (25 x 6cm; Đùi phải biến dạng, gãy kín 1/3 giữa xương đùi
phải; Xây sát da trước dưới đùi phải đến trước trên cẳng chân phải, KT (25 x
7cm; Gãy kín 1/3 giữa 2 xương cẳng chân phảiNgoài ra không phát hiện dấu
vết tổn thương nào khác.
- Mổ tử thi: Gia đình từ chối giải phẫu tử thi.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/9/2025 xác định:
- Mô tả hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn: Hiện trường vụtai nạn giao
thông là đoạn đường thẳng được trải nhựa bê tông. Mặt đường rộng 18m được
phân chia 02 chiều đường cho phương tiện lưu thông bằng giải phân cách cố
định đặt ở giữa đường. Mỗi chiều đường rộng 9m được phân chia thành ba làn
đường để cho xe chạy. Làn đường ở trong cùng sát giải phân cách cố định rộng
3,50m, làn đường ở giữa rộng 3,50m và làn đường trong cùng bên phải rộng
2,0m. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông nằm trong khu vực có biển báo
hiệu khu vực đông dân cư.
- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương
tiện, tang vật, dấu vết.
+ (1) phanh (KT: 2cm, có chiều dài để lại trên mặt đường: 26m30).
+ (2) ô tô biển số86B2-668.19.
+ (3) mảnh vỡ (KT: 3 x 3cm).
+ (4) ô tô tải biển số 86C-160.46.
- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm
chuẩn.
+ Tổ khám nghiệm chọn điểm mốc vụ tai nạn giao thông là bảng báo H2
được gắn cố định ở giải phân cách cố định ở giữa đường. Đầu vết phanh kéo 01
đường thẳng theo hướng Hà Nội đi phố H đến bảng báo H2 – Quốc lộ A là
5
25m30.
+ Tổ khám nghiệm chọn mép đường bên phải theo hướng phố H đi Hà
Nội làm mép đường chuẩn để khám nghiệm vụ tai nạn giao thông.
- Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.
+ (1) phanh có KT: 2cm để lại trên mặt đường có chiều dài: 26m30. Đầu
vết phanh hướng về phố H, cuối vết phanh hướng về Hà Nội. Cuối vết phanh
đo đến tâm trục bánh sau xe mô tô (2): 5m20.
+ (2) mô tô biển số: 86B2-668.19 sau khi xảy ra vụ tai nạn vẫn còn đứng
thẳng. Đầu xe mô tô quay về hướng Hà Nội, đuôi xe mô tô quay về hướng phố
H. T4 trục bánh trước đo vào mép đường chuẩn: 7m40, tân trục bánh sau đo
vào mép đường chuẩn: 7m và đo đến tâm vùng mảnh vỡ (3): 1m90.
+ (3) mảnh vỡ có KT3 x 3m. T4 vùng mảnh vỡ đo vào mép đường chuẩn
8m40 và đo đến tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô tải (4): 2m20.
+ (4) ô tô tải biển số: 86C-160.46 sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông đầu
xe quay ra hướng giải phân cách cố định ở giữa đường, đầu xe quay vào hướng
mép đường chuẩn vụ tai nạn giao thông, tâm trục bánh trước bên trái đo vào
mép đường chuẩn: 6m20. T4 trục giữa bên trái đo vào mép đường chuẩn: 3m50;
tâm trục phía sau bên trái đo vào mép đường chuẩn: 3m.
* Tại biên bản khám phương tiện là xe mô tô biển số 86B2-668.19 ngày
01/10/2025 xác định:
- Phần mặt nạ, cụm đèn chiếu sáng, đèn xi nhan trái – phải trước bị bể, vỡ
gãy rời hoàn toàn rơi ra khỏi vị trí gắn trên xe. Lực tác động hướng từ trước ra
sau; trước bên trái bị gãy thanh kim loại; Rè chắm bùn trước bị gãy, khuyết
nhựa kích thước (20 x 15cm; Mặt trước tay phanh bên phải dính nhựa composit
màu trắng, kích thước (2 x 3cm; Vành bánh trước có vết chà khuyết kim loại
kích thước (3,5 x 2cm; Gãy tay côn bên trái; Đầu trước cần số bị cong lệch theo
hướng từ trước ra sau; Bắt vít tay cầm lái bên trái có vết chà khuyết kim loại
kích thước (1 x 0,5cm.
* Tại biên bản khám phương tiện là xe ô tô biển số 86C-160.46 ngày
01/10/2025 xác định:
- Gãy, bể vỡ rời khỏi vị trí gắn vỏ nhựa composit màu trắng cản trước bên
trái; Gãy, rời khỏi vị trí gắn bậc lên xuống ca bin trước bên trái kích thước (50
x 30cm. T4 cao cách đất 87cm; Cong kim loại góc cản trước bên trái kích thước
(33 x 9cm. T4 cách đất 90cm; 02 vết trượt xước loại mặt ngoài bậc gác chân
bên trái. Khoảng cách vết (1) đến vết (2) là 20cm. Chiều cao cách đất 64cm;
6
Vùng bể vỡ góc bên trái trước đầu xe kích thước (65 x 60cm.
* Ngày 04/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định dấu
vết cơ học. Tại bản Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 03/10/2025 của
Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
Thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, tại Km 1638 + 250 Quốc lộ A thuộc
thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng:
- Xe mô tô biển số 86B2-668.19 có các dấu vết va chạm: Vỡ nhựa rơi khỏi
xe yếm chắn gió trước, cụm đèn chiếu sáng trước, đèn tín hiệu trước hai bên,
trượt xước cong kim loại cổ lái trước bên trái, gãy kim loại tay côn bên trái,
trượt xước cong kim loại giảm xóc trước hai bên, chiều hướng từ trước ra sau
phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe ô tô tải biển số 86C-160.46: Gãy kim
loại màu trắng bậc lên xuống ca bin bên trái, rách nhựa composit màu trắng
chắn bùn trước bên trái, trượt xước cong kim loại góc cản trước bên trái, trượt
xước kim loại mặt ngoài tấm đỡ cố định bậc lên xuống ca bin bên trái, chiều
hướng từ trái qua phải;
- Xe mô tô biển số 86B2-668.19 có chiều hướng va chạm từ trước ra sau;
xe ô tô tải biển số 86C-160.46 có chiều hướng va chạm từ trái qua phải.
- Xe mô tô biển số 86B2-668.19 va chạm với xe ô tô tải biển số 86C-160.46
tại làn đường trong cùng dải phân cách cố định, thuộc phần đường bên phải theo
hướng từ phố H đi thành phố Hà Nội.
- Xe ô tô tải biển số 86C-160.46 di chuyển trên đường Q theo hướng từ
phố H đi thành phố Hà Nội; Xe ô tô tải biển số 86C-160.46 di chuyển ngang
trên đường Q có đầu xe quay về hướng dải phân cách cố định, đuôi xe quay về
hướng lề đường phải (tính theo hướng từ phố H đi thành phố Hà Nội), phía
trước xe mô tô biển số 86B2-668.19.
* Ngày 29/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định an
toàn kỹ thuật xe ô tô tải biển số 86C-160.46 và xe mô tô biển số 86B2-668.19.
Tại bản Kết luận giám định số 857/KL-KTHS ngày 07/10/2025 của Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh L kết luận:
- Tại thời điểm giám định xe mô tô biển số 86B2-668.19:
+ Phát hiện hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bên phải và
bên trái vỡ, đứt dây điện. Đèn tín hiệu phía sau bên phải và bên trái không phát
hiện hư hỏng.
Dấu vết hư hỏng trên do xe va chạm với vật cản trong qúa trình xảy ra tai
nạn giao thông.
7
+ Phát hiện hư hỏng hệ thống phanh bánh trước: Tay phanh cong, mất hiệu
lực phanh.
Dấu vết hư hỏng trên các hệ thống phanh do xe va chạm với vật cản trong
quá trình xảy ra tai nạn giao thông.
Hệ thống phanh bánh sau không phát hiện hư hỏng, còn hiệu lực.
+ Phát hiện hư hỏng hệ thống lái bị đẩy lệch, mất hiệu lực lái.
Dấu vết hư hỏng trên các hệ thống lái do xe va chạm với vật cản trong quá
trình xảy ra tai nạn giao thông.
- Tại thời điểm giám định xe ô tô tải biển số 86C-160.46:
+ Hệ thống lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng.
Hệ thống lái hoạt động bình thường, đảm bảo chuyển hướng theo ý muốn
của người điều khiển.
+ Hệ thống phanhchính thuộc loại phanh khí ném có trợ lực lắp đặt đầy
đủ, không phát hiện hư hỏng.
Hệ thống phanh tay (phanh đỗ) có các cụm chi tiết lắp đặt đầy đủ, không
phát hiện hư hỏng. Hiện tại, hệ thống phanh chính và phanh đỗ của xe ô tô tải
biển số 86C-160.46 hoạt động bình thường.
+ Các đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, đồng hồ báo hiệu, còi hoạt động bình
thường.
+ Các hệ thống: động cơ, treo, ly hợp, hộp số, truyền lực các đăng, vi sai,
bán trục, bàn đạp ga, cần số được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, hoạt
động bình thường.
* Tại biên bản xác định hiện trường ngày 07/01/2026 xác định:
Chọn điểm mốc là bảng Km H2/1638 được gắn cố định ở giải phân cách
cố định giữa đường.
Chọn mép đường bên phải theo hướng phố H đi thành phố Hà Nội làm
mép đường chuẩn.
Đặt vị trí số (1) là vị trí va chạm của xe ô tô biển số 86C-160.46 và xe mô
tô biển số 86B2-668.19 theo xác định của ông Lý Hùng T.
Đặt vị trí số (2) là vị trí ông Thông M1 V đứng để hướng dẫn ông Lý Hùng
T lùi xe theo xác định của ông Lý Hùng T.
Đặt vị trí số (3) là vị trí ông Lý Hùng T bắt đầu quan sát thấy ông Hồ Hữu
T2 đạp thắng để dừng xe lại theo xác định của ông Lý Hùng T.
8
Vị trí số (1) các dải phân cách cố định là 1,60m và cách lề đường chuẩn
bên phải là 8,20m.
Vị trí số (2) cách lề đường chuẩn bên phải là 1,70m. Vị trí số (1) cách vị
trí số (2) là 11,40m.
Vị trí số (3) cách dải phân cách cố định là 2,55m và cách lề đường chuẩn
bên phải là 7,20m. Vị trí số (1) cách vị trí số (3) là 32,70m.
Vị trí số (1) đo vuông góc tới biển Km H2/1638 là 44,90m.
Các vị trí số (1) và số (3) do ông Lý Hùng T xác định tại biên bản xác định
hiện trường ngày 07/01/2026 là tương đồng với các vị trí đã được xác định trong
biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 23/9/2025 của Cảnh sát giao thông
Công an tỉnh L.
* Ngày 29/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định Giấy
phép lái xe của Lý Hùng T. Tại bản Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày
03/10/2025 của Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Giấy phép lái xe ô
tô hạng C số: 600128001729 của Lý Hùng T là thật.
* Ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, đã tiến hành đo nồng cồn và kiểm tra ma
túy đối với Lý Hùng T. Kết quả tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông T
không vi phạm về nồng độ cồn và ma túy.
* Tại hồ sơ bệnh án của Hồ Hữu T2 của Bệnh viện Đ1 mà Cơ quan điều
tra thu thập được xác định nồng độ cồn trong máu của Hồ Hữu T2 tại thời điểm
xảy ra tai nạn là 21.09 mg/dl. (Bút lục số: 48-104).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Sau khi tiến hành
khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra Công an tỉnh L đã tạm giữ xe ô tô
tải biển số 86C-160.46 và xe mô tô biển số 86B2-668.19 cùng giấy tờ xe có liên
quan và tạm giữ giấy phép lái xe ô tô của Lý Hùng T.
Sau khi tiến hành khám phương tiện, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô tải
biển số 86C-160.46 cùng giấy tờ xe có liên quan cho chủ sở hữu là ông Võ
Thành D1, sinh năm 1991, trú tại: C T, Phường L, tỉnh Lâm Đồng và trả lại xe
mô tô biển số 86B2-668.19 cho Đặng Tuấn L, sinh năm 2001, trú tại thôn L, xã
L, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu theo quy định. Riêng Giấy phép lái xe ô tô
hạng C số: 600128001729 của Lý Hùng T và 01 USB ghi hình diễn biến vụ tai
nạn giao thông được chuyển kèm hồ sơ vụ án.
Về phần bồi thường dân sự: Sau tai nạn, Lý Hùng T và Công ty TNHH Đ
đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Hồ Hữu T2 với tổng
số tiền là 100.000.000 đồng. Gia đình nạn nhân Hồ Hữu T2 đã làm đơn bãi nại
9
và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Lý Hùng T nên không
xem xét, giải quyết phần bồi thường dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV13 ngày 14/5/2026, Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực 13 - Lâm Đồng đã truy tố Lý Hùng T, về tội: Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo
trạng Viện kiểm sát truy tố; đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hiện bị cáo đã bồi thường dân sự cho gia
đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại
không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và
đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Điểm b, điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý
Hùng T với mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời
gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về
tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị
hại số tiền 100.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi
thường thêm nên không xem xét.Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng C số:
600128001729 của bị cáo Lý Hùng T đề nghị giao trả lại cho bị cáo khi án có hiệu
lực pháp luật. Bị cáo Lý Hùng T không trình bày lời bào chữa, bị cáo nhất trí về
lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng
ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lý Hùng T: Đề nghị đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có thời gian chăm sóc gia đình và sửa chữa sai
lầm. Bị cáo cảm thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin
lỗi gia đình nạn nhân trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại
diện của bị hại, bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
10
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt. Bị cáo, bị đơn dân sự, đại
diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Xét thấy quá trình
điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành lấy lời khai của
đại diện hợp pháp của bị hại và làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt
này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều
292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị
hại.
[2]. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Bị cáo Lý Hùng
T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện sát
nhân dân Khu vực A – Lâm Đồng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại quan
Cảnh sát điều tra phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án như: Biên bản khám
nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông;
Bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh L; các biên bản điều tra cùng
các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: vào
khoảng 09 giờ 20 phút ngày 23/9/2025 tại Km 1638 + 250m Quốc lộ A thuộc thôn
H, xã B, tỉnh Lâm Đồng Lý Hùng T điều khiển xe ô tô tải biển số 86C-160.46
tham gia giao thông đã lùi xe không đảm bảo an toàn và thiếu chú ý quan sát
(không thực hiện việc quan sát hai bên trái – phải của xe) trước khi thực hiện việc
điều khiển xe 86C-160.46 tiến sát về phía dải phân cách cứng cố định để lùi xe
thì lúc đó thân xe chắn ngang phần đường dẫn đến xe mô tô biển số 86B2 – 668.19
do Hồ Hữu T2 điều khiển đến không xử lý kịp nên tông vào xe ô tô biển số 86C-
160.46 gây tai nạn.
Bị cáo Lý Hùng T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận
thức được xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nếu không chấp hành đúng quy định
của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã
hội nhưng bị cáo không tuân thủ đúng quy định của pháp luật khi điều khiển xe ô
tô lùi xe thiếu quan sát, dừng đỗ phương tiện trên đường không đúng quy định
nên đã vi phạm các quy định tại khoản 28 Điều 9 và khoản 1 Điều 16 Luật Trật
tự, an toàn giao thông đường bộ cụ thể:
“Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm
….28. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ...
Điều 16. Lùi xe
1. Khi lùi xe, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
11
phải quan sát hai bên và phía sau xe, có tín hiệu lùi và chỉ lùi xe khi bảo đảm an
toàn.”
Gây tai nạn hậu quả làm 01 người chết nên đã phạm tội “Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người…”
Nguyên nhân tai nạn giao thông xảy ra là do lỗi hỗn hợp cụ thể: Bị hại điều
khiển xe mô tô biển số 86B2 – 668.19 tham gia giao thông khi trong máu có nồng
độ cồn, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, đi không đúng làn đường,
thiếu chú ý quan sát nên không dừng xe được khi có chướng ngại vật đã vi phạm
khoản 1 và khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 3 Điều 12 và khoản 4 Điều 13 Luật Trật
tự, an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo Lý Hùng T có hành vi lùi xe ô tô biển số
86C-160.46 khách 50F-043.55 không đảm bảo an toàn là đã vi phạm khoản 28
Điều 9 và khoản 1 Điều 16 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
các quy định về quản lý an toàn giao thông của Nhà nước, không những gây thiệt
hại cho sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự an toàn nơi công cộng;
bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng do tính
cẩu thả, xem thường Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ nên đã gây ra tai
nạn. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án với mức án nghiêm
khắc theo quy định của pháp luật thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng
ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy
tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi
thường thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền 100.000.000 đồng; gia đình bị hại
có đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia
đình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng được quy
định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017).
12
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay gia đình bị cáo khó khăn, không có thu
nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như phân tích, nhận định
trên. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo
ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) cho bị cáo được hưởng án treo, có sự giám sát của chính quyền địa
phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công
dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh L đã trả lại
xe mô tô biển số 86B2-668.19 và xe ô tô tải biển số 86C-160.46 cùng giấy tờ xe
có liên quan cho chủ sở hữu là ông Đặng Tuấn L và Võ Thành D1 đúng theo quy
định nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, quá trình điều tra xác định trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao
thông thì anh trai của Hồ Hữu T2 là Hồ Hữu T3 đã mượn xe mô tô biển số 86B2-
668.19 của anh Đặng Tuấn L để sử dụng. Ngày 23/9/2025, anh T3 để xe mô tô
biển số 86B2-668.19 ở trước nhà thì T2 đã tự ý lấy chiếc xe mô tô trên chạy đi
nên không xem xét vấn đề trách nhiệm của chủ xe 86B2-668.19 trong vụ tai nạn
giao thông là phù hợp.
Đối với Giấy phép lái xe hạng ô tô hạng C số: 600128001729 của Lý H1 sẽ
được giao trả lại cho bị cáo khi án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản
3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Lý Hùng T và Công ty
TNHH Đ đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Hồ Hữu T2 với
tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Gia đình nạn nhân Hồ Hữu T2 đã làm đơn bãi
nại và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Lý Hùng T nên không
xem xét, giải quyết phần bồi thường dân sự.
[8]. Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về tội danh, điều
khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với
bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật. Bị đơn dân sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn
dân sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
13
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lý Hùng T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Lý Hùng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo.
Thời hạn thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày
28/7/2026).
Giao bị cáo Lý Hùng T cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Lâm Đồng giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp Lý Hùng Toán thay đổi nơi cư
trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu Lý Hùng T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở
lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Lý Hùng T phải chấp hành hình phạt tù của
bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý tài liệu, đồ vật: Căn cứ vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Lý Hùng T 01 Giấy phép lái xe hạng C số 600128001729 của
Lý Hùng T, do Sở thông vận tải tỉnh Bình Thuận (cũ) cấp ngày 09/7/2024.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 21, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ
luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lý Hùng T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Bị cáo, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể
từ ngày tuyên án (28/7/2026). Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được
niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND Khu vực 13-Lâm Đồng;
- Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (Qua
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - Lâm
Đồng)
- Những người tham gia tố tụng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
14
- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh
Lâm Đồng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
Đặng Xuân Ngọc
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
15
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 45/2026/HS-ST Bản án số 45/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 45/2026/HS-ST Bản án số 45/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất