Bản án số 45/2020/DS-PT ngày 16/06/2020 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 45/2020/DS-PT ngày 16/06/2020 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Định
Số hiệu: 45/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chap nhận kháng cáo của bị đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH ĐỊNH Độc Lập – Tự Do Hạnh Phúc
Bản án số: 45/2020/DS-PT
Ngày: 16 - 6 - 2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hoài Thanh.
Ông Võ Công Phương.
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Phương Thủy Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Nguyễn Phạm Tố Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 50/2020/TLPT-DS ngày 06 tháng 3 năm
2020 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án n sự thẩm số 111/2019/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm
2019 của Toà án nhân dân huyện TPh, tỉnh Bình Định, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2020/QĐXXPT-
DS ngày 29 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Thị Diệu H, sinh năm 1961; địa chỉ thôn T, P,
huyện TP, tỉnh Bình Định. (có mặt)
- Bị đơn: Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1970; địa chỉ thôn H, P,
huyện TP, tỉnh Bình Định. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê B; địa chỉ thôn H, xã P, huyện TP, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)
2. Ông Đào Nh, sinh năm 1959; địa chỉ thôn T, xã P, huyện TP, tỉnh Bình
Định. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của ông Đào Nh theo văn bản ủy quyền ngày 11
tháng 6 năm 2020 là bà Huỳnh Thị Diệu H. (có mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Diệu H, trình bày:
với Nguyễn Thị Yến N mối quan hệ quen biết với nhau, cần
tiền làm ăn nên trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2018 bà N
đến nhà mượn tiền nhiều lần. Đến ngày 29/12/2019 N kết sổ, hai
bên thống nhất N còn n177.000.000 đồng, hai bên lập Hợp đồng mượn
tiền, nội dung N mượn số tiền 177.000.000 đồng, thời hạn trả nợ 04
tháng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận chứ không ghi vào hợp đồng mượn tiền. Sau
khi đến hạn trả nợ, bà N chỉ trả được cho bà được 13.300.000 đồng và còn nợ lại
163.700.000 đồng. Nay bà yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Yến N cùng chồng bà N
ông B phải nghĩa vụ trả cho 163.700.000 đồng tiền gốc, không
yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Yến N:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Trần Văn Nh và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê B đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng nhưng từ chối không đến Tòa, không có ý kiến trình bày và yêu cầu đối với
nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Nh, trình bày:
Ông chồng Huỳnh Thị Diệu H. Hiện nay vợ chồng Nguyễn Th
Yến N ông B còn nợ vợ chồng ông 163.700.000 đồng. Ông yêu cầu N,
ông B trả cho vợ chồng ông số tiền nợ 163.700.000 đồng, ông không yêu cầu
tính lãi.
Bản án dân sự thẩm số 111/2019/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019
của Toà án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Định, Quyết định:
- Buộc vợ chồng Nguyễn Thị Yến N và ông B phải trả cho vợ
chồng Huỳnh Thị Diệu H ông Đào Nh 163.700.000 đồng (Một trăm sáu
mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
Ngoài ra, Bản án thẩm còn quyết định về án phí dân sự thẩm
quyền kháng cáo của các bên đương sự.
- Ngày 16/12/2019 bị đơn Nguyễn Thị Yến N kháng cáo Bản án dân
sự sơ thẩm yêu cầu xem xét lại số tiền nợ là 177.000.000 đồng vì hiện nay bị đơn
chỉ còn nợ nguyên đơn 68.800.000 đồng.
Tại phiên Tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên kháng cáo với nội dung như trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng,
người tiến hành tố tụng người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của
pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị HĐXX không chấp nhận nội dung kháng
3
cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm người có nghĩa vụ liên quan ông
B đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng theo quy
định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của Huỳnh Thị Diệu H thấy
rằng: N kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm cho rằng hiện nay
N không nợ H số tiền 177.000.000 đồng mà chỉ còn nợ H 68.800.000
đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên Tòa phúc thẩm N không cung cấp
được chứng cứ chứng minh bà N không nợ bà H số tiền 177.000.000 đồng, trong
khi đó tại “Hợp đồng mượn tiền ngày 29 tháng 12 năm 2018” do nguyên đơn
cung cấp thể hiện nội dung là bà H cho N mượn 177.000.000 đồng; N
thừa nhận chữ chữ viết tại hợp đồng mượn tiền nói trên do N viết
tên. Như vậy, việc H cho rằng N mượn của H 177.000.000 đồng
sở chấp nhận. Sau khi mượn H thừa nhận N đã trả cho
13.300.000 đồng tiền gốc, nên hiện nay N còn nợ H 163.700.000 đồng.
Mục đích mượn tiền của N để mua bán, phục vụ chung cho nhu cầu thiết
yếu của gia đình, do đó theo qui định tại Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình năm
2014, thì số nợ này nợ chung của vợ chồng N, ông B. Từ những căn cứ
trên, Tòa thẩm xử buộc N phải trả cho H 163.700.000 đồng căn
cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự.
[3] Tại phiên Tòa phúc thẩm N không xuất trình được tài liệu, chứng
cứ để chứng minh cho yêu cầu của nh căn cứ. vậy Hội đồng xét xử
không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Án p n s sơ thẩm: n cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội thì Bà Nguyễn Thị Yến N và ông Lê B phải chịu 8.185.000 đồng.
Hoàn trlại cho Huỳnh Thị Diệu H 4.093.000 đồng tiền tạm ứng án
phí theo biên lai thu tiền số 0003078, ngày 10 tháng 7 năm 2011 của Chi cc thi
hành án dân sự huyện TP.
[5] Án phí n sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng o của Nguyn Thị
Yến N không đưc chp nhận n N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí n sự
phúc thẩm.
4
[6] Đại din Viện kim sát nhân dân tnh Bình Đnh phát biểu ý kiến
v vic giải quyết v án đề nghị kng chấp nhn đơn kháng o ca
Nguyễn Th Yến N, gi nguyên án sơ thm là phù hp vi nhn đnh ca
Tòa.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2
Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12
m 2016 của Ủy ban tờng vQuốc Hội.
Giữ nguyên Bản án thẩm.
1. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị Yến N ông B phải trả cho vợ
chồng Huỳnh Thị Diệu H ông Đào Nh 163.700.000 đồng (Một trăm sáu
mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
2. Án phí n sự thẩm: Nguyễn Thị Yến N ông B phải chịu
8.185.000 đồng.
Hoàn trả lại cho Huỳnh Thị Diệu H 4.093.000 đồng tiền tạm ứng án
phí theo biên lai thu tiền số 0003078, ngày 10 tháng 7 năm 2011 của Chi cc thi
hành án dân sự huyện TP.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng
tiền án phí dân s phúc thẩm nhưng đưc trừ vào số tiền tạm ng án p phúc thẩm
N đã nộp theo biên lai thu tin số 0003377 ngày 16 tháng 11 m 2020 của Chi
cụ Thi hành ánn sự huyện TPh.
4. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khác khoản
tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án Dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
5
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ktừ ngảy tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bình Định; THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
- TAND huyn TP;
- CCTHADS huyn TP; (Đã ký và đóng dấu)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; Tòa dân sự.
Đỗ Thị Thắm
Tải về
Bản án số 45/2020/DS-PT Bản án số 45/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất