Bản án số 429/2025/DS-PT ngày 07/08/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 429/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 429/2025/DS-PT ngày 07/08/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 429/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mai Phát T "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc" Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 429/2025/DS-PT
Ngày: 07-8-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Ông Trần Tấn Quốc.
- Thư phiên tòa: Ngô Hồng Thúy Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 236/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 6
năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự thẩm số 59/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025
của a án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, hiện Tòa án nhân dân khu
vực 3 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 327/2025/QĐ-PT ngày
07 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1/ Ông Mai Phát T, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp B, H, tỉnh Tây Ninh; địa
chỉ cũ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
2/ Nguyễn Thị Bạch Y, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp B, xã H, tỉnh Tây
Ninh; địa chỉ cũ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông T, bà Y: chị Bùi Thị Mỹ
L, sinh 1985; địa chỉ: Số A, ấp Đ, H, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: Số A, ấp Đ, xã
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1979; địa chỉ: Số A, Ô, khu B, xã
H, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: Số A, Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C nay Văn phòng
C1; Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Mộng T1 Trưởng Văn phòng; địa
chỉ: ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: nguyên đơn ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Mai Phát T Nguyễn Thị Bạch Y, trình bày: ngày
24/5/2022, tại Văn phòng C, Nguyễn Thị Mỹ D vợ chồng ông Hợp
đồng đặt cọc với nội dung: bà D đặt cọc cho vợ chồng ông bà 500.000.000 đồng để
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 431, tbản đồ số 8, diện tích
3.323m
2
, loại đất lúa, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An (cũ) với giá chuyển
nhượng 4.800.000.000 đồng, hợp đồng được công chứng số 5485, quyển số
05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/5/2022. Thời hạn đặt cọc 120 ngày kể từ
ngày 24/5/2022 hai bên sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, D giao stiền chuyển nhượng còn lại. Theo điểm b khoản 1 Điều 4 hợp
đồng đặt cọc thì khi bà D đổi ý không tiếp tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thì mất tiền cọc, ngược lại, cũng theo điểm b khoản 1 Điều 5 hợp đồng đặt cọc
thì ông T, Y đổi ý không tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trả lại
tiền cọc cho D chịu phạt cọc. Đến hết thời hạn 120 ngày từ ngày 24/5/2022,
bà D không đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông bà.
Do đó, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng đặt cọc ngày
24/5/2022 số công chứng 5485, quyển số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày
25/5/2022 giữa ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y với Nguyễn Thị Mỹ D
tại Văn phòng C. Khi hủy hợp đồng đặt cọc, D phải bị mất số tiền cọc
500.000.000 đồng, do D đổi ý không tiếp tục nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất.
Ông bà xác định không việc hai bên thỏa thuận miệng với nội dung vợ
chồng ông trách nhiệm lên thổ cập nhật đường đi ngang thửa đất như
bà D trình bày, đề nghị căn cứ vào thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc để thực hiện.
Thực tế thửa đất số 431 đường đất đi vào, rộng khoảng 03m thể hiện trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi hợp đồng đặt cọc thì D xem
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xem đất đóng cọc xung quanh và đo
đạc thửa đất.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Do là chỗ quen biết từ trước nên
cho ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y mượn số tiền 500.000.000 đồng để
trả nợ Ngân hàng, sau đó, thay trả số tiền 500.000.000 đồng thì hai bên thỏa
thuận chuyển số tiền này thành tiền cọc để D nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ ông T Y thửa đất số 431, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.323m
2
, đất
lúa, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An. Do đó, ngày 24/5/2022 tại Văn phòng
C, D với vchồng ông T hợp đồng đặt cọc với nội dung: D đặt cọc cho
ông T, Y số tiền 500.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thửa đất số 431, tờ bản đồ s8, diện tích 3.323m
2
, đất lúa, tọa lạc tại T, huyện
Đ, tỉnh Long An (cũ) với gchuyển nhượng là 4.800.000.000 đồng (80.000.000
3
đồng/1m ngang), hợp đồng đặt cọc được công chng số 5485, quyển số
05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/5/2022. Trước đó, D được ông T, Y
cung cấp thông tin vị trí đất hiện trạng thửa đất một lối đi khoảng 03m đi
ngang thửa đất nên bà D mới đồng ý đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền s
dụng thửa đất này. Nhưng sau khi hợp đồng đặt cọc vào ngày 24/5/2022, chiều
cùng ngày 24/5/2022, khi hai bên đến đất tiến hành việc cắm cọc, đo đạc thực tế thì
ông Đào Văn T2 ra ngăn cản không cho cắm cọc và đo đạc tại lối đi, ông T2
còn nói cho D biết lối đi ngang thửa đất 03m lối đi riêng của nội bộ gia đình
ông T2, không phải lối đi chung hay đường công cộng ranh đất do ông T xác
định là không đúng nên giữa bà D và ông T, bà Y không thể tiến hành cắm cọc, đo
đạc được.
Đồng thời, bà D tìm hiểu thì được biết thửa đất 431 không cho cập nhật con
đường đi ngang thửa đất như ông T bà Y đã cam kết trước đó, đây lối đi
riêng của gia đình ông T2, nên đất không giá trị cao như thỏa thuận đặt cọc,
D có thông báo sẽ cho vay tiền, không mua đất nữa và liên hệ yêu cầu ông T và bà
Y trả lại tiền cọc đã nhận nhưng ông T, bà Y không đồng ý.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của ông T, Y, đồng ý hủy Hợp đồng đặt
cọc ngày 24/5/2022 s công chứng 5485, quyển số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 25/5/2022 giữa ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y với Nguyễn Thị
Mỹ D tại Văn phòng C. Đồng thời, Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu phản tố yêu
cầu ông Mai Phát T và bà Nguyễn Thị Bạch Y liên đới trả lại cho bà Duyên số tiền
cọc đã nhận là 500.000.000 đồng, không yêu cầu phạt cọc.
Việc hai bên không thể giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất không phải do bà D đổi ý không muốn tiếp tục nhận chuyển nhượng thửa đất
431 do bên ông T và Y cung cấp thông tin thửa đất không đúng sự thật nên
khi hủy hợp đồng đặt cọc, ông T, bà Y trách nhiệm hoàn trả lại tiền cọc cho
D.
Văn phòng C1 xin vắng mặt văn bản trình bày: Việc công chứng Hợp
đồng đặt cọc số công chứng 5485, quyển số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày
25/5/2022 giữa ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y với Nguyễn Thị Mỹ D
tại Văn phòng C (nay Văn phòng C1) đúng trình tự, thủ tục theo quy định
pháp luật. Văn phòng C1 không yêu cầu trong vụ án, đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Người làm chứng ông Đào Văn T2 có lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án: Ông là hàng xóm của ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y đồng thời là chủ
sử dụng đất thửa đất giáp ranh thửa đất số 431, tờ bản đồ số 8, tại T, huyện Đ,
tỉnh Long An của ông T, Y. Việc ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y giao
kết hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị Mỹ D liên quan thửa đất số 431, ông hoàn
toàn không biết không rõ, nhưng khoảng tháng 5/2022, ông T, Y D
tiến hành đo đạc, cắm cọc để chuyển nhượng đối với thửa đất số 431, tờ bản đồ số
8, tại T, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông chủ sử dụng đất giáp ranh, chứng
kiến và thấy đo đạc, cắm cọc không đúng vị trí ranh giữa ông và ông T. Vì khi đến
thửa đất số 431 thì ông được nghe hai bên nói rằng lối đi ngang thửa đất số 431
lối đi công cộng, ông không đồng ý nên thông tin xuất trình cho D giấy
4
bán đất của ông Mai Văn V (là cha ông Mai Phát T) bán cho mẹ ông Phạm
Thị Đ lối đi 03m vào năm 1982 (lối đi này lối đi đi ngang thửa đất số 431) để
cho bà D biết lối đi này lối đi riêng của gia đình ông, không phải lối đi công
cộng, chỉ gia đình ông sử dụng lối đi này, ngoài ra không còn ai khác sử dụng
nên ông ra ngăn cản việc cắm cọc lên lối đi riêng. Do bị ông ngăn cản nên ngày
hôm đó, ông T, bà Y bà D không tiến hành đo đạc, cắm cọc được đối với thửa
đất số 431. Từ đó đến nay, ông không thấy ai đến đo đạc, cắm cọc đối với thửa đất
số 431. Sự việc mua bán về sau này giữa ông T, Y bà D ông cũng không
được biết.
Tại Bản án dân sự thẩm số 59/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nay Tòa án nhân dân khu
vực 3 – Tây Ninh, đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Phát T, Nguyễn
Thị Bạch Y đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.
Tuyên hiệu “Hợp đồng đặt cọc ngày 24/5/2022, số công chứng 5485,
quyển s 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/5/2022 giữa ông Mai Phát T,
Nguyễn Thị Bạch Y với bà Nguyễn Thị Mỹ D tại Văn phòng C”.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Phát T, Nguyễn Thị
Bạch Y đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D về việc được sở hữu số tiền cọc 500.000.000
đồng (Năm trăm triệu đồng).
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Mỹ D đối với ông Mai
Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y về việc hoàn trả lại tiền cọc.
Buộc ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y nghĩa vụ liên đới trả cho
Nguyễn Thị Mỹ Duyên số tiền cọc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên nghĩa vụ chưa thi hành
xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng
với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
4. Vchi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyễn Thị Mỹ D tự nguyện
chịu 3.000.000 đồng, đã tạm nộp và chi phí xong.
5. Ván phí: Ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y người cao tuổi
(trên 60 tuổi) thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí dân skhông giá
ngạch sung vào Ngân sách Nhà nước, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp
12.000.000 đồng theo biên lai thu số 0014828 ngày 17/01/2025 tại Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Đức Hòa, hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên số tiền
11.700.000 đồng.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, hướng dẫn thi hành
án.
5
Ngày 08/4/2025, nguyên đơn ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y
kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của ông, bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch
Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo, các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, tại phần tranh luận:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông T, bà Y, chị Bùi Thị Mỹ
L trình bày: Do sau khi kết hợp đồng đặt cọc thì giá đất giảm nên bà Nguyễn
Thị Mỹ D không đồng ý hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên phải
bị mất cọc theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Khi tiến hành cắm mốc đo đạc
thửa đất, thì đường đất chiều rộng 03m cặp thửa đất 431 của ông T, Y không
thuộc quyền sử dụng của ông T, Y thuộc quyền sử dụng của ông T2 nên đề
nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông T,
bà Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn ông Mai Phát T, Nguyễn Thị
Bạch Y thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng
pháp luật.
Về nội dung vụ án: các bên đương sự đều thừa nhận ngày 24/5/2022
hợp đồng đặt cọc hợp đồng này được công chứng tại Văn phòng C đúng quy
định về hình thức. Nội dung Nguyễn Thị Mỹ D đặt cọc cho ông Mai Phát T
Nguyễn Thị Bạch Y số tiền 500.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất
số 431, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.323m² đất lúa, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh
Long An, giá chuyển nhượng 4.800.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc 120 ngày.
Trước khi giao kết hợp đồng đặt cọc, D đã được ông T và bà Y cho xem
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho biết thửa đất lối đi khoảng 3m chạy
ngang lối đi công cộng. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/3/2025
lời khai của ông Đào Văn T2 chủ sử dụng đất liền kề, đã xác định lối đi
ngang thửa đất số 431 là lối đi riêng của gia đình ông T2 được gia đình ông T2 đắp
từ năm 1982 để vào nhà, không phải đường công cộng, không nằm trên hồ
địa chính, không được cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên đơn cho rằng sau khi hợp đồng mới phát sinh tranh chấp, ông
T2 ngăn cản đo đạc do ranh chưa rõ, lối đi lối đi riêng. Không chứng cứ nào
chứng minh D biết đây là lối đi riêng ngay tđầu, chỉ khi tiến hành đo đạc,
cắm ranh ông T2 ngăn cản thì bà D mới biết.
Việc cung cấp thông tin không đầy đủ, không chính xác về tình trạng lối đi
ông T, Y đưa ra chính nguyên nhân dẫn đến việc D bị nhầm lẫn ngay
tại thời điểm giao kết hợp đồng về giá trị và tình trạng pháp lý của thửa đất. Do đó,
căn cứ xác định hành vi giao kết hợp đồng đặt cọc của D rơi vào trường hợp
6
nhầm lẫn nghiêm trọng về đặc điểm quan trọng của tài sản ngay tại thời điểm giao
kết quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự. Khi giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm
lẫn thì giải quyết hậu qupháp lý được xử theo Điều 131 Bộ luật Dân sự, các
bên phải hoàn trả cho nhau những đã nhận. vậy, ông Mai Phát T
Nguyễn Thị Bạch Y phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên số tiền đặt cọc đã
nhận để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
Việc nguyên đơn kháng cáo yêu cầu được hưởng trọn stiền cọc do cho
rằng D thay đổi ý định, không thực hiện hợp đồng không phù hợp với bản
chất vviệc, bởi nguyên nhân chính do thông tin sai lệch, dẫn đến sự nhầm lẫn
về hiện trạng đất ngay từ ban đầu.
Từ những phân tích trên, nhận thấy kháng cáo của ông Mai Phát T
Nguyễn Thị Bạch Y không căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Mai Phát T Nguyễn Thị Bạch Y.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn ông Mai Phát T, Nguyễn Thị
Bạch Y thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 đơn xin vắng tại
phiên tòa, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt đương sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y:
[2.1] Xét hợp đồng đặt cọc ngày 24/5/2022 thể hiện: ngày 24/5/2022,
nguyên đơn ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y thỏa thuận chuyển nhượng cho
Nguyễn Thị Mỹ D phần đất diện tích 3.323m
2
, thuộc thửa đất số 431, tờ bản đồ số
8, tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An (cũ) với giá thỏa thuận 4.800.000.000
đồng. Hai bên tiến hành hợp đồng đặt cọc, bà D đặt cọc số tiền 500.000.000
đồng thỏa thuận trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày 24/5/2022, hai bên tiến
hành lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyển
nhượng thì D sẽ thanh toán số tiền còn lại cho ông T, Y theo hợp đồng
chuyển nhượng. Như vậy, giữa bà D với ông T, bà Y đã xác lập 01 thỏa thuận “đặt
cọc” để đảm bảo cho việc kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên
quan đến thửa đất số 431, tờ bản đồ sồ 8, diện tích là 3.323m
2
, tọa lạc tại T,
huyện Đ, tỉnh Long An (cũ). Giá chuyển nhượng 4.800.000.000 đồng. D đặt
cọc số tiền 500.000.000 đồng hẹn trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày
24/5/2022, hai bên tiến hành lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất D sẽ
thanh toán hoàn tất số tiền còn lại.
[2.2] Xét thấy, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông T, Y,
chị Bùi Thị Mỹ L trình bày cho rằng sau khi kết hợp đồng đặt cọc thì giá đất
giảm nên Nguyễn Thị Mỹ D không đồng ý hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nên phải bị mất cọc theo quy định của pháp luật nhưng không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.
7
[2.3] Xét thấy, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/3/2025 của
Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nay Tòa án nhân dân khu vực 3
Tây Ninh thể hiện: hiện trạng thửa đất số 431 đất trống, không công trình, tài
sản, vật kiến trúc trên đất. Do ông Mai Phát T đang quản trồng lúa. Cạnh thửa
đất hướng nam giáp: Một phần đường đá xanh 3m thuộc nhà nước quản (tiếp giáp
khoảng 4m) một phần đường đá xanh 3m tự phát do ông Đào Văn T2 tự đắp để đi
vào nhà. Quá trình tố tụng tại cấp thẩm, nguyên đơn ông T, Y thừa nhận xác
định thửa đất của ông đường đất đi vào, rộng khoảng 3m. Bị đơn D trình
bày cho rằng khi thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng thì ông T, bà Y xác định thửa đất
431 thỏa thuận chuyển nhượng có một bờ đất rộng khoảng 3m. Lời trình bày của bị
đơn D phù hợp với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/3/2025 phù
hợp với lời trình bày của người làm chứng anh Đào Văn T2, cụ thể tại Biên bản lấy
lời khai ngày 19/02/2025, anh T2 trình bày: khoảng tháng 5/2024, ông T, Y
D tiến hành đo đạc, cắm mốc thửa đất số 431, tờ bản đồ số 8. Do anh chủ
sử dụng đất giáp ranh thấy các bên cắm ranh không đúng vị trí ranh giữa anh
ông T nên ngăn cản việc cắm ranh. Đồng thời anh nghe các bên trình bày cho rằng
lối đi ngang thửa đất 431 là lối đi công cộng nên anh không đồng ý có thông tin
cho D vgiấy bán đất của ông Mai Văn V (cha ông T2) đã bán cho Phạm
Thị Đ (mẹ anh) lối đi ngang 3m nêu trên vào năm 1982. Như vậy, căn cứ xác
định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, Y với D
không được kết do khi tiến hành cắm mốc đo đạc thửa đất thỏa thuận
chuyển nhượng thì lối đi ngang 03m không phải là lối đi công cộng như ông T,
Y xác định mà là lối đi riêng của anh Đào Văn T2. Do ông Mai Phát T, Nguyễn
Thị Bạch Y người đưa ra thông tin không đúng nên lỗi trong việc hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên không được ký kết. Theo quy định
tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự thì trong trường hợp này phía ông T, bà Y phải trả
lại tiền cọc đồng thời chịu phạt cọc theo quy định. Tuy nhiên, bđơn D chỉ
yêu cầu phía nguyên đơn trả lại tiền cọc nên Tòa án cấp thẩm giải quyết buộc
ông T, bà Y trả lại tiền cọc là có căn cứ, có lợi cho ông T, bà Y.
[3] Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử xét không
căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch
Y. Quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh
căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sphúc thẩm: ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Tuy nhiên, ông T, bà Y là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét
xử miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho ông T, bà Y.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
8
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Mai Phát T, bà Nguyễn
Thị Bạch Y.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 59/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nay Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228,
Điều 147 và Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 328, Điều 126,
Điều 131, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Toà án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Phát T, Nguyễn
Thị Bạch Y đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.
Tuyên hiệu “Hợp đồng đặt cọc ngày 24/5/2022, số công chứng 5485,
quyển s 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/5/2022 giữa ông Mai Phát T,
Nguyễn Thị Bạch Y với bà Nguyễn Thị Mỹ D tại Văn phòng C”.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Phát T, Nguyễn Thị
Bạch Y đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D về việc được sở hữu số tiền cọc 500.000.000
(năm trăm triệu) đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Mỹ D đối với ông Mai
Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y về việc hoàn trả lại tiền cọc.
Buộc ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y nghĩa vụ liên đới trả cho
Nguyễn Thị Mỹ Duyên số tiền cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên nghĩa vụ chưa thi hành
xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng
với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
4. Về chi pxem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyễn Thị Mỹ D tự nguyện
chịu 3.000.000 đồng, đã tạm nộp và chi phí xong.
5. Ván phí: ông Mai Phát T, Nguyễn Thị Bạch Y người cao tuổi
(trên 60 tuổi) thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí dân skhông giá
ngạch sung vào Ngân sách Nhà nước, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp
12.000.000 đồng theo biên lai thu số 0014828 ngày 17/01/2025 tại Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Đức Hòa, hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Mỹ Duyên S tiền
11.700.000 đồng.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho ông
Mai Phát T, bà Nguyễn Thị Bạch Y.
7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
9
8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người
phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều
6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 7 – Tây Ninh;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Trọng Nhân
Tải về
Bản án số 429/2025/DS-PT Bản án số 429/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 429/2025/DS-PT Bản án số 429/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất