Bản án số 42/2023/DS-ST ngày 04/05/2023 của TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2023/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 42/2023/DS-ST ngày 04/05/2023 của TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Ngã Năm (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 42/2023/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Thị A về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H. Buộc ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị T cắt toàn bộ cây dừa ở vị trí số 03 và 04 tính từ lộ vào để không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của bà Dương Thị A, Buộc ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị T cắt tỉa phần ngọn dừa (tàu, lá trái dừa) ở vị trí số 01, 02 và 05 tính từ lộ, vượt quá sang phần đất của nguyên đơn. (05 cây dừa nêu trên do ông Lê Văn H trồng để làm ranh đất giữa nhà của ông Lê Văn H và bà Dương Thị A tại khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 42/2023/DS-ST.
Ngày: 04-5-2023
V/v tranh chấp khoảng không.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM - TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Huy Sơn
Bà Trần Thị Mỹ Xuân
- Thư phiên tòa: Ông Quách Văn Diển, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 4 04 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân
dân thị Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Xét xử thẩm công khai vụ án thụ số
25/2022/TLSTDS ngày 01 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp khoảng không. Theo
quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST DS ngày 31/3/2023 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Dương Thị A, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ: Khóm V, Phường C, th xã N, tỉnh Sóc Trăng
- Bị đơn: Lê Văn H, sinh năm 1968(có mặt)
Địa chỉ: Khóm V, Phưng C, th xã N, tnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanHunh Th T(có mặt)
Địa chỉ: Khóm V, Phường C, th xã N, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện tại phiên tòa nguyên đơn Dương Thị A trình
bày:
2
Nhà A với nhà ông Văn H cặp ranh với nhau, hàng dừa và cây ăn trái
của ông H nghiên ngã qua mái nhà của A, khi trời gió thì tàu dừa đập trên mái
tol, trái dừa bị chuột cắn rụng trên mái tol nhà của A gây tiếng động lớn
những cây dừa ngã qua nằm sát với vách tường đội mái tol làm nhà bà hư hỏng.
Bà A gặp ông H để yêu cầu chặt cây dừa và tàu dừa trên mái nhà của
A, nhưng ông H không đồng ý. Do vậy, A làm đơn gửi đến ban hòa giải
khóm V, Phường C, th xã N và có mời ông H nhiều lần nhưng ông H không đi.
Tại phiên tòa bà A yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn H chặt bỏ 05 cây dừa
trồng cặp ranh đã nghiên qua mái nhà đất của A để không gây tiếng ồn
không làm hư hỏng đến mái nhà của bà A.
2/ Trong quá trình giải quyết vụ án xét xử cũng như tại phiên tòa bị đơn
ông Lê Văn H trình bày:
Phần đất mà bà A đang sử dụng và cất nhà là của bà T1 (bà Trn Th B) là
mẹ ruột của bà A, trước khi A cất nhà thì T1 lấn ranh đất của ông H
khoảng 0,6m, dài khoảng 32m nên ông H thoả thuận với T1 hàng dừa ông
H trồng vẫn giữ nguyên, không chặt. ông H thừa nhận phần gốc dừa nằm bên
đất của ông H còn phần ngọn có nghiêng qua nhà của bà A.
Nay bà A khởi kiện yêu cầu ông chặt 05 cây dừa thì ông H không đồng ý.
Nếu B (mẹ bà A) trả lại phần đất lấn chiếm của ông H thì ông H đồng ý chặt
cây dừa theo yêu cầu của bà A
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hunh Th T trình bày:
T thống nhất với lời trình bày của ông Văn H, không trình bày
thêm.
4/ Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định
tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ
các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có mặt đã chấp hành
đúng quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca
nguyên đơn về vic buc b đơn phải ct ta phần vượt quá ca cây dừa đã che
qua phn nhà của nguyên đơn.
Không chp nhn yêu cu của nguyên đơn về vic buc b đơn chặt b hàng
da.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chặt đốn các cây dừa nghiêng sang
phần đất của bị đơn đồng thời bị đơn địa chỉ khóm V, phường C, thN, tnh
Sóc Trăng nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Tranh chấp khoảng
không” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân th xã N, tỉnh
Sóc Trăng theo quy định tại khoản 14 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị A yêu cầu ông Lê
Văn H chặt bỏ 05 cây dừa trồng cặp ranh đã nghiên qua mái nhà của A, Hội
đồng xét xử thấy rằng:
Phần đất của nguyên đơn đang sdụng có nguồn gốc chuyển nhượng của
Trn Th B, chưa được quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Ông Lê Văn H có nhà đất cặp ranh đất với A trồng hàng dừa
để làm ranh giữa các bên.
A ông H đều thừa nhận các bên sử dụng đúng ranh đất, không tranh
chấp về phần ranh đất với nhau. Tuy nhiên ông H thừa nhận trong 05 cây dừa cặp
ranh đất với A thì 02 cây nghiêng sang đất của A, ông H đồng ý đốn,
chặt 02 cây dừa này (nằm ở vị trí 03, 04) với điều kiện là bà B (mẹ bà A) phải trả
cho ông diện tích đất đã lấn chiếm của ông ở vị tđất khác, còn các cây dừa khác
thì còn nhỏ, chỉ có lá dừa vượt qua ranh đất của bà A.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng
từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm
ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được
trồng cây làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng đất
trong khuôn viên của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rể cây, cành
cây vượt quá ranh giới thì phải xén rể, cắt, tỉa, cành phần vượt quá, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác”.
Theo biên bản xem xét thẩm định ngày 12/01/2023 của Tòa án nhân dân thị
xã Ngã Năm thì 05 cây dừa được đánh số thứ tự từ 01-05 được tính từ lộ vào có
hiện trạng như sau:
+ Cây dừa số 1: cây dừa này có hiện trạng tàu dừa che qua sân của nguyên
đơn
4
+ Cây dừa số 02 cây dừa này có hiện trạng lá tàu dừa che qua máy nhà của
nguyên đơn
+ Cây dừa số 03, 04: cây dừa này hiện trạng mọc cao hơn máy ncủa
nguyên đơn có tàu dừa và buồng dừa mọc de qua máy nhà của nguyên đơn
+ Cây dừa số 05: Cây dừa này hiện trạng tàu dừa che qua phần chuồng
heo của nguyên đơn (cây dừa này buồng dừa de qua máy nhà của nguyên đơn).
Tất cả 05 cây dừa này do ông Lê Văn H trồng để làm ranh đất giữa nhà của
ông H và bà A tại khóm V, Phường C, th xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Như vậy sở cho rằng 05 cây dừa của ông H phần ngọn dừa (gồm
tàu dừa, lá, trái dừa) vượt quá ranh giới của nguyên đơn, lấn sang phần đất của
nguyên đơn. Tuy nhiên có 02 cây dừa ở vị trí cao hơn mái nhà của A (cây dừa
số 03 và 04 tính từ lộ vào) nên cần thiết phải cắt toàn bộ cây dừa này để không
ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của A, còn các cây còn lại chỉ cần cắt tỉa
phần ngọn dừa (tàu, lá trái dừa) vượt quá sang phần đất của nguyên đơn.
Cho nên yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, Hội đồng xét xử chỉ chấp
nhận một phần, buộc bị đơn ông H và bà T cắt toàn bộ cây dừa này (ở vị trí số 03
04 tính từ lộ vào) để không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của A, còn
các cây còn lại (ở vị trí số 01, 02 05 tính từ lộ vào) chỉ cần cắt tỉa phần ngọn
dừa (tàu, lá trái dừa) vượt quá sang phần đất của nguyên đơn.
Ông H cho rằng khi nào bà B (mẹ bà A) trả cho ông H phần đất đã lấn chiếm
thì ông H mới đồng ý chặt phá những cây dừa nêu trên. Hội đồng xét xử thấy rằng:
trường hợp ông H cho rằng bà B lấn chiếm đất của ông H thì ông Huấn có quyền
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: do yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận một phần nên nguyên đơn bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chổ mỗi người 350.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp số tiền này nên
phía bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn 350.000 đồng
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: nguyên đơn bị đơn mỗi người phải chịu án phí
300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án. Tuy nhiên nguyên đơn là con liệt nên được miễn án phí dân sự thẩm theo
điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
5
[5] Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Ngã Năm
tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280
của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 175; Điều 176; Điều 177 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án.
* Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Thị A về
việc yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H.
Buộc ông Lê Văn H và bà Hunh Th T cắt toàn bộ cây dừa ở vị trí số 03 và
04 tính từ lộ vào để không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ơng Thị
A,
Buộc ông Văn H Hunh Th T cắt tỉa phần ngọn dừa (tàu, trái
dừa) ở vị trí số 01, 02 và 05 tính từ lộ, vượt quá sang phần đất của nguyên đơn.
(05 cây dừa nêu trên do ông Văn H trồng để làm ranh đất giữa nhà của
ông Văn H Dương Th A tại khóm V, Phường C, th N, tnh Sóc
Trăng.)
2/ Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ: số tiền 700.000 đồng. A
ông H mỗi người chịu là 350.000 đồng. A đã nộp xong, ông H trách nhiệm
trả cho bà A 350.000 đồng.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Dương Thị A được miễn tiền án phí.
Ông Lê Văn H phải chịu là 300.000 đồng.
4/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
6
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.
Nơi nhận:
- VKSND thị xã Ngã Năm;
- Chi cục THADS thị xã Ngã Năm;
- Phòng KTNV-THA TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Các đương sự;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Trúc Phương
Tải về
Bản án số 42/2023/DS-ST Bản án số 42/2023/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất