Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT ngày 24/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 41/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT ngày 24/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 41/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị Hồng P; sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 42/2026/HNGĐ-ST, ngày 12/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk về phân chia tài sản chung.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 41/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 24-9-2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn;
Các Thẩm phán: 1. Ông Lê Ngọc Minh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 29/2026/TLPT-HNGĐ,
ngày 04 tháng 8 năm 2026 về việc
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn”. Do Bản án dân s sơ thẩm số 42/2026/HNGĐ – ST, ngày 12/6/2026 của
Toà án nhân dân khu vc 9 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 37/2026/QĐ-PT, ngày
12/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2026/QĐ-PT, ngày 04/9/2026 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giữa các đương s:
1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Hồng P; Sinh năm 1975; CCCD số: 0521.7501.
7273, ngày cấp: 12/8/2021; địa chỉ: Tổ dân phố 12, xã ED, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Số
nhà 01, đường NCT, xã ED, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Minh Đ; Sinh năm 1972; CCCD số: **************; Ngày
cấp: 12/8/2021; địa chỉ: Số nhà 36/19, đường NTĐ, tổ dân phố 12, xã ED, tỉnh Đắk
Lắk. Có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị Nh; Sinh năm 1977; CCCD số: **************; Ngày cấp
20/8/2021; địa chỉ: Số nhà 463/27, đường NVL, tổ dân phố LHC2, phường TQT,
tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
3.2. Bà Lê Nữ Lương U; Sinh năm 1986; CCCD số: **************; Ngày
cấp: 12/4/2022; địa chỉ: Thôn TL, xã TP, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
2
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đinh Thị Hồng P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Đinh
Thị Hồng P trình bày tóm tắt:
Bà với ông Lê Minh Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của
pháp luật vào ngày 01 tháng 08 năm 2007, tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện ST,
tỉnh Quảng Ngãi. Ông bà có 01 con chung là Lê Bá Th, sinh ngày 27 tháng 3 năm
2009; Tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của thửa đất diện tích
khoảng 200m
2
, tại tổ dân phố 12, xã ED, tỉnh Đắk Lắk. Quyền sử dụng đất và tài
sản trên đất của thửa đất số 164, tờ bản đồ 18, diện tích 4.169m
2
, tại thôn 4, xã ED,
tỉnh Đắk Lắk. Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của thửa đất số 168, tờ bản đồ
18, diện tích 3.931m
2
, tại thôn 4, xã ED, tỉnh Đắk Lắk. Bà và ông Đ không có nợ
chung.
Trong quá trình chung sống, ông bà có quá nhiều mâu thuẫn, không còn quan
tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly
thân nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Sau khi ly hôn, bà có nguyện
vọng nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Còn về cấp dưỡng nuôi con: Bà
yêu cầu ông Đ cấp dưỡng mức 2.000.000đ/tháng. Tài sản chung chia mỗi người ½.
Nguyện vọng của bà là giao toàn bộ tài sản cho ông Đ sở hữu, quản lý và sử dụng.
Ông Đ có trách nhiệm thanh toán lại cho bà ½ giá trị tài sản. Trường hợp ông Đ
không đồng ý, thì bà yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Sau đó, bà thay đổi một phần nội dung khởi kiện, cụ thể đối với phần tranh
chấp về tài sản chung, bà chỉ yêu cầu Tòa án phân chia căn nhà (xác nhà) tọa lạc
trên thửa đất có diện tích 200m
2
tại tổ dân phố 12, xã ED, tỉnh Đắk Lắk. Yêu cầu
Tòa án phân chia quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của thửa đất 164 và thửa đất
168 cùng tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại xã ED, tỉnh Đắk Lắk. Đối với quyền sử dụng
đất của thửa đất có diện tích 200m
2
tại tổ dân phố 12, xã ED, tỉnh Đắk Lắk (Chưa
có giấy chứng nhận) bà không yêu cầu.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông Lê Minh Đ trình bày
tóm tắt:
Ông muốn gia đình đoàn tụ. Nếu bà P cương quyết ly hôn, thì ông đồng ý.
Còn về phần con chung, nếu con muốn ở với ai, thì theo nguyện vọng của con. Con
ở với cha, thì mẹ cấp dưỡng. Con với với mẹ, thì cha cấp dưỡng. Về phần tài sản:
Đồng ý chia căn nhà (xác nhà) tọa lạc trên diện tích đất 200m
2
, tại thôn 12 xã ED,
tỉnh Đắk Lắk. Không đồng ý chia tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của
các thửa đất 164 và 168 cùng tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận số BU 875826,
ngày 23 tháng 7 năm 2014 của UBND huyện EH, tỉnh Đắk Lắk và theo Giấy chứng
nhận số BK 351866, ngày 11 tháng 4 năm 2013 của UBND huyện EH, tỉnh Đắk
3
Lắk. Vì đó là tài sản riêng của ông có trước hôn nhân. Về nợ chung: Ông yêu cầu
chia mỗi người ½.
Cháu Lê Bá Th trình bày tóm tắt:
Cháu là con của ông Đ, bà P. Cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
Bà Lê Thị Nh trình bày tóm tắt:
Do ông Đ, bà P vay tiền ngân hàng và khi đến hạn bà P không ký để đáo hạn,
do vậy ông Đ vay tiền bà để thanh toán. Tuy nhiên do bà không chuyển được tiền
cho nên bà có nhờ bà U chuyển cho ông Đ số tiền 146.000.000đ. Nay bà yêu cầu
ông Đ trả số tiền trên và bà sẽ viết đơn yêu cầu độc lập.
Bà Lê Nữ Lương U trình bày tóm tắt:
Vì bà Nhi không chuyển khoản được nên bà Nhi nhờ bà chuyển tiền cho ông
Đ 03 lần với tổng số tiền là 146.000.000đ để ông Đ đáo hạn ngân hàng. Việc ông
Đ, bà P khởi kiện không liên quan đến bà.
Ông Nguyễn B trình bày tóm tắt:
Năm 1997, ông nhận chuyển nhượng của ông Lê Bá L thửa đất có diện tích
khoảng 200m
2
(không rõ số thửa, từ bản đồ) với giá khoảng 5.000.000đ đến
6.000.000đ. Khi nhận chuyển nhượng không có giấy tờ gì, không có người làm
chứng, chỉ giao dịch bằng lời nói với nhau.
Năm 1999, ông xây nhà tạm, thì ông Đ vào ở chung. Ông Đ không góp chung
tiền làm nhà.
Năm 2010, ông chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn T (Cha đẻ của ông Lê
Minh Đ) với giá 10.000.000đ. Khi chuyển nhượng cho ông T, ông có viết giấy ngày
15 tháng 12 năm 2010. Ông chuyển nhượng cho ông T chứ không chuyển nhượng
cho ông Đ và bà P. Ông Đ và bà P cũng không góp tiền làm chung nhà với ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2026/HNGĐ-ST, ngày 12/6/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; các Điều 147; 157; 158; 165; 166; 200; 227; 271 và Điều 273 của Bộ luật tố
tụng dân s;
- Căn cứ các Điều 205; 207; 213; 219 của Bộ luật dân s;
- Căn cứ các Điều 33; 34; 43; 51; 56; 58; 62; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn
nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hồng P về việc yêu cầu Tòa
án giải quyết ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng.
+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận s thuận tình ly hôn giữa bà Đinh Thị
Hồng P với ông Lê Minh Đ. Cho bà Đinh Thị Hồng P ly hôn với ông Lê Minh Đ.
4
+ Về con chung:
Công nhận s thỏa thuận giữa bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ. Giao
con chung là cháu Lê Bá Th, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2013 cho bà Đinh Thị Hồng
P trc tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ
18 tuổi).
Ông Lê Minh Đ có quyền, nghĩa vụ chăm nom con chung mà không ai được
quyền cản trở. Trường hợp ông Lê Minh Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung,
thì bà Đinh Thị Hồng P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của
ông Lê Minh Đ.
Trường hợp các bên có nguyện vọng thay đổi người trc tiếp nuôi con, thì
thc hiện theo quy định của pháp luật.
+ Về cấp dưỡng nuôi con:
Công nhận s thỏa thuận của bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ. Buộc
ông Lê Minh Đ cấp dưỡng cho bà Đinh Thị Hồng P để nuôi con với mức
2.000.000đ/tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu Thiện tròn 18 tuổi.
Trường hợp các bên có nguyện vọng thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, thì
thc hiện theo quy định của pháp luật.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hồng P về việc
yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung.
2.1. Công nhận s thỏa thuận của bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ.
Giao cho ông Lê Minh Đ sở hữu đối với Căn nhà xây cấp 4, tường gạch không tô,
mái lợp ngói, nền gạch men, cửa kéo bằng sắt, xây dng năm 2014. Tọa lạc (trên,
gắn liền) với Thửa đất có diện tích 200m
2
tại tổ dân phố 12, xã ED, tỉnh Đắk Lắk.
Tứ cận: Đông giáp đất ông Đ1 (Thửa 48, 49, 50 và thửa 51), dài 17,76m; Tây giáp
đất ông H (Thửa 47), dài 19,72m; Nam giáp đất ông Kh (Thửa 53), rộng 9,66m; Bắc
giáp đất ông Tr (Thửa 34), rộng 9,67m.
(Diện tích, vị trí, kích thước, tứ cận và tài sản trên đất của thửa đất có đặc
điểm như trong Bản vẽ hiện trạng sử dụng đất và biên bản xem xét thẩm định lưu
hồ sơ vụ án).
Buộc ông Lê Minh Đ thanh toán (trả) cho bà Đinh Thị Hồng P số tiền
100.000.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân s, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sau khi thc hiện xong nghĩa vụ tài chính cho bà Đinh Thị Hồng P, ông Lê Minh
Đ có quyền và có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để đăng ký
biến động đất đai theo quy định của pháp luật (Nếu đủ điều kiện theo quy định của
5
pháp luật về đất đai). Trường hợp một trong các bên đương s không hợp tác, thì đương
s còn lại có quyền t mình liên hệ với cơ quan chuyên môn để hoàn tất thủ tục.
2.2. Công nhận s thỏa thuận của bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ.
Giao cho ông Lê Minh Đ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của Thửa đất số 164,
tờ bản đồ 18, diện tích 4.169m
2
thuộc thôn 4, xã ED. Tứ cận: Đông giáp đất ông B
(Thửa 34), dài 97,61m; Tây giáp đất ông T và ông V (Thửa 26, 32 và thửa 61) dài
98,40m; Nam giáp đất ông Trần Th (Thửa 40), rộng 57,63m; Bắc giáp đất ông B
(Thửa 34), rộng 57,44m. Tài sản trên đất gồm có: 300 cây cà phê TR4, trồng năm
2025.
(Diện tích, vị trí, kích thước, tứ cận và tài sản trên đất của thửa đất có đặc
điểm như trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số BK351866 ngày 11 tháng 4
năm 2013 của UBND huyện EH, tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Lê Minh Đ, sinh năm
1972 và có đặc điểm như trong Bản vẽ, trích đo hiện trạng sử dụng đất, biên bản
xem xét thẩm định được lưu trong hồ sơ vụ án).
Ông Lê Minh Đ phải thanh toán (trả) cho bà Đinh Thị Hồng P số tiền
156.337.500đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân s, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sau khi thc hiện xong nghĩa vụ tài chính cho bà Đinh Thị Hồng P, ông Lê Minh
Đ có quyền và có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để đăng ký
biến động đất đai theo quy định của pháp luật (Nếu đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật về đất đai). Trường hợp một trong các bên đương s không hợp tác, thì đương
s còn lại có quyền t mình liên hệ với cơ quan chuyên môn để hoàn tất thủ tục.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hồng P về việc yêu
cầu Tòa án phân chia tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của
Thửa đất 168, tờ bản đồ 18, diện tích 3.931m
2
, thuộc thôn 4, xã Ea ED, tỉnh Đắk
Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 875826, ngày 23 tháng 7 năm
2014 của UBND huyện EH, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo.
Ngày 26/6/2026, bà Đinh Thị Hồng P kháng cáo với nội dung: bà P kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm số: 42/2026/HNGĐ – ST, ngày 12 tháng 6 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vc 9 - Đắk Lắk. Theo hướng: Định giá lại đối với các tài sản
gồm, thửa đất số 164, tờ bản đồ số 18, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BK 351866, cấp ngày 11/4/2013 mang tên ông Lê Minh Đ và thửa đất số 168, tờ
bản đồ số 18, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 875826, cấp ngày
23/7/2014 mang tên ông Lê Minh Đ, Đinh Thị Hồng P. Đồng thời yêu cầu chia đôi
giá trị tài sản chung trên theo kết quả định giá.
6
Tại buổi làm việc ngày 12/8/2026, bà P xin rút nội dung kháng cáo về việc yêu
cầu Định giá lại đối với các tài sản và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về việc chia
tài sản chung, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia đôi giá trị tài sản chung đối với
các thửa đất nêu trên theo giá trị tài sản đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn ông Lê
Minh Đ giữ nguyên ý kiến. Các đương s không t thỏa thuận được với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định
Bộ luật Tố tụng dân s. Các đương s chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s, đề nghị HĐXX
chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đinh Thị Hồng P. Sửa một phần bản án hôn
nhân gia đình sơ thẩm số 42/2026/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân khu vc 9 - Đắk
Lắk về phân chia tài sản chung đối với thửa đất 168 là tài sản chung của vợ chồng
để phân chia theo tỉ lệ ông Đ 7 phần và bà P 3 phần; giao toàn bộ đất cho ông Đ
quản lý, sử dụng và buộc ông Đ có nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch cho bà P
tương ứng với tỷ lệ nêu trên; Không chấp nhận kháng cáo của bà P đối với phần yêu
cầu phân chia lại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 18.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của các đương s, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
[1] Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Hồng P nộp
trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên hợp
lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại buổi làm việc ngày 12/8/2026, bà P t nguyện rút nội dung kháng cáo về
việc yêu cầu định giá lại các tài sản tranh chấp và giữ nguyên nội dung yêu cầu chia
đôi giá trị tài sản chung đối với thửa đất số 164 và thửa đất số 168 theo kết quả định
giá đã được cấp sơ thẩm xác định. Việc rút một phần kháng cáo là t nguyện, phù
hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần kháng
cáo của bà P và không xem xét đối với nội dung này.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Đinh Thị Hồng P:
[2.1] Đối với Thửa đất số 168, tờ bản đồ số 18, diện tích 3.931m² tại thôn 4,
xã ED:
Hồ sơ vụ án thể hiện thửa đất số 168 có nguồn gốc do ông Lê Minh Đ khai
hoang, sử dụng từ năm 1995. Thời điểm ông Đ khai hoang, ông Đ và bà Đinh Thị
Hồng P chưa đăng ký kết hôn; hai bên đăng ký kết hôn ngày 01/8/2007. Do đó, xét
về nguồn gốc ban đầu, quyền sử dụng đất có cơ sở xác định được hình thành từ
trước thời kỳ hôn nhân.
7
Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 875826, ngày 23/7/2014
của UBND huyện EH được cấp trong thời kỳ hôn nhân và người sử dụng đất được
ghi nhận là “Hộ ông Lê Minh Đ và bà Đinh Thị Hồng P”. Điều này thể hiện ý chí
của ông Lê Minh Đ đã nhập tài sản riêng của ông Đ vào tài sản chung của vợ chồng.
Ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà P được ghi tên
trên Giấy chứng nhận chỉ mang tính chất xác nhận tư cách thành viên hộ gia đình
mà không có quyền đối với quyền sử dụng đất; đồng thời cũng không có tài liệu thể
hiện giữa vợ chồng có thỏa thuận xác định quyền sử dụng đất này là tài sản riêng
của ông Đ.
Do đó, có căn cứ xác định quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 168 là tài sản
thuộc khối tài sản chung của vợ chồng để xem xét phân chia khi ly hôn.
Xét nguồn gốc hình thành quyền sử dụng đất, thời điểm cấp Giấy chứng nhận,
quá trình quản lý, sử dụng tài sản và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội
đồng xét xử xét thấy cần xác định ông Lê Minh Đ được hưởng 70% giá trị quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 168, bà Đinh Thị Hồng P
được hưởng 30% giá trị. Việc phân chia này vừa bảo đảm quyền tài sản của bà P,
vừa tính đến nguồn gốc tài sản do ông Đ tạo lập trước thời kỳ hôn nhân.
Bà P kháng cáo yêu cầu chia đôi giá trị thửa đất số 168. Xét thấy yêu cầu xác
định thửa đất số 168 là tài sản chung của vợ chồng là có căn cứ, nhưng yêu cầu chia
theo tỷ lệ 50% - 50% là chưa có cơ sở do chưa chứng minh được công sức đóng góp
của bà P tương đương với ông Đ.
Vì vậy, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đinh Thị Hồng P, sửa
bản án sơ thẩm theo hướng xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
của thửa đất số 168 là tài sản chung của vợ chồng; ông Đ được hưởng 70% giá trị,
bà P được hưởng 30% giá trị.
Đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của Thửa đất số 168, tờ bản đồ
số 18, diện tích 3931m
2
: Bà P đưa ra giá 150.000.000đ/sào (Tương đương
150.000đ/m
2
). Ông Đ đưa ra giá 100.000.000đ/sào (Tương đương 100.000đ/m
2
).
căn cứ Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC,
ngày 28 tháng 3 năm 2014 của TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ tư pháp, Bộ
tài chính xác định giá tài sản chung có giá trung bình là (150.000đ/m
2
+
100.000đ/m
2
) : 2 = 125.000đ/m
2
. Giá trị tài sản bà P được hưởng 125.000đ/m
2
x
3.931m
2
= 491.375.000đ : 10 x 3 = 147.412.500đ. (Giá trị tài sản ông Đ được hưởng:
521.125.000đ - 156.337.500đ = 343.962.500đ).
Hiện nay ông Đ đang là người trc tiếp quản lý tài sản, bà P có nguyện vọng
giao cho ông Đ tài sản này. Vì vậy HĐXX giao cho ông Đ tiếp tục quản lý, sử dụng
đối với thửa đất số 168. Ông Đ phải thanh toán cho bà Đinh Thị Hồng P số tiền
147.412.500đ.
[2.2] Đối với Thửa đất số 164, tờ bản đồ số 18, diện tích 4.169m² tại thôn 4,
xã ED:
8
Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, thửa đất số 164 có nguồn gốc do ông Lê
Minh Đ nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn Tuynh từ năm 2004 lúc chưa kết
hôn với bà P. Nhưng thời điểm lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Đ và ông Tuynh là ngày 27/3/2013, trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng
ông Đ, bà P.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ cho rằng đây là tài sản riêng; bà P yêu
cầu xác định là tài sản chung. Bà P không xuất trình được chứng cứ chứng minh
mình trc tiếp đóng góp tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất vào năm 2004. Tuy
nhiên, quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK
351866 được cơ quan có thẩm quyền cấp ngày 11/4/2013, trong thời kỳ hôn nhân
của ông Đ và bà P. Tài sản trên đất tạo lập trong thời kỳ hôn nhân hiện có 300 cây
cà phê TR4 được trồng năm 2025. Trong quá trình hôn nhân vợ chồng cùng quản
lý, sử dụng tài sản và hai vợ chồng bà P, ông Đ dùng tài sản này để thế chấp nhiều
lần để đảm bảo các khoản vay của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, xét
về quan hệ tài sản vợ chồng, có cơ sở để xác định đây là tài sản thuộc khối tài sản
chung để xem xét khi chia tài sản chung của vợ chồng, đồng thời phải xem xét đầy
đủ nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp của mỗi bên khi phân chia.
Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khi chia tài sản chung, về nguyên
tắc tài sản chung được chia đôi nhưng phải tính đến các yếu tố, trong đó có công
sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
Trong vụ án này, mặc dù thửa đất có nguồn gốc từ việc ông Đ nhận chuyển
nhượng trước thời điểm kết hôn, nhưng quyền sử dụng đất được cấp Giấy chứng
nhận trong thời kỳ hôn nhân; quá trình quản lý, sử dụng và tạo lập giá trị tài sản sau
đó diễn ra trong thời kỳ hôn nhân. Bà P có quyền đối với phần giá trị tài sản chung
tương ứng với công sức đóng góp của mình.
Xét nguồn gốc tài sản, thời điểm xác lập quyền, quá trình quản lý, sử dụng và
chứng cứ do các bên cung cấp, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Đ được hưởng
70% giá trị tài sản và bà P được hưởng 30% giá trị tài sản là có căn cứ. Mức phân
chia này đã xem xét đến việc ông Đ là người có nguồn gốc tạo lập quyền sử dụng
đất từ trước khi kết hôn, đồng thời bảo đảm quyền lợi của bà P đối với phần giá trị
tài sản được hình thành, duy trì trong thời kỳ hôn nhân.
Bà P kháng cáo yêu cầu chia đôi giá trị thửa đất số 164 nhưng không cung cấp
được chứng cứ mới chứng minh công sức đóng góp của mình tương đương với ông
Đ hoặc chứng minh có căn cứ pháp lý để chia tài sản theo tỷ lệ 50% - 50%. Vì vậy,
không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo này.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của
thửa số 164 cho ông Đ quản lý, sử dụng và buộc ông Đ thanh toán cho bà P phần
giá trị tài sản bà được hưởng là phù hợp với hiện trạng sử dụng tài sản, bảo đảm
việc ổn định quản lý, sử dụng đất và quyền lợi của các bên.
9
[3] Từ những phân tích trên: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp
nhận một phần đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Hồng P. Xét quan điểm của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử
phúc thẩm sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm về phân chia tài sản
chung đối với thửa đất 168 là tài sản chung của vợ chồng để phân chia theo tỉ lệ ông
Đ 7 phần và bà P 3 phần; giao toàn bộ đất cho ông Đ quản lý, sử dụng và buộc ông
Đ có nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch cho bà P tương ứng với tỷ lệ nêu trên;
Không chấp nhận kháng cáo của bà P đối với phần yêu cầu phân chia lại thửa đất
số 164, tờ bản đồ số 18.
[4]. Về chi phí tố tụng, chi phí đo đạc:
+ Chi phí tố tụng, chi phí đo đạc:
- Bà Đinh Thị Hồng P phải chịu 14.000.000đ : 10 x 3 = 4.200.000đ tiền chi
phí đo đạc; 2.400.000đ : 10 x 3 = 720.000đ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Bà Đinh Thị Hồng P nộp đủ không phải nộp bổ sung.
- Ông Lê Minh Đ phải chịu 14.000.000đ : 10 x 7 = 9.800.000đ tiền chi phí đo
đạc; 2.400.000đ : 10 x 7 = 1.680.000đ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Trả
lại cho bà Đinh Thị Hồng P 9.800.000đ + 1.680.000đ = 11.480.000đ sau khi thu
được của ông Lê Minh Đ.
[5]Về án phí:
[5.1] Về án phí dân s sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Đinh Thị Hồng P phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Ông Lê Minh Đ phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ phải chịu án phí tương ứng với giá
trị phần tài sản được chia. Cụ thể, bà P phải chịu 20.000.000đ + 4%[(147.412.500đ
+156.337.500đ + 100.000.000đ) – 400.000.000đ] = 20.150.000đồng tiền án phí dân
s sơ thẩm. Ông Đ phải chịu 36.000.000đ + 3%[(100.000.000đ + 364.787.500đ +
343.962.500đ) - 800.000.000đ] = 36.262.500đ tiền án phí dân s sơ thẩm.
Như vậy bà P phải chịu 300.000đ + 20.150.000đ = 20.450.000đ tiền án phí
dân s sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 7.800.000đ tiền tạm ứng án phí mà bà Đinh Thị
Hồng P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002860 ngày 26
tháng 6 năm 2025. Bà Đinh Thị Hồng P còn tiếp tục phải nộp 20.450.000đ -
7.800.000đ = 12.650.000đ tiền án phí dân s sơ thẩm.
Ông Đ phải chịu 300.000 đ + 36.262.500đ = 36.562.500đ tiền án phí dân s
sơ thẩm.
[5.2] Về án phí dân s phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, bà Đinh Thị
Hồng P không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lc pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
10
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân s;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị Hồng P; sửa
một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 42/2026/HNGĐ-ST, ngày
12/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 9 - Đắk Lắk về phân chia tài sản chung.
2. Áp dụng Điều 207; Điều 210; Điều 213; Điều 219 của Bộ luật dân s; Điều
33; Điều 34; Điều 38; khoản 3 Điều 39; Điều 46; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều
58; Điều 59 ; Điều 62; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và
gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hồng P về việc yêu cầu
Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng.
+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận s thuận tình ly hôn giữa bà Đinh Thị
Hồng P với ông Lê Minh Đ. Cho bà Đinh Thị Hồng P ly hôn với ông Lê Minh Đ.
+ Về con chung:
Công nhận s thỏa thuận giữa bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ. Giao
con chung là cháu Lê Bá Th, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2013 cho bà Đinh Thị Hồng
P trc tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ
18 tuổi).
Ông Lê Minh Đ có quyền, nghĩa vụ chăm nom con chung mà không ai được
quyền cản trở. Trường hợp ông Lê Minh Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung,
thì bà Đinh Thị Hồng P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của
ông Lê Minh Đ.
Trường hợp các bên có nguyện vọng thay đổi người trc tiếp nuôi con, thì
thc hiện theo quy định của pháp luật.
+ Về cấp dưỡng nuôi con:
Công nhận s thỏa thuận của bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ. Buộc
ông Lê Minh Đ cấp dưỡng cho bà Đinh Thị Hồng P để nuôi con với mức
2.000.000đ/tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu Thiện tròn 18 tuổi.
Trường hợp các bên có nguyện vọng thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, thì
thc hiện theo quy định của pháp luật.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hồng P về việc
yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung.
2.1. Công nhận s thỏa thuận của bà Đinh Thị Hồng P và ông Lê Minh Đ.
Giao cho ông Lê Minh Đ sở hữu đối với Căn nhà xây cấp 4, tường gạch không tô,
mái lợp ngói, nền gạch men, cửa kéo bằng sắt, xây dng năm 2014. Tọa lạc (trên,
gắn liền) với Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 17, diện tích 177,7m
2
tại xã ED, tỉnh Đắk
11
Lắk. Tứ cận: Đông giáp đất ông Đ1 (Thửa 48, 49, 50 và thửa 51); Tây giáp đất ông
H (Thửa 47); Nam giáp đất ông Kh (Thửa 53); Bắc giáp đất ông Tr (Thửa 34). (Diện
tích, vị trí, kích thước, tứ cận của thửa đất có đặc điểm như trong Bản vẽ hiện trạng
sử dụng đất do đơn vị đo đạc công ty Cổ phần đo đạc Duy Bình thực hiện gửi kèm
theo bản án).
Buộc ông Lê Minh Đ thanh toán (trả) cho bà Đinh Thị Hồng P số tiền
100.000.000đồng (phần giá trị tài sản bà P được hưởng đối với Thửa đất số 48, tờ
bản đồ số 17 nêu trên).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi
đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Sau khi thc hiện xong nghĩa vụ tài chính cho bà Đinh Thị Hồng P, ông Lê Minh
Đ có quyền và có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để đăng ký
biến động đất đai theo quy định của pháp luật (Nếu đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật về đất đai). Trường hợp một trong các bên đương s không hợp tác, thì đương
s còn lại có quyền t mình liên hệ với cơ quan chuyên môn để hoàn tất thủ tục.
2.2. Giao cho ông Lê Minh Đ được quyền nhận và quản lý các tài sản gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của Thửa đất số 164 (củ) 33 (mới), tờ
bản đồ 18 (củ) 186 (mới), diện tích 4997.8m
2
thuộc xã ED, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất Số BK351866 ngày 11 tháng 4 năm 2013 của UBND
huyện EH, tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Lê Minh Đ, sinh năm 1972. Tứ cận: Đông
giáp đất ông B (Thửa 34); Tây giáp đất ông T và ông V (Thửa 26, 32 và thửa 61);
Nam giáp đất ông Trần Th (Thửa 40); Bắc giáp đất ông B (Thửa 34). Tài sản trên
đất gồm có: 300 cây cà phê TR4, trồng năm 2025. (Diện tích, vị trí, kích thước, tứ
cận của thửa đất có đặc điểm như trong Bản vẽ hiện trạng sử dụng đất do đơn vị
đo đạc công ty Cổ phần đo đạc Duy Bình thực hiện gửi kèm theo bản án).
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của Thửa đất 168 (củ) 31 (mới), tờ
bản đồ 18 (củ) 186 (mới), diện tích 4012.6m
2
thuộc xã Ea ED, tỉnh Đắk Lắk theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 875826 ngày 23 tháng 7 năm 2014 của
UBND huyện EH, tỉnh Đắk Lắk cấp cho hộ ông Lê Minh Đ và bà Đinh Thị Hồng
P. Tứ cận: Đông giáp đất ông Nguyễn Văn B1 (Thửa 34); Tây giáp đất ông Nguyễn
Văn B1; Nam giáp đất ông Dương Công T3; Bắc giáp đất ông Dương Công T3. Tài
sản trên đất gồm có: 48 cây sầu riêng Đôna, trồng năm 2025; 300 cây cà phê ghép
TR4 trồng năm 2025; 01 chòi xây xi măng lợp ngói. (Diện tích, vị trí, kích thước,
tứ cận của thửa đất có đặc điểm như trong Bản vẽ hiện trạng sử dụng đất do đơn vị
đo đạc công ty Cổ phần đo đạc Duy Bình thực hiện gửi kèm theo bản án).
- Ông Lê Minh Đ phải thanh toán (trả) cho bà Đinh Thị Hồng P số tiền
156.337.500đ + 147.412.500đ = 303.750.000 đồng (phần giá trị tài sản bà P được
hưởng đối với Thửa đất số 164 (củ) 33 (mới), tờ bản đồ 18 (củ) 186 (mới), thuộc xã
12
ED, tỉnh Đắk Lắk và Thửa đất 168 (củ) 31 (mới), tờ bản đồ 18 (củ) 186 (mới), thuộc
xã Ea ED, tỉnh Đắk Lắk nêu trên).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi
đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Sau khi thc hiện xong nghĩa vụ tài chính cho bà Đinh Thị Hồng P, ông Lê Minh
Đ có quyền và có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để đăng ký
biến động đất đai theo quy định của pháp luật (Nếu đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật về đất đai). Trường hợp một trong các bên đương s không hợp tác, thì đương
s còn lại có quyền t mình liên hệ với cơ quan chuyên môn để hoàn tất thủ tục.
3. Về chi phí tố tụng, chi phí đo đạc:
+ Chi phí tố tụng, chi phí đo đạc:
- Bà Đinh Thị Hồng P phải chịu 4.200.000 đồng tiền chi phí đo đạc; 720.000
đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà Đinh Thị Hồng P nộp đủ không
phải nộp bổ sung.
- Ông Lê Minh Đ phải chịu 9.800.000 đồng tiền chi phí đo đạc; 1.680.000
đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Trả lại cho bà Đinh Thị Hồng P
11.480.000 đồng sau khi thu được của ông Lê Minh Đ.
4. Về án phí:
4.1. Về án phí dân s sơ thẩm:
- Bà Đinh Thị Hồng P phải nộp 20.450.000 đồng tiền án phí dân s sơ thẩm.
Khấu trừ số tiền 7.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Đinh Thị Hồng P đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002860, ngày 26 tháng 6 năm
2025. Bà Đinh Thị Hồng P còn tiếp tục phải nộp 12.650.000 đồng tiền án phí dân
s sơ thẩm.
- Ông Lê Minh Đ phải nộp 36.562.500đồng tiền án phí dân s sơ thẩm.
4.2. Về án phí dân sphúc thẩm: nguyên đơn bà Đinh Thị Hồng P không phải
nộp án phí dân s phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Đinh Thị Hồng P 300.000 đồng tiền
tạm ứng án phí dân s phúc thẩm mà bà Đinh Thị Hồng P đã nộp theo biên lai thu
số 0000140, ngày 30/8/2026 của Thi hành án dân s tỉnh Đắk Lắk.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lc pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lc pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều
2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
13
- TAND tối cao; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vc 9 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vc 9 – Đắk Lắk;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Duy Thuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT Bản án số 41/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất