Bản án số 40/2022/DS-ST ngày 29/08/2022 của TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 40/2022/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 40/2022/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 40/2022/DS-ST ngày 29/08/2022 của TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp chia di sản thừa kế |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Việt Yên (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 40/2022/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/08/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị C đề nghị chia thừa kế chị K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN VIỆT YÊN Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 40/2022/DS-ST
Ngày: 29-8-2022
V/v “Tranh chấp
chia di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Ngọc
2. Bà Dương Thị Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
- Đ diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Dương Quỳnh- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26, 29 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện
Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
10/2022/TLST- DS
ngày 10 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp chia di sản
thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST- DS ngày 11
tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2022/QĐST- DS ngày 28
tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1976 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Phúc Thượng, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh
Bắc Giang.
* Bị đơn: Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1968 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền L nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1971 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Ngoài, xã Cao Xá, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1974 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Ngoài, xã Cao Xá, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2
Nơi cư trú: Đường 26, Tổ 3, khu phố 1, phường Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên, tỉnh
Bình Dương.
- Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1983 (có mặt)
Đều cư trú: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Giáp Văn L, sinh năm 1975 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Cháu Giáp Văn M, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Người Đ diện theo pháp luật của cháu M: Anh Giáp Văn L, sinh năm 1975 (có
mặt).
Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- UBND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Đ L- Chủ tịch
UBND huyện Đ diện theo pháp luật (vắng mặt).
- UBND xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên do ông Thân Văn T- Chủ tịch
xã Đ diện theo pháp luật (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 21 tháng 11 năm 2021 và đơn khởi kiện bổ
sung, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, biên bản hòa giải nguyên đơn chị
Hoàng Thị C trình bày:
Chị là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống đã chết năm 1999, con gái
của bà Vũ Thị Ái chết năm 2010, ông Hoàng Văn Khương đã chết năm 1999. Cụ
Huống sinh được sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái, ngoài ra cụ Huống
không có con đẻ con nuôi nào khác. Bố mẹ chị sinh được 07 người con gồm: chị,
Hoàng Thị K, Hoàng Văn L, Hoàng Thị C, Hoàng Văn Đ, Hoàng Thị T, Hoàng
Thị L. Ngoài ra bố, mẹ chị không có người con đẻ, con nuôi nào khác.
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20,
diện tích 378m
2
), địa chỉ thửa đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang là do bà ngoại chị là cụ Nguyễn Thị Huống ở và có từ trước
lúc chị sinh ra, có từ năm nào thì chị không rõ. Sau đó cụ Huống lấy cụ Vũ Bá
Dư có sinh được 01 người con bà Vũ Thị Ái. Lúc chị sinh ra thì cụ Dư đã chết và
chết năm nào thì chị không biết. Mẹ chị ở với cụ Huống ở thửa đất này từ lúc bé
đến năm khoảng năm 1967 thì mẹ chị lấy ông Hoàng Văn Khương nhưng bố mẹ
chị vẫn ở cùng với cụ Huống trên đất này. Quá trình sinh sống trên đất thì bố mẹ
sinh được 07 người con như chị đã kể ở trên. Trước khi chị sinh ra thì có các tài
sản gì trên đất của ai thì chị không nắm được. Khi chị lớn lên thì bố mẹ chị có
xây dựng 07 gian công trình phụ khoảng năm 1990 và 03 gian nhà cấp 4 khoảng
năm 1998-1999. Ngoài ra không còn có các công trình gì khác.
Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em cụ thể: Chị Hoàng Thị K ở
từ nhỏ trên đất đó đến bây giờ, chị K có tu sửa 02 gian nhà cũ ngày xưa khoảng
2015-2016 và lát nền nhà 03 gian, lát 01 sân gạch, ngoài ra chị K không kiến thiết
được tài sản gì khác. Anh Hoàng Văn L, anh Hoàng Văn Đ sinh sống ở đất đó
đến khoảng năm 1979 thì anh L, anh Đ chuyển về thôn Ngoài, xã Cao Xá sinh
3
sống vì điều kiện lúc đó nhà chị ở hai nơi, hai anh không có công sức đóng góp
gì trên thửa đất trên. Chị Hoàng Thị C ở trên đất đó từ nhỏ đến khoảng năm 1992
chị C đi lấy lấy chồng ở cùng thôn không ở trên đất này nữa, chị C có công sức
đóng góp vì chị C làm ruộng, còn việc thu chi là do chị K quản lý, việc chị C có
công sức đóng góp cụ thể như T nào thì chị không nắm được. Còn chị là Hoàng
Thị C sinh ra và lớn lên đến năm 2001 đi lấy chồng, quá trình sinh sống trên đất
chị học đến năm lớp 7 phải nghỉ học để làm đồng cùng chị K, công sức đóng góp
của chị là chị K làm gì chị làm đó, thu chi thì chị K cầm hết, quản lý; Tiền làm
nhà 03 gian của bố mẹ, chị K có đưa tiền để bố mẹ chị làm nhà trong đó có công
sức của chị thì mới có tiền để đưa cho bố mẹ làm nhà, ngoài ra chị không có công
sức đóng góp gì khác. Em chị là Hoàng Thị T và Hoàng Thị L thì T ở trên đất đến
khoảng năm 1999 vào miền nam làm ăn, L ở đến khoảng năm 1999-2000 đi miền
nam làm ăn đến năm 2008 về nhưng không ở trên đất này nữa, quá trình chung
sống trên đất thì chỉ phụ việc chăn lợn, gà và làm đồng với chị K, được bao nhiêu
chị K L thu chi, quản lý.
Đến năm 2000 chị K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mẹ chị
và toàn bộ các anh chị em chị không ai được biết và quá trình sinh sống trên đất
thì mẹ chị chưa bao giờ họp gia đình để tuyên bố tặng cho riêng cá nhân chị K.
Khi cụ Huống còn sống thì bố mẹ chị chăm sóc bà ngoại, khi bố mẹ chị còn sống
anh L và các anh chị em là người là chăm sóc bố mẹ chị đến khi chết, khi bố mẹ
chết cũng do cả anh chị em cùng tập trung đứng ra lo ma chay, mai táng cho bố
mẹ. Đối với chi phí mai táng phí của bố mẹ, chị là con có nghĩa vụ phải lo cho bố
mẹ nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tiền mai táng phí. Khi bố
mẹ chị chết đi không để L nghĩa vụ về tài sản nào chưa thanh toán.
Năm 1999 cụ Huống chết không để L di chúc, năm 1999 bố chị chết cũng
không để L di chúc, năm 2010 thì mẹ chết cũng không để L di chúc. Khi còn sống
thì bố mẹ chị chưa phân chia đất cho các con. Nay cụ Huống, bố mẹ chị chết, chị
đề nghị chia thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó
300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, diện tích
378m
2
), địa chỉ thửa đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh
Bắc Giang theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa chị Hoàng Thị C có mặt trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện với các lý do thửa đất này là của cụ Huống, bố mẹ chị để L, khi
chết chưa phân chia cho các con và chưa tuyên bố tặng cho riêng cá nhân ai. Chị
đề nghị chia thừa kế theo quy định của pháp luật, chị đề nghị nhận phần di sản
thừa kế được hưởng bằng đất, để các anh chị em làm nơi thờ cúng các cụ và bố
mẹ. Chị nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất hiện nay, có sự chênh lệch
0,3m
2
so với giấy chứng nhận là do sai số đo đạc, chị không có đề nghị giải quyết
nội dung gì khác.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải bị đơn chị
Hoàng Thị K có trình bày:
Chị là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống đã chết năm 1999, con gái bà
Vũ Thị Ái chết năm 2010, ông Hoàng Văn Khương đã chết năm 1999. Bà Huống
4
sinh được sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Bố mẹ chị bà Ái, ông Khương
sinh được 07 người con gồm: chị, Hoàng Thị C, Hoàng Văn L, Hoàng Thị C,
Hoàng Văn Đ, Hoàng Thị T, Hoàng Thị L. Ngoài ra bố, mẹ chị không có người
con đẻ, con nuôi nào khác.
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20,
diện tích 378m
2
), địa chỉ thửa đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang là đất của bà ngoại cụ Nguyễn Thị Huống ở và có từ trước
từ lúc chị sinh ra, có từ năm nào thì chị không rõ. Sau đó cụ Huống lấy ông tên
gì chị không nhớ và có sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Lúc chị sinh ra
ông này đã chết và chết năm nào thì chị không biết. Mẹ chị ở với cụ Huống ở
thửa đất này từ lúc bé đến năm bao nhiêu mẹ chị lấy ông Hoàng Văn Khương chị
không rõ, nhưng bố mẹ chị vẫn ở cùng với cụ Huống trên đất này. Quá trình sinh
sống trên đất thì bố mẹ chị sinh được 07 người con như chị đã kể ở trên. Trước
khi chị sinh ra thì trên đất có các tài sản gì của ai thì chị không nắm được.
Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em cụ thể: Chị ở từ nhỏ trên đất
đó đến bây giờ vẫn đang quản lý, sử dụng. Từ khi chị lớn lên trên đất có nhà 04
gian tường cay, nhà bếp lợp dạ. Sau đến cuối năm 1998 thì chị vay mượn tiền của
ai thì chị không nhớ để làm nhà 03 gian cấp 04, sân thềm. Tháng 8/1998 nhà chị
cháy chị L phải vay mượn để làm 07 gian công phụ. Toàn bộ công trình trên thì
do chị vay tiền của mọi người, cụ thể vay của ai thì chị không nhớ, xây dựng hết
bao nhiêu tiền chị cũng không nhớ. Toàn bộ công trình xây dựng này thì bố mẹ
chị và các anh chị em không ai có công sức đóng góp vào khối tài sản này. Sau
đó thửa đất các công trình tài sản trên đất được cải sửa vào năm bao nhiêu không
nhớ: chị có tu sửa L nhà cửa sân thềm, không nhớ tu sửa năm bao nhiêu. Quá
trình tu sửa công trình anh chị em không có ai có công sức đóng góp vào tài sản
trên đất này, toàn bộ là do chị bỏ tiền ra tu sửa. Hiện tại sinh sống trên đất gồm:
chị, chồng chị anh Giáp Văn L và con chồng cháu Giáp Văn M. Ngoài ra không
còn ai sinh sống trên thửa đất này. Chị sinh sống trên thửa đất này đến năm 2000
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu mang tên hộ bà Hoàng Thị
K. Năm 1997 mẹ chị cho cá nhân chị bằng miệng, lúc đó mẹ chị có nói với anh
Đ và chị thôi chứ không họp gia đình để tuyên bố cho chị đất. Tại thời điểm cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 thì gia đình gồm có bà Ái, chị, chị
Hoàng Thị C, chị Hoàng Thị T, chị Hoàng Thị L, ngoài ra không còn ai khác. Mẹ
chị và chị đi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị và từ khi cấp
giấy chị sử dụng từ đó cho đến nay. Năm 2020 chị đi kê khai cấp đổi L giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do chủ trương của Nhà nước cấp đổi L giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên hộ bà
Hoàng Thị K đối với thửa đất trên. Hiện nay thửa đất này vẫn do chị đang quản
lý, sử dụng và không kiến thiết thêm công trình và tài sản gì khác.
Anh Hoàng Văn L, anh Hoàng Văn Đ sinh sống ở đất đó đến khoảng năm
1979 anh L, anh Đ chuyển về thôn Ngoài, xã Cao Xá sinh sống vì điều kiện lúc
đó nhà chị ở hai nơi, hai anh không có công sức đóng góp gì trên thửa đất trên.
5
Chị Hoàng Thị C ở trên đất đó từ nhỏ sau đó chị đi lấy lấy chồng ở cùng thôn
không ở trên đất này nữa, đi lấy chồng năm nào thì chị không nhớ, chị C không
có công sức đóng góp gì trên thửa đất của chị đang quản lý, sử dụng. Chị Hoàng
Thị C sinh ra và lớn lên đến năm 2001 thì đi lấy chồng. Chị C không có công sức
đóng góp gì đối với thửa đất chị đang quản lý, sử dụng đó. Chị Hoàng Thị T và
Hoàng Thị L thì chị T ở trên đất đến khoảng năm 1999 vào miền năm làm ăn, chị
L ở đến khoảng năm 1999-2000 đi miền nam làm ăn đến năm 2008 thì về nhưng
không ở trên đất này nữa, quá trình chung sống trên đất thì không có công sức
đóng góp gì.
Năm 1999 cụ Huống chết không để L di chúc, năm 1999 bố chị chết không
để L di chúc, năm 2010 mẹ chết cũng không để L di chúc. Khi còn sống bố mẹ
chị chưa phân chia đất cho các con, mẹ chị trước khi chết chỉ nói miệng là cho
thửa đất trên cho chị. Nay cụ Huống, bố mẹ chị chết, chị C đề nghị chia thửa đất
số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, diện tích 378m
2
), địa chỉ thửa
đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo quy
định của pháp luật thì chị không đồng ý với lý do nhà chị vẫn còn cháu đích tôn
thờ cúng, mẹ chị dặn khi nào đi lấy chồng thì bàn giao L thửa đất trên cho anh Đ
quản lý, sử dụng.
Khi cụ Huống còn sống thì bố mẹ và chị chăm sóc bà ngoại, khi bố mẹ chị
còn sống thì các anh chị em là người là chăm sóc bố mẹ chị đến khi chết, khi bố
mẹ chết cũng do cả anh chị em cùng tập trung đứng ra lo ma chay, mai táng cho
bố mẹ. Đối với chi phí mai táng phí của bố mẹ, chị là con có nghĩa vụ phải lo cho
bố mẹ nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tiền mai táng phí. Khi
bố mẹ chị chết đi không để L nghĩa vụ về tài sản nào chưa thanh toán.
Tại phiên tòa chị Hoàng Thị K có mặt trình bày: Chị không nhất trí với yêu
cầu khởi kiện của chị C vì thửa đất này mẹ chị đã tuyên bố cho bằng miệng cho
chị, chị C không có bất kỳ một giấy tờ gì về việc mẹ chị cho chị C thửa đất này,
chị C không có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất này. Nếu
Tòa án giải quyết chia thừa kế thì chị nhận phần di sản thừa kế được hưởng và
yêu cầu được chia bằng đất. Chị nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất
hiện nay, có sự chênh lệch 0,3m
2
so với giấy chứng nhận là do sai số đo đạc, chị
không có đề nghị xem xét trích chia công sức bảo quản di sản thừa kế của bố mẹ
để L và không đề nghị giải quyết nội dung gì khác.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền L nghĩa vụ liên
quan anh Hoàng Văn L có ý kiến trình bày:
Anh là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống đã chết năm 1999, mẹ anh
bà Vũ Thị Ái chết năm 2010, ông Hoàng Văn Khương đã chết năm 1999. Cụ
Huống sinh được sinh được 01 người con bà Vũ Thị Ái. Bố mẹ anh bà Ái, ông
Khương sinh được 07 người con gồm: K, L, C, Đ, C, T, L. Ngoài ra bố, mẹ anh
không có con đẻ, con nuôi nào khác.
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20,
6
diện tích 378m
2
), địa chỉ thửa đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang là đất của bà ngoại cụ Nguyễn Thị Huống ở và có từ trước
từ lúc anh sinh ra, có từ năm nào anh không rõ. Sau đó cụ Huống lấy người tên là
Vũ Bá Dư và có sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Lúc anh sinh ra thì ông
Dư đã chết và chết năm nào thì anh không nắm được. Mẹ anh ở với cụ Huống ở
thửa đất này từ lúc bé đến năm bao nhiêu mẹ anh lấy chồng anh không biết, bố
mẹ vẫn ở cùng với cụ Huống trên đất này. Quá trình sinh sống trên đất thì bố mẹ
anh sinh được 07 người con như anh đã kể ở trên. Trước khi anh sinh ra thì trên
đất có các tài sản gì của ai thì anh không nắm được.
Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em cụ thể của các anh chị em
thì anh không nắm được. Anh sinh sống ở đất đó từ khi sinh ra đến khoảng năm
1980 anh chuyển về thôn Ngoài, xã Cao Xá, huyện Tân Yên sinh sống, anh không
có công sức đóng góp gì trên thửa đất trên. Năm 1988 bố mẹ anh có xây dựng L
03 gian nhà ngói to và làm L công trình phụ, hiện tại công trình này vẫn còn. Khi
bố anh xây dựng công trình này anh là người đứng ra xây dựng, chỉ làm công cho
bố mẹ và được bố mẹ trả tiền công cho. Năm 1999 cụ Huống chết không để L di
chúc, năm 1999 bố chết không để L di chúc, năm 2010 mẹ chết cũng không để L
di chúc. Bố mẹ anh trước khi chết không có họp gia đình và tuyên bố cho bất cứ
ai trong các anh chị em thửa đất trên. Khi còn sống thì bố mẹ anh chưa bao giờ
phân chia đất cho các con.
Khi cụ Huống còn sống thì bố mẹ chăm sóc và khi bố mẹ anh còn sống thì
do anh chăm sóc đến khi bố mẹ anh chết. Khi bố chết thì mẹ anh đứng ra lo mai
táng phí, mẹ chết cũng do các anh chị em cùng tập trung đứng ra lo ma chay, mai
táng cho mẹ. Đối với chi phí mai táng phí của bố mẹ anh, anh là con có nghĩa vụ
phải lo cho bố mẹ nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tiền mai
táng phí. Khi bố mẹ anh chết đi không để L nghĩa vụ về tài sản nào chưa thanh
toán.
Nay cụ Huống, bố mẹ anh chết, chị C đề nghị chia thừa kế thửa đất số 133,
tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn
(nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, diện tích 378m
2
), địa chỉ thửa đất: thôn
Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo quy định của
pháp luật thì anh đồng ý với lý do: Thửa đất này là của bố mẹ để L cho các con
nên các anh chị em đều được hưởng quyền L đối với thửa đất mà chị K đang quản
lý, sử dụng. Anh đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế theo quy định của
pháp luật, nếu anh được hưởng di sản thừa kế đối với thửa đất của bố mẹ anh để
L thì anh yêu cầu được hưởng di sản và được nhận bằng đất để anh chị em làm
nơi thờ cúng bố mẹ. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa anh Hoàng Văn L có mặt trình bày: Anh nhất trí với yêu cầu
khởi kiện của chị C, anh nhận phần di sản thừa kế được hưởng và đồng ý để cho
chị C toàn quyền quản lý, sử dụng phần đất này để làm nơi thờ cúng các cụ và bố
mẹ anh. Anh nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất hiện nay, có sự chênh
lệch 0,3m
2
so với giấy chứng nhận là do sai số đo đạc, anh không có đề nghị giải
quyết nội dung gì khác.
7
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền L nghĩa vụ liên
quan chị Hoàng Thị C trình bày:
Chị là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống, cụ Huống đã chết còn chết
năm nào chị không nhớ, mẹ chị bà Vũ Thị Ái chết năm nào chị không nhớ, bố
Hoàng Văn Khương chết năm nào cũng không nhớ. Cụ Huống sinh được sinh
được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Bố mẹ chị bà Ái, ông Khương sinh được 07
người con gồm: Chị, K, L, Đ, C, T, L. Ngoài ra bố, mẹ chị không có người con
đẻ, con nuôi nào khác.
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn, địa chỉ thửa đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa
Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là đất của cụ Nguyễn Thị Huống ở và có
từ trước từ lúc chị sinh ra, có từ năm nào thì chị không rõ. Sau đó cụ Huống lấy
người tên là Vũ Bá Dư và có sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Lúc chị
sinh ra thì cụ Dư đã chết và chết năm nào chị không nắm được. Mẹ chị ở với cụ
Huống ở thửa đất này từ lúc bé đến năm bao nhiêu mẹ chị lấy chồng thì chị không
biết, nhưng bố mẹ chị vẫn ở cùng với cụ Huống trên đất này. Quá trình sinh sống
trên đất thì bố mẹ chị sinh được 07 người con như chị đã kể ở trên. Trước khi chị
sinh ra thì trên đất có các tài sản gì của ai thì chị không nắm được.
Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em cụ thể thì chị không nắm
được. Chị sinh sống ở đất đó từ khi sinh ra đến khoảng năm 1991 đi lấy chồng
không sinh sống trên thửa đất này nữa, chị không có công sức đóng góp gì trên
thửa đất trên. Năm 1988 bố mẹ chị có xây dựng L 03 gian nhà ngói to và làm L
công trình phụ chị có nắm được, hiện tại công trình này vẫn còn, do chị K đang
quản lý, sử dụng. Khi cụ Huống chết không để L di chúc, khi bố mẹ chị chết cũng
không để L di chúc. Bố mẹ chị trước khi chết không có họp gia đình và tuyên bố
cho bất cứ ai trong các anh chị em đối với thửa đất trên, lúc còn sống bố mẹ chị
chưa bao giờ phân chia đất cho các con. Khi cụ Huống còn sống bố mẹ chị chăm
sóc và khi bố mẹ chị còn sống thì do anh L chăm sóc đến khi bố mẹ chị chết. Khi
bố chết mẹ chị đứng ra lo mai táng phí, mẹ chết do cả các anh chị em cùng tập
trung đứng ra lo ma chay, mai táng cho mẹ. Đối với chi phí mai táng phí của bố
mẹ, chị là con có nghĩa vụ phải lo cho bố mẹ nên chị không yêu cầu Tòa án xem
xét giải quyết về tiền mai táng phí. Khi bố mẹ chị chết đi không để L nghĩa vụ về
tài sản nào chưa thanh toán.
Nay cụ Huống, bố mẹ chị chết, chị C đề nghị chia thừa kế thửa đất số 133,
tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn,
địa chỉ ở thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo
quy định của pháp luật thì chị đồng ý với khởi kiện của chị C lý do: Đất này là
của bố mẹ để L cho các con nên anh chị em đều được hưởng quyền L đối với thửa
đất mà chị K đang quản lý, sử dụng. Chị đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản
thừa kế theo quy định của pháp luật, nếu chị được hưởng di sản thừa kế đối với
thửa đất của bố mẹ chị để L thì chị yêu cầu được hưởng di sản và được nhận bằng
đất để anh chị em làm nơi thờ cúng bố mẹ. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
8
Tại phiên tòa chị Hoàng Thị C có mặt trình bày: Chị nhất trí với yêu cầu
khởi kiện của chị C. Chị đề nghị được nhận phần di sản thừa kế chị được hưởng
bằng đất và đồng ý để cho chị C toàn quyền quản lý, sử dụng phần đất này để làm
nơi thờ cúng các cụ và bố mẹ chị. Chị nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng thửa
đất hiện nay, có sự chênh lệch 0,3m
2
so với giấy chứng nhận là do sai số đo đạc,
chị không có đề nghị giải quyết nội dung gì khác.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền L nghĩa vụ liên
quan anh Hoàng Văn Đ trình bày:
Anh là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống chết năm 1999, mẹ Vũ Thị
Ái chết năm 2010, bố Hoàng Văn Khương chết năm 1999. Cụ Huống sinh được
sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Bố mẹ anh sinh được 07 người con gồm:
Anh, K, L, C, C, T, L. Ngoài ra bố, mẹ anh không có người con đẻ, con nuôi nào
khác.
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn, địa chỉ ở thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung,
huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là đất của cụ Nguyễn Thị Huống ở và có từ trước
từ lúc anh sinh ra, có từ năm nào thì anh không rõ. Sau đó cụ Huống lấy ông tên
là gì anh không nhớ và có sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Lúc anh sinh
ra thì ông này đã chết và chết năm nào thì anh không biết. Mẹ anh ở với cụ Huống
ở thửa đất này từ lúc bé đến năm bao nhiêu mẹ anh lấy chồng là ông Khương anh
không rõ, bố mẹ anh vẫn ở cùng với cụ Huống trên đất này. Quá trình sinh sống
trên đất thì bố mẹ anh sinh được 07 người con như anh đã kể ở trên. Trước khi
anh sinh ra thì có các tài sản gì của ai thì anh không nắm được.
Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em cụ thể thì anh không nắm
được. Anh sinh sống ở đất đó đến khoảng năm 1979 anh chuyển về thôn Ngoài,
xã Cao Xá, huyện Tân Yên sinh sống vì điều kiện lúc đó nhà anh ở hai nơi, anh
không có công sức đóng góp gì đối với thửa đất trên. Năm 1999 cụ Huống chết
không để L di chúc, năm 1999 bố anh chết không để L di chúc, năm 2010 mẹ chết
cũng không để L di chúc. Khi còn sống bố mẹ anh chưa phân chia đất cho các
con, mẹ anh trước khi chết chỉ nói miệng là cho thửa đất trên cho chị K nếu chị
K đi lấy chồng thì chị K phải bàn giao L thửa đất trên cho anh quản lý, sử dụng.
Khi cụ Huống còn sống thì bố mẹ và chị K chăm sóc cụ Huống, khi bố mẹ anh
còn sống các anh chị em là người là chăm sóc bố mẹ đến khi chết, khi bố mẹ chết
do các anh chị em cùng tập trung đứng ra lo ma chay, mai táng cho bố mẹ. Đối
với chi phí mai táng phí của bố mẹ, anh là con có nghĩa vụ phải lo cho bố mẹ nên
anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tiền mai táng phí. Khi bố mẹ anh
chết đi không để L nghĩa vụ về tài sản nào chưa thanh toán.
Nay cụ Huống, bố mẹ anh chết, chị C đề nghị chia thửa đất số 133, tờ bản
đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn (nay
là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, diện tích 378m
2
), địa chỉ ở thôn Tĩnh Lộc, xã
Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật anh
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị C lý do vì mẹ anh có nói miệng với
anh khi chị K đi lấy chồng thì phải bàn giao L đất cho anh quản lý, sử dụng. Anh
9
đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, nếu anh được hưởng di
sản thừa kế thì anh yêu cầu được hưởng di sản và được nhận bằng đất. Ngoài ra
anh không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa anh Hoàng Văn Đ có mặt trình bày: Anh không nhất trí với
yêu cầu khởi kiện của chị C. Thửa đất này nay chị K lấy chồng, anh đề nghị chị
K chuyển nhượng L toàn bộ thửa đất cho anh theo như lời nói miệng của mẹ anh.
Nếu anh được hưởng di sản thừa kế thì anh yêu cầu được hưởng di sản và được
nhận bằng đất. Anh nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất hiện nay, có sự
chênh lệch 0,3m
2
so với giấy chứng nhận là do sai số đo đạc, anh không có đề
nghị giải quyết nội dung gì khác.
* Tại bản tự khai người có quyền L nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T
trình bày:
Chị là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống chết năm 1999, mẹ là Vũ Thị
Ái chết năm 2010, bố Hoàng Văn Khương chết năm 1999. Cụ Huống sinh được
01 người con là bà Vũ Thị Ái. Bố mẹ chị sinh được 07 người con gồm: Chị, K,
L, Đ, C, C, L. Ngoài ra, bố mẹ chị không có con đẻ, con nuôi nào khác. Về nguồn
gốc thửa đất là của cụ Nguyễn Thị Huống ở và có từ trước lúc chị sinh ra, có từ
năm nào thì chị không rõ, sau đó cụ Huống lấy cụ Vũ Bá Dư, sinh được 01 con
là bà Vũ Thị Ái, lúc chị sinh ra thì cụ Dư đã chết, mẹ chị ở cùng cụ Huống thửa
đất này. Khi mẹ chị lấy chồng ông Hoàng Văn Khương vào khoảng năm 1967 và
vẫn sinh sống trên thửa đất này, lần lượt sinh được 07 người con như chị đã nêu
ở trên, lúc chị lớn lên biết thì bố mẹ chị xây dựng 07 gian công trình phụ trong
khoảng năm 1990 và 03 gian nhà cấp 4 khoảng năm 1999, ngoài ra không còn
công trình gì khác. Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em: Chị K ở từ
nhỏ đến bây giờ, chị K có tu sửa L 02 gian nhà cũ và lát L nền nhà. Anh L, anh
Đ sinh sống trên đất đến khoảng năm 1979 hai anh chuyển về thôn Ngoài, xã Cao
Xá, huyện Tân Yên sinh sống vì điều kiện nhà chị ở hai nơi và chị không có đóng
góp gì trên thửa đất này. Trên thửa đất còn L 05 chị em sinh sống và làm việc đều
có sự đóng góp sức người, sức của chăn nuôi, làm ruộng, tiền và nông sản thu
hoạch được chị K quản lý thu giữ hết.
Năm 1999 cụ Huống chết không để L di chúc, năm 1999 bố chết không để
L di chúc, năm 2010 mẹ chết cũng không để L di chúc và phân chia tài sản cho
bất kỳ 07 người con nào. Năm 2015 chị K có anh Giáp Văn L và con riêng anh L
đến ở cùng, chị K, anh L kết hôn thời điểm nào thì không biết. Mảnh đất chị K
đang ở thì 06 anh chị em chị muốn lấy L để làm nơi thờ cúng các cụ, bố mẹ nhưng
chị K không trả L. Nay cụ Huống chết, bố mẹ chị chết chị đề nghị chia thừa kế
theo pháp luật đối với thửa đất trên.
Khi bố mẹ chị còn sống trên đất cũng chưa bao giờ họp gia đình để phân
chia và tuyên bố tặng riêng cho bất kỳ người con nào về đất cũng như tài sản nào
khác ở trên đất, các chị cũng chưa bao giờ tuyên bố cho mảnh đất trên cho chị K.
Khi cụ Huống còn sống bố mẹ là người chu cấp để chăm sóc cụ Huống cho đến
khi chết. Bố mẹ chết tất cả 07 anh chị em đều có nghĩa vụ mai táng phí cho bố
10
mẹ nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét về tiền mai táng phí. Khi bố mẹ chị
chết không để L nghĩa vụ tài sản nào chưa thanh toán.
Chị ủy quyền cho chị C quyết định mọi vấn đề về thừa kế được hưởng và
phân chia đất đai. Chị C được nhận phần đất phân chia thừa kế mà chị được hưởng
và có toàn quyền quyết định đối với phần di sản thừa kế của chị được hưởng.
Ngoài ra chị không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa chị Hoàng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền L nghĩa vụ liên
quan chị Hoàng Thị L trình bày:
Chị là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị Huống, cụ Huống đã chết còn chết
năm nào chị không nhớ, mẹ chị là Vũ Thị Ái chết năm nào chị không nhớ, bố
Hoàng Văn Khương chết năm nào không nhớ. Cụ Huống sinh được sinh được 01
người con là bà Vũ Thị Ái, ngoài ra không có con đẻ con nuôi nào khác. Bố mẹ
chị bà Ái, ông Khương sinh được 07 người con gồm: Chị, K, L, C, Đ, C, T. Ngoài
ra bố, mẹ chị không có người con đẻ, con nuôi nào khác.
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn, địa chỉ ở thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung,
huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là đất của cụ Nguyễn Thị Huống ở và có từ trước
từ lúc chị sinh ra, có từ năm nào chị không rõ. Sau đó cụ Huống lấy chồng và có
sinh được 01 người con là bà Vũ Thị Ái. Lúc chị sinh ra thì chồng cụ Huống đã
chết và chết năm nào chị không nắm được. Mẹ chị ở với cụ Huống thửa đất này
từ lúc bé đến năm bao nhiêu lấy chồng là ông Hoàng Văn Khương chị không rõ,
nhưng bố mẹ chị vẫn ở cùng với cụ Huống trên đất này. Quá trình sinh sống trên
đất bố mẹ chị sinh được 07 người con như chị đã kể ở trên. Trước khi chị sinh ra
thì trên đất có các tài sản gì của ai thì chị không nắm được.
Quá trình sinh sống trên đất của 07 anh chị em cụ thể thì chị không nắm
được. Chị sinh sống ở đất đó từ khi sinh ra đến khoảng năm 2002 đi vào miền
nam làm ăn đến năm 2006 chị đi lấy chồng không sinh sống trên thửa đất này
nữa, chị không có công sức đóng góp gì trên thửa đất trên. Quá trình sinh sống
trên đất bố mẹ có xây dựng được 03 gian nhà ngói và 07 gian công trình phụ bên
dưới, hiện tại công trình này vẫn còn, do chị K đang quản lý, sử dụng.
Khi cụ Huống chết không để L di chúc, khi bố mẹ chết cũng không để L di
chúc. Bố mẹ chị trước khi chết không có họp gia đình và tuyên bố cho bất cứ ai
trong các anh chị em đối với thửa đất trên. Khi còn sống bố mẹ chị chưa bao giờ
phân chia đất cho các con. Khi cụ Huống còn sống bố mẹ chị chăm sóc và khi bố
mẹ chị còn sống các anh chị em cùng chăm sóc đến khi bố mẹ chết. Khi bố chết
mẹ chị đứng ra lo mai táng phí, mẹ chết do cả các anh chị em cùng tập trung đứng
ra lo ma chay, mai táng cho mẹ. Đối với chi phí mai táng phí của bố mẹ, chị là
con có nghĩa vụ phải lo cho bố mẹ nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải
quyết về tiền mai táng phí. Khi bố mẹ chị chết đi không để L nghĩa vụ về tài sản
nào chưa thanh toán.
Nay cụ Huống chết, bố mẹ chị chết, chị C đề nghị chia thửa đất số 133, tờ
bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn,
11
địa chỉ ở thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo
quy định của pháp luật thì chị đồng ý với lý do: Đất này là của bố mẹ để L cho
các con nên anh chị em đều được hưởng quyền L đối với thửa đất mà chị K đang
quản lý sử dụng. Chị đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế theo quy định
của pháp luật, nếu chị được hưởng di sản thừa kế đối với thửa đất của bố mẹ chị
để L thì chị yêu cầu được hưởng di sản và được nhận bằng đất để anh chị em làm
nơi thờ cúng bố mẹ. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa chị Hoàng Thị L có mặt trình bày: Chị nhất trí với yêu cầu
khởi kiện của chị C. Chị đề nghị được nhận phần di sản thừa kế chị được hưởng
bằng đất và đồng ý để cho chị C toàn quyền quản lý, sử dụng phần đất này để làm
nơi thờ cúng các cụ và bố mẹ chị. Chị nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng thửa
đất hiện nay, có sự chênh lệch 0,3m
2
so với giấy chứng nhận là do sai số đo đạc,
chị không có đề nghị giải quyết nội dung gì khác.
* Tại biên bản lấy lời khai người có quyền L nghĩa vụ liên quan anh Giáp
Văn L trình bày:
Anh là chồng của chị Hoàng Thị K. Anh kết hôn với chị K năm 2012, có
đăng ký kết hôn tại UBND xã Quế Nham, huyện Tân Yên. Sau khi kết hôn anh
và chị K về chung sống với nhau ở thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt
Yên. Anh và chị K về chung sống với nhau không có con chung mà chỉ có con
riêng của anh là cháu Giáp Văn M về ở cùng. Khi anh về ở nhà đất của chị K thấy
trên đất có các công trình trên đất sẵn rồi, anh chỉ việc về ở. Quá trình sinh sống
trên đất, anh không xây dựng được công trình gì trên đất và không có công sức
đóng góp gì đối với thửa đất trên. Chị K có tổng 07 anh chị em cụ thể: K, L, Đ,
C, T L, C. Nhưng khi anh lấy chị K về ở trên đất thì lúc đó trên đất có anh, chị K,
cháu M, còn các anh chị em của chị K đã đi lấy vợ, lấy chồng, không còn ai sinh
sống cùng trên đất, ngoài ra trên đất không có ai khác. Về nguồn gốc thửa đất mà
chị C đang khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với chị K thì anh không nắm
được, cụ thể giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ai anh cũng không biết.
Hiện nay sinh sống trên thửa đất gồm có anh, chị K, cháu M, ngoài ra không có
ai khác. Khi về ở cho đến nay anh không xây dựng công trình gì trên thửa đất
tranh chấp chia di sản thừa kế giữa chị C và chị K và anh cũng không có công
sức đóng góp gì đối với công trình tài sản trên đất. Anh không có yêu cầu đề nghị
giải quyết gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa anh Giáp Văn L có mặt trình bày: Anh không có ý kiến và đề
nghị giải quyết gì trong vụ án này.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền L nghĩa vụ liên
quan cháu Giáp Văn M do anh Đ là người Đ diện theo pháp luật trình bày:
Cháu là con riêng của bố Giáp Văn L. Năm 2012, bố cháu lấy bà Hoàng
Thị K thì cháu và bố cháu về sinh sống trên thửa đất của bà K. Khi về trên đất đó
có sẵn công trình trên đất rồi bố con cháu chỉ việc ở. Quá trình sinh sống trên đất
về nguồn gốc thửa đất trên cháu không nắm được, sinh sống trên thửa đất này thì
cháu cũng không có công sức đóng góp gì đối với công trình tài sản trên đất. Hiện
nay sinh sống trên thửa đất gồm có cháu, bố cháu ông L, bà K, ngoài ra không có

12
ai khác. Khi về ở cho đến nay cháu không có công sức đóng góp gì đối với công
trình tài sản trên đất. Cháu không có yêu cầu đề nghị giải quyết gì trong vụ án
này.
Tại phiên tòa cháu Giáp Văn M vắng mặt.
Người Đ diện theo pháp luật của cháu M anh Giáp Văn L trình bày: Anh
nhất trí với ý kiến của cháu M, ngoài ra anh không có ý kiến gì khác.
* Tại biên bản lấy lời khai người có quyền L, nghĩa vụ liên quan UBND xã
Nghĩa Trung do ông Phan Thành Trường Đ diện trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08, có diện tích đất là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn, địa chỉ thửa đất: thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa
Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20,
diện tích 378,0m
2
) là do lịch sử để L, trước đây là của bố mẹ chị C, chị K khi chết
để L. Quá trình sử dụng đất do ai đang quản lý thì địa phương không rõ. Về hiện
trạng đo đạc diện tích thửa đất so với diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có sự chênh lệch 0,3m
2
là do sai số đo đạc. Nay chị C có đơn khởi kiện
đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế đối với thửa đất trên, đề nghị Tòa
án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Về việc cung cấp hồ sơ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này thì đến nay do qua nhiều
thời kỳ cán bộ địa chính hiện tại đã bị thất lạc nên không thể cung cấp cho Tòa
án được.
Tại phiên tòa Đ diện theo pháp luật UBND xã Nghĩa Trung vắng mặt.
* Kiểm sát viên, Đ diện viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên phát biểu
quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa là đảm bảo. Tại phiên tòa việc
chấp hành của Nguyên đơn, bị đơn, một số người có quyền L nghĩa vụ liên quan
là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Một số người có quyền L nghĩa vụ liên
quan vắng mặt tại phiên tòa là chưa đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
Điều 147; khoản 2 Điều 157; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228
của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 609; Điều 610; Điều 611; Điều 612; Điều 613;
Điều 614; Điều 623; Điều 649; Điều 650; khoản 1 Điều 651; Điều 660 của Bộ
luật dân sự; Khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị C về yêu cầu chia thừa
kế đối với phần di sản của bà Vũ Thị Ái theo quy định của pháp luật.
- Công nhận sự tự nguyện tặng cho kỉ phần thừa kế tài sản là quyền sử dụng
đất giữa chị Hoàng Thị T, chị Hoàng Thị C, chị Hoàng Thị L, anh Hoàng Văn L
và chị Hoàng Thị C.
- Giao diện tích 86,47m
2
trong đó 68,57m
2
đất ở và 17,9 m
2
đất vườn tại
thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08 nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, địa chỉ
thửa đất tại Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và
các tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 nhà cấp 4, 01 bán mái phía trước nhà cấp 4
cho chị Hoàng Thị K quản lý, sử dụng.

13
- Giao diện tích 291.83 m
2
trong đó 231,43 m
2
đất ở và 60.4 m
2
đất vườn
tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08 nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, địa
chỉ thửa đất tại Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
cho chị Hoàng Thị C quản lý, sử dụng.
- Chị Hoàng Thị K có trách nhiệm trích chia kỷ phần thừa kế cho anh
Hoàng Văn Đ số tiền 125.970.000 đồng.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế giữa chị Hoàng
Thị C và chị Hoàng Thị K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo
khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị K có nơi cư trú: Thôn
Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang nên Tòa án nhân dân
huyện Việt Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Một số người có quyền L nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do.
Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người trên là
phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thời hiệu khởi kiện và pháp luật áp dụng:
* Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân
sự quy định “...Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với
bất động sản, ..., kể từ thời điểm mở thừa kế...”. Trong vụ án này cụ Nguyễn Thị
Huống chết năm 1999, ông Hoàng Văn Khương chết năm 1999, bà Vũ Thị Ái
chết năm 2010. Như vậy, thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của
chị Hoàng Thị C vẫn còn.
* Về pháp luật áp dụng: Do cụ Huống, ông Khương chết năm 1999, bà Ái
chết năm 2010 và thửa đất tranh chấp chia thừa kế được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 2000 và cấp đổi giấy chứng nhận năm 2020 nên Hội đồng
xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, năm 2015; Luật đất
đai năm 2003, 2013 và một số văn bản hướng dẫn để xem xét yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn chị C.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị C, Hội đồng xét
xử thấy:
* Về xác định hàng thừa kế:
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của bà Vũ Thị Ái:
Theo xác M tại địa phương và lời khai các đương sự trong vụ án đều thừa
nhận thửa đất nguyên đơn chị C khởi kiện yêu cầu đề nghị chia di sản thừa kế có
nguồn gốc là của cụ Huống, ông Khương, bà Ái để L. Năm 1999 cụ Huống chết,
năm 1999 ông Khương chết đều không để L di chúc và sau khi cụ Huống, ông
14
Khương chết thì bà Ái và các con của bà đều không có văn bản thỏa thuận gì về
việc phân chia di sản thừa kế cụ Huống. Năm 2010 bà Ái chết cũng không để L
di chúc và không có văn bản gì về việc phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất
này cho 07 người con.
Năm 1999 khi cụ Huống và ông Khương chết thì lúc đó thửa đất này chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2000 thửa đất này được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu mang tên hộ bà Hoàng Thị K thì hộ
khẩu của gia đình bà Ái lúc đó gồm: Bà Ái, chị K, chị C, chị T, chị L, ngoài ra
không còn ai khác. Do vậy, xác định thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là có 05 người được hưởng quyền L như nhau được chia thành 05 phần.
Khi đó bà K là chủ hộ Đ diện đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nêu trên và lúc đó bà Ái vẫn còn sống nên cũng được 01 phần trong thửa đất có
diện tích 365m
2
nay đo đạc là 378,3m
2
(cụ thể mỗi người được hưởng 1/5 giá trị
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất nêu trên).
Năm 2010 bà Ái chết không để L di chúc về tài sản. Các đương sự trong
vụ án đều thừa nhận bà Ái có 07 người con ngoài ra không có con đẻ, con nuôi
nào khác. Vì vậy, phần quyền sử dụng đất của vợ chồng bà Ái muốn phân định
thì phải chia thừa kế, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của bà Ái ở thời
điểm khi chết gồm có 07 người là: K, L, C, Đ, C, T, L. Ngoài ra bà Ái không có
con đẻ con nuôi nào khác.
Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào thời điểm cấp giấy chứng nhận năm
2000 để xác định thành viên có quyền sở hữu đối với thửa đất trên. Thời điểm
năm 2000 theo xác M tại địa phương thì những người trong sổ hộ khẩu gia đình
bà Ái gồm có bà Ái, chị K, chị C, chị T, chị L. Do vậy, xác định 05 người trên
được hưởng quyền sử dụng đất vào thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 2000 là phù hợp quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật đất đai và mục
4 phần III Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC gày 07/4/2017 của Tòa án nhân
dân tối cao.
Như vậy, trong quyền sử dụng đất của hộ gia đình bà Ái, bà Ái là một thành
viên của hộ, phần bà được hưởng gồm 1/5 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được cấp cho hộ gia đình bà Hoàng Thị K năm 2000. Bà Ái có 07 người con
là: Hoàng Thị K, Hoàng Thị C, Hoàng Văn L, Hoàng Thị C, Hoàng Văn Đ, Hoàng
Thị T, Hoàng Thị L. Ngoài những người trên thì bà Ái không còn người nào khác
thuộc hàng thừa kế thứ nhất, vì vậy những người nêu trên đều được hưởng phần
thừa kế như nhau mỗi người sẽ được một phần thừa kế của bà Ái (Phần thừa kế
bà Ái để L là 1/5 giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất
số 133 nay là thửa đất số 290).
* Về xác định di sản thừa kế và chia di sản thừa kế của bà Ái:
- Về di sản là quyền sử dụng đất: Thửa đất số 133, tờ bản đồ số 09 (nay là
thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20), địa chỉ thửa đất: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa
Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 2000 thì diện tích là 365m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 65m
2
đất vườn, theo
giấy chứng nhận cấp đổi năm 2020 là 378m
2
trong đó 300m
2
đất ở và 78m
2
đất
15
vườn. Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất hiện nay của Công ty TNHH một
thành viên Kim Hoàng thì tổng diện tích đo là 378,3m
2
gồm diện tích 300m
2
đất
ở, đất vườn 78,3 m
2
. Diện tích chênh lệch giữa hiện trạng và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là 0,3m
2
, theo lời khai của các đương sự và Đ diện UBND xã
Nghĩa Trung cung cấp đây là do sai số đo đạc.
Theo kết quả định giá ngày 26/5/2022 thì Hội đồng định giá đã định giá
đất ở là 13.00.000 đồng/m
2
, đất vườn gắn liền với đất ở là 6.500.0000 đồng/m
2
.
Các đương sự trong vụ án đều nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng của thửa đất
và kết quả định giá của Hội đồng định giá về giá đất ở, đất vườn. Như vậy, Hội
đồng xét xử xét thấy cần chia thừa kế theo diện tích hiện trạng kết quả đo của
Công ty THHH một thành viên Kim Hoàng là diện tích 378,3m
2
trong đó 300m
2
đất ở, 78,3m
2
đất vườn với giá như kết quả của Hội đồng định giá đã định giá về
đất ở và đất vườn.
Năm 2000 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Hoàng Thị
K thì lúc đó theo xác M nhân khẩu của Công an xã Nghĩa Trung thì hộ bà K gồm
5 người là bà Ái, chị K, chị C, chị T, chị L, ngoài ra không còn ai khác. Như vậy,
quyền sử dụng đất của thửa đất này tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là 05 người trên cụ thể mỗi người được hưởng: 378,3 m
2
: 5 = 75,66m
2
trong đó (300m
2
:5) 60m
2
đất ở và (78,3m
2
:5) 15,66m
2
đất vườn.
- Di sản của bà Ái chết năm 2010 không để L di chúc, chia theo pháp luật
cụ thể:
Người được hưởng di sản gồm 07 người con. Di sản của bà Ái là 1/5 của
diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2000 và theo diện
tích đo đạc hiện trạng thì diện tích là 75,66m
2
trong đó 60m
2
đất ở và 15,66 m
2
đất vườn.
07 người con của bà Ái gồm: Hoàng Thị K, Hoàng Thị C, Hoàng Văn L,
Hoàng Thị C, Hoàng Văn Đ, Hoàng Thị T, Hoàng Thị L mỗi người được hưởng:
Tổng diện tích 10,81m
2
trong đó 8,57m
2
đất ở và 2,24 m
2
đất vườn.
Đất ở: 8,57m
2
x 13.000.000 đồng/m
2
= 111.410.000 đồng.
Đất vườn: 2,24m
2
x 6.500.000đ/m
2
= 14.560.000 đồng.
Như vậy, chị Hoàng Thị K, chị Hoàng Thị C, anh Hoàng Văn L, chị Hoàng
Thị C, anh Hoàng Văn Đ, chị Hoàng Thị T, chị Hoàng Thị L cụ thể từng người
được hưởng như sau:
- Chị Hoàng Thị K thành viên trong hộ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 2000 hưởng 1/5 quyền sử dụng đất + 1/7 trong 1/5 di sản quyền sử dụng
đất bà Ái là: (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn) + (8,57m
2
đất ở +2,24 m
2
đất vườn)
= 68,57m
2
đất ở x 13.000.000 đồng/m
2
+ 17,9 m
2
đất vườn x 6.500.000 đồng/m
2
= giá 891.410.000 đồng + 116.350.000 đồng = 1.007.760.000 đồng.
- Chị Hoàng Thị C thành viên trong hộ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 2000 hưởng 1/5 quyền sử dụng đất +1/7 trong 1/5 di sản quyền sử dụng
đất bà Ái là: (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn) + (8,57m
2
đất ở +2,24 m
2
đất vườn)
= 68,57m
2
đất ở x 13.000.000 đồng/m
2
+ 17,9 m
2
đất vườn x 6.500.000 đồng/m
2
= giá 891.410.000 đồng + 116.350.000 đồng = 1.007.760.000 đồng.
16
- Chị Hoàng Thị T thành viên trong hộ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 2000 hưởng 1/5 quyền sử dụng đất +1/7 trong 1/5 di sản quyền sử dụng
đất bà Ái là: (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn) + (8,57m
2
đất ở +2,24 m
2
đất vườn)
= 68,57m
2
đất ở x 13.000.000 đồng/m
2
+ 17,9 m
2
đất vườn x 6.500.000 đồng/m
2
= giá 891.410.000 đồng + 116.350.000 đồng = 1.007.760.000 đồng.
- Chị Hoàng Thị L thành viên trong hộ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 2000 hưởng 1/5 quyền sử dụng đất +1/7 trong 1/5 di sản quyền sử dụng
đất bà Ái là: (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn) + (8,57m
2
đất ở +2,24 m
2
đất vườn)
= 68,57m
2
đất ở x 13.000.000 đồng/m
2
+ 17,9 m
2
đất vườn x 6.500.000 đồng/m
2
= giá 891.410.000 đồng + 116.350.000 đồng = 1.007.760.000 đồng.
- Chị Hoàng Thị C, anh Hoàng Văn L, anh Hoàng Văn Đ mỗi người hưởng
1/7 trong 1/5 di sản quyền sử dụng đất bà Ái là: 8,57m
2
đất ở x 13.000.000
đồng/m
2
+2,24 m
2
đất vườn x 6.500.000 đồng = 111.410.000 đồng +14.560.000
đồng = 125.970.000 đồng.
Như vậy, chị C được chị T, chị C, chị L, anh L nhận kỷ phần thừa kế được
hưởng và đồng ý giao cho chị C toàn quyền quản lý, sử dụng kỷ phần của các anh
chị để làm nơi thờ cúng các cụ và bố mẹ. Do vậy, cụ thể chị C được hưởng: (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn của chị C) + (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn của chị
T) + (60m
2
đất ở +15,66m
2
đất vườn của chị L) + (8,57m
2
đất ở +2,24 m
2
đất
vườn của chị C) + (8,57m
2
đất ở +2,24 m
2
đất vườn của anh L) = 1.007.760.000
đồng x 3 + 125.970.000 đồng x 2 = 3.023.280.000 đồng + 251.940.000 đồng =
3.275.220.000 đồng. Chị C được hưởng tổng diện tích 281,02m
2
trong đó
222,86m
2
đất ở và 58,16 m
2
đất vườn có giá trị 3.275.220.000 đồng.
Chị K được hưởng tổng diện tích 86,47m
2
trong đó 68,57m
2
đất ở và 17,9
m
2
đất vườn có giá trị 1.007.760.000 đồng.
Anh Đ được hưởng tổng diện tích 10,81m
2
trong đó 8,57m
2
đất ở và 2,24
m
2
đất vườn có giá trị 125.970.000 đồng.
Xem xét lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án: Chị K
là người trông nom quản lý di sản thừa kế từ khi bà Ái chết cho đến nay. Chị
không đồng ý với khởi kiện của chị C, nếu chia thừa kế thì chị nhận bằng hiện
vật. Chị C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp
luật, chị yêu cầu chia cho chị bằng hiện vật, chị đồng ý nhận di sản thừa kế được
hưởng của chị T, chị L, chị C, anh L. Anh L, chị T, chị L, chị C đều đề nghị nhận
phần di sản được hưởng bằng hiện vật và anh L, chị T, chị C, chị L đều đồng ý
giao L cho chị C quản lý, sử dụng phần của các anh chị được hưởng và chị C, anh
L, chị C, chị T, chị L đều có nguyện vọng nhận bằng đất để làm nơi thờ cúng
chung các cụ và cha mẹ của họ. Anh Đ, chị K đề nghị chia theo quy định của
pháp luật cũng tại biên bản lấy lời khai, tại phiên tòa anh Đ, chị K cũng đề nghị
chia bằng hiện vật.
Hội đồng xét xử, xét thấy hiện nay các đương sự trình bày đều đã có chỗ ở
ổn định, chị K không có chỗ ở nào khác, chị K từ khi sinh ra cho đến nay ở trên
thửa đất này và đã sửa chữa tôn tạo các công trình trên đất, trông nom bảo quản
di sản của bà Ái và xét theo nguyện vọng Đ đa số các anh chị em mong muốn
17
nhận chia bằng đất để thành khuôn viên chung, làm nơi thờ cúng các cụ, bố mẹ,
xét thấy hiện trạng thửa đất trên có thể chia được bằng đất theo quy định nên Hội
đồng xét xử xét thấy diện tích chị K, chị C được hưởng đảm bảo diện tích theo
quy định nên cần trích chia một phần thửa đất cho chị K và chị C, còn các đương
sự khác đã có chỗ ở khác và anh Đ cũng yêu cầu chia bằng đất nhưng diện tích
của anh được hưởng tổng 10.81m
2
không đảm bảo tách thửa theo quy định nên sẽ
được trích chia bằng tiền là cũng đảm bảo quy định, phần diện tích của anh Đ
giao cho chị K quản lý sử dụng và chị K phải có nghĩa vụ trích chia bằng tiền cho
anh Đ, do vậy cần giao toàn bộ diện tích đất có công trình nhà cấp 4 do chị K tôn
tạo sửa chữa và một phần diện tích của anh Đ cho chị K quản lý và sử dụng, chị
K phải trích chia giá trị bằng tiền cho anh Đ là 125.970.000 đồng. Phần đất còn
L đối với thửa đất trên là phần được hưởng di sản của chị C, anh L, chị C, chị T,
chị L giao toàn bộ phần này cho chị C quản lý, sử dụng để làm nơi thờ cúng chung
theo nguyện vọng của chị C, anh L, chị C, chị T, chị L.
* Đối với các tài sản gắn liền trên đất:
- Theo biên bản định giá ngày 26/5/2022 thì xác định tài sản trên đất gồm:
01 nhà cấp 4 loại 2 lợp ngói mũi đỏ xây dựng năm 1999 sửa chữa năm 2012 diện
tích 48,5m
2
có giá 855.000 đồng/01m
2
x 48,5 m
2
= 41.467.500 đồng; 01 bán mái
phía trước nhà cấp 4 xây dựng năm 2019 diện tích 38m
2
có giá 302.000 đồng/m
2
x 38m
2
= 11.476.000 đồng; 01 khu chăn nuôi xây dựng năm 1993 đã hết khấu
hao sử dụng; 01 nhà chứa nối sát vào nhà cấp 4 đã khấu hao không còn giá trị
định giá; 01 sân gạch đã hết khấu hao không còn giá trị định giá; 01 cổng sắt xây
dựng năm 2010 đã hết khấu hao không còn giá trị định giá; 01 nhà tắm đã hết
khấu hao không còn giá trị định giá. Ngoài ra, không còn tài sản gì khác và các
đương sự nhất trí và không yêu cầu định giá tài sản gì khác.
Đối với các tài sản công trình trên đất thì Hội động xét xử xét thấy: 01 nhà
cấp 4 xây dựng năm 1999, năm 2012 chị K đã sửa chữa L, 01 bán mái phía trước
nhà cấp 4 do chị K xây dựng nên nhà cấp 4 xây dựng năm 1999 đã được sửa chữa,
xác định đây không phải là di sản thừa kế để chia nên phần công trình này cần
tiếp tục giao cho chị K quản lý, sử dụng trên phần đất chị K được chia.
Đối với các tài sản là 01 khu nhà chăn nuôi, 01 nhà chứa, 01 sân gạch, 01
cổng sắt, 01 nhà tắm đã hết khấu hao không còn giá trị định giá nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét. Phần này nằm trên phần đất giao cho chị C quản lý, sử
dụng.
* Ngoài ra, toàn bộ các đương sự trong vụ án không ai đề nghị xem xét
việc thanh toán tiền mai táng phí và các yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không
đặt ra xem xét trong vụ án này.
* Theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy nếu trong thời gian
quản lý di sản, người quản lý giữ gìn, làm tăng giá trị của di sản như sửa chữa
nhà, bồi đắp nền đất, trồng cây chống xói mòn… thì có thể tính công sức đối với
họ. Trong vụ án này, chị Hoàng Thị K không yêu cầu xem xét thanh toán công
sức bảo quản, gìn giữ di sản đối với thửa đất trên. Nên Hội đồng xét xử không đặt
ra xem xét.

18
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:
Tổng chi phí xem xét thẩm định, định giá là 5.400.000 đồng. Do yêu cầu
khởi kiện của chị C được chấp nhận về phần chia di sản thừa kế theo pháp luật,
chị C hưởng kỷ phần di sản thừa kế của chị, anh L, chị C, chị T, chị L nên chị C
phải chịu 4.166.000 đồng, chị K phải chịu 1.234.000 đồng tiền chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
[6] Về án phí:
- Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần được hưởng của
chị, chị T, anh L, chị C, chị L (giá trị được hưởng là 3.275.220.000 đồng) là:
72.000.000 đồng + (2% của 1.275.000.000 đồng) = 72.000.000 đồng +
25.500.000 đồng = 97.500.000 đồng.
- Chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần được hưởng của
chị, anh Đ (giá trị chị được hưởng 1.007.760.000 đồng, anh Đ được hưởng
125.970.000 đồng = 1.133.730.000 đồng) là: 36.000.000 đồng + (3% của
333.730.000 đồng) = 36.000.000 đồng + 10.012.000 đồng = 46.012.000 đồng.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định
tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2
Điều 157; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Khoản 1
Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 609; Điều 610; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623;
Điều 649; Điều 650; khoản 1 Điều 651; Điều 660 của Bộ luật dân sự.
Khoản 29 Điều 3; Điều 166; Điều 167; Điều 179; Điều 195 của Luật đất
đai;
Mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
[1] .Về yêu cầu khởi kiện:
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị C về việc yêu cầu
chia thừa kế đối với thửa đất số 133, tờ bản đồ số 09 diện tích 365m
2
(nay là thửa
đất số 290, tờ bản đồ số 20, diện tích 378,0m
2
), diện tích theo kết quả đo đạc hiện
trạng là 378,3m
2
, địa chỉ thửa đất: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật.
- Công nhận sự tự nguyện tặng cho kỉ phần thừa kế tài sản là quyền sử dụng
đất giữa chị Hoàng Thị T, anh Hoàng Văn L, chị Hoàng Thị C, chị Hoàng Thị L
và chị Hoàng Thị C.
- Giao diện tích 97,28 m
2
trong đó 77,14m
2
đất ở và 20,14 m
2
đất vườn tại
thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08 (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20), địa chỉ
thửa đất: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và
19
các tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 nhà cấp 4, 01 bán mái phía trước nhà cấp 4
cho chị Hoàng Thị K quản lý, sử dụng. Đất có các tứ cạnh tiếp giáp cụ thể như
sau: Cạnh phía Đông có kí hiệu BC chiều dài 8,14m giáp đất chị Hoàng Thị C;
Cạnh phía Bắc có kí hiệu AB chiều dài 10,87m giáp đường trục chính của thôn;
Cạnh phía Tây có kí hiệu AD chiều dài 8,72m giáp đất hộ ông Vi Văn Toàn; Cạnh
phía Nam có kí hiệu DC chiều dài 12,32m giáp đất chị Hoàng Thị C (Có trích sơ
đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- Giao diện tích 281.02 m
2
trong đó 222,86 m
2
đất ở và 58,16 m
2
đất vườn
tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 08 (nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20), địa
chỉ thửa đất: Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
và các tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 khu chăn nuôi, 01 nhà chứa, 01 sân gạch,
01 cổng sắt, 01 nhà tắm cho chị Hoàng Thị C quản lý, sử dụng. Đất có các tứ cạnh
tiếp giáp cụ thể như sau: Cạnh phía Đông có kí hiệu EF (gồm các đoạn EK chiều
dài 18,22m + KF chiều dài 3,94m) tổng chiều dài 22,16m giáp đường ngõ thôn;
Cạnh phía Bắc có kí hiệu BE chiều dài 4,89m giáp đường trục chính của thôn;
Cạnh phía Tây có kí hiệu BD (gồm các đoạn BC chiều dài 8,14m + CD chiều dài
12,32m) tổng chiều dài 20,46m giáp đất chị Hoàng Thị K; Cạnh phía Nam có kí
hiệu HF (gồm các đoạn HI chiều dài 3,38m + IG chiều dài 1,70m + GF chiều dài
15,87m) tổng chiều dài 20,95m giáp đất hộ bà Vũ Thị Tâm (Có trích sơ đồ hiện
trạng thửa đất kèm theo).
- Chị Hoàng Thị K có trách nhiệm trích chia kỷ phần thừa kế cho anh
Hoàng Văn Đ số tiền là 125.970.000 đồng (một trăm hai năm triệu chín trăm bẩy
mươi nghìn đồng).
- Chị Hoàng Thị K, chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có
thẩm quyền đăng ký, kê khai sự thay đổi, biến động đối với thửa đất số 133, tờ
bản đồ số 09 diện tích 365m
2
(nay là thửa đất số 290, tờ bản đồ số 20, diện tích
378,0m
2
), diện tích theo kết quả đo đạc hiện trạng là 378,3m
2
, địa chỉ thửa đất:
Thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
[2].Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:
Chị Hoàng Thị K phải chịu 1.234.000 đồng (một triệu hai trăm ba tư nghìn
đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; Chị Hoàng Thị C phải chịu
4.166.000 đồng (bốn triệu một trăm sáu sáu nghìn đồng) tiền xem xét thẩm định
tại chỗ, định giá tài sản.
Xác nhận chị Hoàng Thị C đã nộp 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm
nghìn đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Chị K phải hoàn trả
cho chị C số tiền 1.234.000 đồng (một triệu hai trăm ba tư nghìn đồng) tiền chi
phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với
khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất
cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[3]. Về án phí:
20
- Chị Hoàng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần được
hưởng của chị, chị T, anh L, chị C, chị L là 97.500.000 đồng (chín bẩy triệu năm
trăm nghìn đồng).
- Chị Hoàng Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần được
hưởng của chị, anh Đ là 46.012.000 đồng (bốn sáu triệu không trăm mười hai
nghìn đồng).
- Hoàn trả chị Hoàng Thị C số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006179 ngày 05/01/2022
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên.
[4] Quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7 a, 7b và
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Giang; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Việt Yên;
- Chi cục THA dân sự huyện Việt Yên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Vân
21
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Vân
22
23
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm