Bản án số 387/2026/HS-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 387/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 387/2026/HS-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 18 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 387/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Võ Vũ L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 387/2026/HS-ST Bản án số 387/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 387/2026/HS-ST Bản án số 387/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 387/2026/HS-ST
Ngày: 29-9-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bồ Thị Ánh Tuyết;
Ông Nguyễn Hồng Anh Chương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân Khu vực
18 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
460/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 393/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo:
Võ Vũ L, sinh năm: 1992 tại tỉnh Cà Mau; đăng ký thường trú: Ấp K, xã Đ,
tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Nhà riêng Nguyễn Thanh T, số A, đường B, tổ B, khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Võ
Văn Q, sinh năm: 1965 và bà Lê Mỹ H, sinh năm: 1967; bị cáo có vợ tên Lê Thị
T1, sinh năm: 1991 và 01 con sinh năm: 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/11/2025 đến nay
- có mặt.
Bị hại: Ông Phạm Văn K, sinh năm: 2007; đăng ký thường trú: Ấp Q, xã N,
tỉnh An Giang (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị L1, sinh năm: 1988; đăng
ký thường trú: Ấp Q, xã N, tỉnh An Giang (là mẹ ruột) - vắng mặt, có đơn đề nghị
vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
2
- Ông Võ Chí L2, sinh năm: 1995; đăng ký thường trú: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà
Mau - vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt;
- Ông Phan Minh N, sinh năm: 2002; đăng ký thường trú: Ấp X, xã P, tỉnh
Tây Ninh - vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Võ Vũ L có giấy phép lái xe hạng B2 số 700209014140 do Sở Giao thông
vận tải tỉnh B (nay là thành phố Đ) cấp ngày 29/12/2020, thời hạn đến ngày
29/12/2030.
Vào khoảng 12 giờ 10 ngày 27/6/2025, Võ Vũ L điều khiển xe ô tô tải biển
số 69C-069.16 lưu thông trên làn đường ô tô của đường V theo hướng từ đường
ĐT 748 về Quốc lộ A. Khi đến ngã 4 giao nhau với đường D, khu phố D, phường
T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), L
điều khiển xe rẽ phải vào đường D, không chú ý quan sát, nhường đường cho xe
mô tô đi trên làn đường mô tô thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 70FA-
105.77 lưu thông trên làn xe mô tô (cùng hướng xe của L) do Phạm Văn K điều
khiển. Tai nạn xảy ra làm Phạm Văn K chết tại hiện trường.
Vật chứng thu giữ:
- 01 Giấy phép lái xe hạng B2 của Võ Vũ L;
- 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm xe 69C-069.16;
- 01 xe ô tô tải biển số 69C-069.16, nhãn hiệu Kia, loại Frontier K200
KF39A27R131-L02, số máy: LD530313D4CB, số khung:
RNNHA39KHAMT034254;
- 01 xe mô tô biển số 70FA-105.77, nhãn hiệu Suzuki loại Raider, số máy:
CGA1535886, số khung: RLSDL11ANLV135693.
Khám nghiệm hiện trường:
- Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã tư giao nhau giữa đường
V với đường D.
Đường Vành Đ 4 là đường đôi được chia thành hai phần đường xe chạy có
dải phân cách cố định chia phần đường xe mô tô và xe ô tô riêng biệt nhau, phần
đường xe mô tô bên phải theo hướng đi từ đường ĐT 748 đến Quốc lộ A, mặt
đường có vạch kẻ sơn màu trắng đứt quãng chia thành hai làn đường xe chạy, cả
mặt đường có kích thước là 7m60, làn đường sát mép đường có kích thước là
3m80, làn đường sát dải phân cách kích thước là 3m80. Phần đường xe ô tô được
chia thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau có vạch kẻ đôi liền màu
vàng nằm ở giữa tim đường, nửa mặt đường bên phải theo hướng từ đường ĐT
748 đến Quốc lộ A có vạch kẻ sơn màu trắng đứt quãng chia thành ba làn đường
xe chạy, nửa mặt đường có kích thước là 12m00, làn đường sát tim đường có
kích thước là 3m70, làn đường ở giữa có kích thước là 3m70, làm đường sát dải
3
phân cách có kích thước là 4m60, mặt đường được trải nhựa, bằng phẳng, tầm
nhìn của lái xe không bị che khuất.
Đường D1 là đoạn đường hai chiều có vạch kẻ đơn màu vàng đứt quãng
chia thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau; cả mặt đường có kích
thước 12m00, nửa mặt đường là 6m00, mặt đường được trải nhựa, bằng phẳng,
tầm nhìn của lái xe không bị che khuất.
- Đường V hướng từ đường Đ đến Quốc lộ A đến nơi xảy ra tai nạn giao
thông có đặt biển báo R415 “Biển gộp làn đường theo phương tiện” và biển báo
W.207A “Biển báo giao nhau với đường không ưu tiên”, có biển chỉ dẫn 403b
“Đường dành cho ô tô và mô tô”.
- Đường D hướng từ đường N2 đến đường V có đặt biển báo W.247 “Biển
báo giao nhau với đường ưu tiên”.
Quá trình khám nghiệm:
+ Đánh số thứ tự các dấu vết:
- (1) Vết sạt (chà xát) có kích thước: 0m25x1m60
- (2) Vết cày xe mô tô 70FA-105.77 kích thước: 0m03x16m20
- (3) Xe ô tô tải biển số 69C-069.16
- (4) Xe mô tô biển số 70FA-105.77
- (5) Vết máu nạn nhân K kích thước: 0m60x0m70
- (6) Trụ biển chỉ dẫn tên đường
+ Điểm mốc và lề chuẩn:
- Lấy trụ biển chỉ dẫn tên đường trong lề phải hướng từ đường Đ đến Quốc
lộ A làm điểm mốc, đo vào lề chuẩn là 3m90, đo đến đầu trục bánh trước xe mô
tô biển số 70FA-105.77 là 4m10.
- Lấy mép đường bên phải hướng từ đường Đ đến Quốc lộ A làm lề chuẩn.
Sau khi xảy ra tai nạn, hiện trường để lại các dấu vết như sau:
- Thứ tự số 1: Vết sạt (chà xát) nằm trên mặt đường ở khu vực đường V 4
giao nhau với đường D1 có màu sậm dạng đường thẳng kích thước 1m60, đầu vết
đo đến đầu vết cày xe mô tô 70FA-105.77 có kích thước 1m50, đầu vết đo vào lề
chuẩn có kích thước là 1m80.
- Thứ tự số 2: Vết cày xe mô tô 70FA-105.77 có kích thước là
0m03x16m20, có dạng đường thẳng đứt quãng màu sẫm lõm xuống mặt đường
nằm trên mặt đường ở khu vực đường V 4 giao nhau với đường D, có hướng từ
đường Đ đến Quốc lộ A, đầu vết cày đo đến điểm cuối của vết kết thúc tại vị trí
gác chân sau bên trái xe mô tô biển số 70FA-105.77 có kích thước là 16m20, đo
vào trục bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 69C-069.16 kích thước là 1m30, đo
vào lề chuẩn là 0m50.
- Thứ tự số 3: Xe ô tô tải biển số 69C-069.16 nằm ở khu vực đường V 4 giao
nhau với đường D, có hướng từ đường Đ đến Quốc lộ A, đầu xe hướng vào
4
đường D, đuôi xe hướng ra đường V, trục bánh trước bên trái đo ra lề chuẩn là
2m80, đo đến trục trước bánh xe mô tô 70FA-105.77 là 11m60, trục bánh sau bên
trái đo ra lề chuẩn là 0m30, trục trước bánh xe bên phải đo ra lề chuẩn là 3m30,
trục sau bánh xe bên phải đo ra lề chuẩn là 0m80.
- Thứ tự số 4: Xe mô tô biển số 70FA-105.77 nằm ngã nghiêng bên trái
trong có hành lang đường bộ của đường V và đường D1 theo hướng từ ĐT 748
đến Quốc lộ A, đầu xe mô tô có hướng chếch vào khu vực ngã tư đường V với
đường D, đuôi xe mô tô hướng vào trong hành lang đường bộ, tâm trục bánh
trước xe mô tô đo vào lề chuẩn là 7m10, đo vào điểm mốc là 4m10, đo vào tâm
máu nạn nhân K là 8m10, trục bánh sau xe mô tô đo vào lề chuẩn là 7m80.
- Thứ tự số 5: Vết máu nạn nhân K có màu đỏ sậm nằm trên vỉa hè bên phải
của đường D1 hướng từ đường N2 đến V có kích thước 0m60x0m70, tâm vết
máu đo vào lề chuẩn là 13m50, tâm vết máu đo vào trục bánh trước bên trái xe ô
tô tải 69C- 069.16 là 12m20.
Bản Kết luận giám định số 5623/KL-KTHS (CH) ngày 27/9/2025 của Phòng
K1 - Công an Thành phố H kết luận:
1. Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 70FA-105.77 và xe ô tô tải biển số
69C-069.16:
Các dấu vết trượt xước cao su lốp bánh trước, các dấu vết này có chiều từ
mặt lăn vào vành, ngược chiều quay tiến bánh xe và các dấu vết trượt xước sơn
màu đen, màu bạc, trượt xước cao su, trượt xước kim loại, bám dính chất màu
xanh, màu đen (dạng sơn), vỡ khuyết, cong biến dạng ở các chi tiết bên trái: vè
chắn bùn bánh trước, cụm đèn trước, đầu tay lái, tay côn, gương chiếu hậu, phuộc
trước, bửng chắn gió, cần số, gác chân trước, lốc máy, gác chân sau, ốp sườn xe
mô tô biển số 70FA- 105.77 (ảnh 3, 5), các dấu vết này có chiều từ trước về sau,
từ trái qua phải phù hợp với các dấu vết trượt xước sơn màu xanh, màu đen, trượt
xước kim loại, bám dính chất màu đen, màu bạc (dạng sơn và cao su), vỡ khuyết,
cong biến dạng ở các chi tiết bên phải: cửa cabin, cân, cụm đèn trước, đèn gầm,
mặt ca lăng, đầu khung chịu lực, khung gầm xe ô tô tải biển số 69C-069.16 (ảnh
4, 6), các dấu vết này có chiều từ phải qua trái, từ trước về sau.
2. Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 70FA-
105.77 và xe ô tô tải biển số 69C-069.16 nằm ở khu vực phía trước đầu vết cày
ký hiệu số (2) như trong sơ đồ hiện trường.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 2802/KLGĐTT-KTHS ngày
29/6/2025 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của
nạn nhân Phạm Văn K do đa chấn thương.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe ô tô tải biển số 69C-069.16 do ông Võ Chí L2 đứng tên chủ sở
hữu. Ngày 12/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H giao trả
xe ô tô tải biển số 69C-069.16 cho ông Võ Chí L2. Ông L2 đã nhận và không yêu
cầu gì thêm.
5
- Đối với 01 xe mô tô biển số 70FA-105.77 do ông Phan Minh N đứng tên
chủ sở hữu. Đến tháng 02/2025, ông N bán xe 70FA-105.77 cho Cửa hàng X tại
khu phố M, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 08/3/2025, cửa hàng bán
lại cho bị hại Phạm Văn K. Ngày 10/5/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
Thành phố H đã trả xe mô tô biển số 70FA-105.77 cho bà Phạm Thị L1 là người
đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Văn K.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Võ Vũ L đã thỏa thuận bồi thường cho
người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Văn K là bà Phạm Thị L1 số tiền
100.000.000 đồng. Bà L1 đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm
và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với Võ Vũ L.
Cáo trạng số 49/CT-VKSHCM-KV ngày 28/5/2026 của Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Võ Vũ L về tội: “Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ
luật hình sự (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày
05/9/2025).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 - Thành phố
Hồ Chí Minh trình bày luận tội:
+ Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 -
Thành phố Hồ Chí Minh tại Cáo trạng số 49/CT-VKSHCM-KV ngày 28/5/2026;
+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số
135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025): Xử phạt bị cáo Võ Vũ L từ 01 năm 06 tháng
đến 02 năm từ.
+ Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo 01 Giấy
phép lái xe hạng B2.
- Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát
viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo Võ Vũ L: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân
là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và
luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
6
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 -
Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành
vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Vũ L tại
phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng
cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 10 ngày 27/6/2025, Võ Vũ L điều khiển xe ô tô tải biển số
69C-069.16 lưu thông trên đường V theo hướng từ đường ĐT 748 về Quốc lộ A,
khi đến ngã 4 giao nhau với đường D, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh, Võ Vũ L điều khiển chuyển hướng rẽ phải vào đường D nhưng không chú
ý quan sát nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 70FA-105.77 do Phạm Văn K
điều khiển lưu thông cùng chiều bên phải trên làn đường dành cho xe mô tô. Tai
nạn làm ông Phạm Văn K tử vong do đa chấn thương.
Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là xe ô tô vi phạm quy
định tại khoản 28 Điều 9, khoản 2 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường
bộ năm 2024 làm cho bị hại Phạm Văn K tử vong do bị cáo Võ Vũ L thực hiện
đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự (hợp nhất tại Văn bản
hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025).
Cáo trạng số 49/CT-VKSHCM-KV ngày 28/5/2026 của Viện Kiểm sát nhân
dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo với tội danh và điều
khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà
bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thể hiện sự xem thường pháp luật,
không những gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông mà còn xâm hại trực
tiếp đến tính mạng của người khác và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự
công cộng tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo
nhận thức được việc điều khiển phương tiện giao thông không chú ý quan sát,
không tuân thủ quy tắc giao thông là nguy hiểm nhưng vẫn cố ý thực hiện dẫn
đến tai nạn làm bị hại tử vong. Do đó đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt
nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục
và phòng ngừa chung.
[3.2] Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo
luật định là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc
phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo; ông ngoại của bị cáo có công với cách mạng, được tặng Huân chương
7
kháng chiến theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực
18 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Riêng đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc đối với mức
độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định
mức hình phạt đối với bị cáo Võ Vũ L thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại
phiên tòa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp
pháp của bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại
không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải
quyết.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến
05 năm. Tại phiên tòa bị cáo trình bày ngoài công việc lái xe để có thu nhập nuôi
sống bản thân thì bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm gì khác. Do vậy, Hội
đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị
cáo.
[7] Về vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô biển số 70FA-105.77 nhãn hiệu Suzuki loại Raider, số
máy: CGA1535886, số khung: RLSDL11ANLV135693. Ngày 10/5/2026, Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả xe mô tô biển số 70FA-105.77
cho bà Phạm Thị L1 (người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Văn K) là phù
hợp.
- 01 xe ô tô tải biển số 69C-069.16, nhãn hiệu Kia, loại Frontier K200
KF39A27R131-L02, số máy: LD530313D4CB, số khung:
RNNHA39KHAMT034254 do ông Võ Chí L2 đứng tên chủ sở hữu. Ngày
12/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả xe ô tô tải biển
số 69C-069.16 cho ông Võ Chí L2 là phù hợp.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng hạng B2 số 700209014140 do Sở giao
thông vận tải tỉnh B (nay là thành phố Đ) cấp cho Võ Vũ L ngày 29/12/2020: Xét
không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo nên cần trả
lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 329, Điều 331 và
Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số
17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026);
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự (hợp nhất tại Văn bản
hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025), xử phạt bị cáo Võ Vũ L 01
(một) 03 (ba) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3. Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Võ Vũ L 01 Giấy phép lái xe hạng
hạng B2, số 700209014140 mang tên Võ Vũ L do Sở giao thông vận tải tỉnh B
(nay là thành phố Đ) cấp ngày 29/12/2020.
(Vật chứng đã được giao cho Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 18 –
Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2026).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự (hợp
nhất tại Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026); Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Võ Vũ L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được
tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
- Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 18, Tp Hồ Chí Minh;
- VKSND Tp Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 18,
Tp Hồ Chí Minh;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: HSVA, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Xuân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 387/2026/HS-ST Bản án số 387/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 387/2026/HS-ST Bản án số 387/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất