Bản án số 38/2021/HNGĐ ngày 14/01/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2021/HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2021/HNGĐ
| Tên Bản án: | Bản án số 38/2021/HNGĐ ngày 14/01/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 38/2021/HNGĐ |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾
Bản án số: 38/2021/HNGĐ – PT
Ngày: 14 – 01 – 2021
Về việc tranh chấp ly hôn,
cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Phan Trịnh Minh Đức
Bà Trần Thị Nhung
Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà
Trần Đoàn Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 14/01/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân dân Thành phố H, xét xử công
khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 116/2020/TLPT-HNGĐ ngày
16 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn, tài sản chung”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 525/2020/HNGĐ-ST ngày 04
tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6359/2020/QĐ-PT ngày
23 tháng 11 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20212/2020/QĐ-PT
ngày 14 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đào Thị L, sinh năm 1964.
Thường trú: Số 09 đường MĐC, phường BN, Quận Y, Thành phố H.
Địa chỉ liên lạc: Số 138/29 đường NVC, phường NCT, Quận Y, Thành phố
H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Thị Hồng G, Văn phòng Luật sư CP thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Hoàng Đình Th, sinh năm 1965.
Thường trú: Số 09 đường MĐC, phường BN, Quận Y, Thành phố H.
Địa chỉ liên lạc: Số 138/29 đường NVC, phường NCT, Quận Y, Thành phố
H.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đào Thị L.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn bà Đào Thị L trình bày:
Bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th tự nguyện chung sống từ năm 2001,
có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường BN, Quận Y,
Thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 189, quyển số 01, cấp ngày
14/12/2001. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại gia đình bà L.
Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2004, trong thời gian bà
L mang thai cháu Mỹ D thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hòa
hợp tính tình, quan điểm sống, ông Th không chia sẻ với bà L những lúc ốm đau,
có lối sống không lành mạnh nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Đầu năm 2008,
bà L đã làm đơn xin ly hôn ông Th nhưng chưa nộp tại Tòa án, sau đó vợ chồng
tự hòa giải và tiếp tục chung sống. Khoảng giữa năm 2008, cha ruột bà L là ông
Đào Trọng Ch cho bà L 80 (Tám mươi) lượng vàng 9999 và 400.000.000đ (Bốn
trăm triệu đồng) để mua nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10, Quận X, Thành
phố H (sau đây gọi tắt nhà số 126 đường 28) và vợ chồng ra sống riêng. Đến
tháng 3 năm 2019 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt. Ông Th thường xuyên
đánh đập, chửi mắng, chì chiết hai mẹ con bà L thậm tệ. Ngoài ra, ông Th còn
công khai quan hệ tình cảm với người phụ nữ bán vật liệu xây dựng để xây nhà
số 126 đường 28, khai khống tiền mua vật liệu xây nhà nên vợ chồng thường xảy
ra cãi vã, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong thời gian sống chung,
ông Th không chịu đi làm nên mọi chi phí trong gia đình đều do bà L gánh vác,
không chia sẻ các công việc trong gia đình, không cho bà L nghỉ ngơi.Trong
tháng 8 năm 2019, bà L và cháu Mỹ D bị ông Th đánh đập, gây thương tích tới
03 lần. Do đó, ông Th đã bị Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận X, Thành phố H
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng công cụ, phương tiện hoặc các
vật dụng khác gây thương tích cho thành viên trong gia đình theo Quyết định số
382/QĐ-UBND ngày 21/8/2019. Bà Đào Thị L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã
trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết
cho ly hôn ông Hoàng Đình Th.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hoàng Đào Mỹ D, sinh ngày 04/3/2004.
Bà Đào Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến
khi thành niên, yêu cầu ông Hoàng Đình Th cấp dưỡng nuôi con chung
5.000.000đ (năm triệu đồng)/tháng kể từ tháng 8 năm 2019 cho đến khi con
chung thành niên.
Về tài sản chung: Bà Đào Thị L xác định trong thời gian sống chung, bà L
và ông Hoàng Đình Th có các tài sản chung gồm:
+ 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển kiểm soát 59-T2 304.32
do ông Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy. Theo kết
quả thẩm định giá số 0779520/BC-TV ngày 29/6/2020 của Công ty Cổ phần
Định giá và Đầu tư Kinh doanh bất động sản Thịnh Vượng (sau đây gọi là Kết
quả thẩm định giá số 0779520 của Công ty Thịnh Vượng) thì giá trị của xe mô tô
trên là 94.172.000đ (Chín mươi bốn triệu một trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát 59-T2 014.27 do ông
Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy. Theo Kết quả thẩm
3
định giá số 0779520 của Công ty Thịnh Vượng thì giá trị của xe mô tô trên là
2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 59T1-088.01 do ông Hoàng
Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy. Bà Đào Thị L không tranh
chấp tài sản này.
+ Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại địa chỉ số 126 đường
số 28 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CH21611 do Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố H cấp
ngày 07/4/2014 (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận số CH21611). Theo Kết quả
thẩm định giá số 0779520 của Công ty Thịnh Vượng thì giá trị quyền sử dụng đất
và công trình xây dựng trên đất tại địa chỉ trên là 7.623.141.504đ (Bảy tỷ sáu
trăm hai mươi ba triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn năm trăm lẻ bốn đồng).
Tổng giá trị tài sản chung bà L tranh chấp có giá trị là: 94.172.000đ +
2.500.000đ + 7.623.141.504đ = 7.719.813.504đ (Bảy tỷ bảy trăm mười chín triệu
tám trăm mười ba ngàn năm trăm lẻ bốn đồng). Nay, bà Đào Thị L yêu cầu Tòa
án giải quyết các vấn đề sau:
1. Chia đôi giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển kiểm soát 59-T2
304.32, mỗi bên nhận ½ giá trị, cụ thể là 94.172.000đ/2 = 47.086.000đ (Bốn
mươi bảy triệu không trăm tám mươi sáu ngàn đồng); chia đôi giá trị xe mô tô
nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát 59-T2 014.27, mỗi bên nhận ½ giá trị, cụ
thể là 2.500.000đ/2 = 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
2. Về giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất tại địa chỉ số
126 đường số 28: Bà L yêu cầu được chia 2/3 giá trị quyền sử dụng đất và tài sản
trên đất, ông Th được chia 1/3 giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất do bà
L có công sức đóng góp nhiều hơn ông Th. Hiện nay, bà L và con chung Hoàng
Đào Mỹ D cần chỗ ở để ổn định cuộc sống, học tập của con chung nên bà L yêu
cầu được nhận căn nhà trên, bà L đồng ý hoàn số tiền tương đương 1/3 giá trị
quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho ông Th là: 7.623.141.504đ/3 =
2.541.047.168đ (Hai tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu không trăm bốn mươi bảy
ngàn một trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, bà L yêu cầu ông Th phải chịu ½
chi phí thẩm định giá các tài sản tranh chấp là 15.500.500đ (Mười lăm triệu năm
trăm ngàn năm trăm đồng).
Về nợ chung: Bà Đào Thị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Bị đơn ông Hoàng Đình Th trình bày:
Ông Th xác nhận lời trình bày của bà Đào Thị L về thời gian chung sống,
quan hệ hôn nhân, con chung là đúng. Tuy nhiên, ông Th không thống nhất lời
trình bày của bà L về thời điểm phát sinh và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ
chồng. Việc bà L cho rằng ông Th không có trách nhiệm với vợ con, không quan
tâm chăm sóc gia đình, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác là không
đúng. Theo ông Th, mâu thuẫn vợ chồng chỉ phát sinh từ tháng 3 năm 2019 do bà
L không tin tưởng ông Th trong việc mua vật tư xây nhà số 126 đường 28 và nghi
ngờ ông Th có tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xảy ra cãi
vã. Bà L là người thiếu bản lĩnh trong cuộc sống, mê tín dị đoan, hay nghe người
4
ngoài xúi giục. Ông Th thừa nhận vào chiều ngày 05/8/2019, ông Th có dùng que
nhôm dài gần một mét đánh vào chân con gái Mỹ D do Mỹ D nói chuyện hỗn láo
với ông Th. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bà L đi ra ngoài về có nghe Mỹ D báo
lại sự việc nên bà L mời Công an Phường 10, Quận X, Thành phố H đến nhà làm
việc. Do không đồng ý với cách làm việc của Công an Phường 10, Quận X,
Thành phố H, ông Th có thái độ gay gắt nên bị Công an Phường 10, Quận X,
Thành phố H còng tay, đánh ông Th gây thương tích phải đi Bệnh viện điều trị.
Nay, vì tương lai của con chung và mong muốn gia đình được đoàn tụ nên
ông Hoàng Đình Th không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Đào Thị L.
Về con chung: Giả sử, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông
Hoàng Đình Th đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của con chung
Hoàng Đào Mỹ D, sinh ngày 04/3/2004. Tuy nhiên, ông Th không đồng ý việc bà
L yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (năm triệu đồng)/tháng
từ tháng 8 năm 2019 cho đến khi con chung thành niên do ông Th không có công
việc ổn định. Từ ngày 19/8/2019, ông Th có tham gia Hội Luật gia Quận Y,
Thành phố H mà không hành nghề Luật sư, thu nhập tháng có, tháng không nên
ông Th không tính được thu nhập bình quân mỗi tháng. Do đó, ông Th không có
khả năng cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà L.
Về tài sản chung: Ông Hoàng Đình Th xác định trong thời gian sống chung,
ông Th và bà L có các tài sản chung gồm:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển kiểm soát 59-T2 304.32 do
ông Th đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy. Ông Th không đồng ý chia
½ giá trị xe theo yêu cầu của bà L.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát 59-T2 014.27 do ông
Th đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy. Ông Th không đồng ý chia ½
giá trị xe theo yêu cầu của bà L.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 59T1-088.01 do ông Th
đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy. Bà L không tranh chấp tài sản này.
+ Nhà, đất số 126 đường số 28: Ông Th xác nhận vào năm 2008, cha ruột bà
L cho vợ chồng ông Th, bà L 77 (Bảy mươi bảy) lượng vàng 9999 và
350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) để mua nhà, đất nêu trên. Năm
2019, trong quá trình xây dựng lại nhà số 126 đường 28, ông Th đã đóng góp
toàn bộ số tiền chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất thừa kế của ông Th được
chia ở tỉnh NA với số tiền 1.360.000.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi triệu đồng)
để mua vật liệu xây dựng nhà. Do đó, ông Th không đồng ý để Tòa án hoặc cơ
quan có thẩm quyền chia tài sản chung theo yêu cầu của bà L. Ông Th đề nghị
Tòa án cho vợ chồng ông Th tự thỏa thuận chia giá trị nhà, đất trên.
Về nợ chung: Ông Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Đào Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu
xin ly hôn ông Hoàng Đình Th, yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục con chung
tên Hoàng Đào Mỹ D, sinh ngày 04/3/2004 cho đến khi con chung thành niên. Bà
L rút lại yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu
đồng) từ tháng 8 năm 2019 cho đến khi con chung thành niên. Việc cấp dưỡng
nuôi con do bà L, ông Th tự thỏa thuận thực hiện, không yêu cầu Tòa án giải
5
quyết. Về tài sản chung: Bà Đào Thị L yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giao xe
mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát 59-T2 014.27 trị giá 2.500.000đ (hai
triệu năm trăm ngàn đồng) cho bà L sở hữu; giao xe mô tô nhãn hiệu Honda
SH150i, biển kiểm soát 59-T2 304.32 trị giá 94.172.000đ (chín mươi bốn triệu
một trăm bảy mươi hai ngàn đồng) cho ông Th sở hữu; ông Th có nghĩa vụ thanh
toán cho bà L giá trị chênh lệch của chiếc xe ông được sở hữu; chia cho bà L 2/3
giá trị nhà, đất số 126 đường số 28; chia cho ông Th 1/3 giá trị nhà, đất số 126
đường số 28 và giao nhà, đất trên cho bà L sở hữu, bà L đồng ý thanh toán 1/3
giá trị nhà, đất ông Th được chia. Đồng thời, bà L yêu cầu ông Th phải chịu chi
phí thẩm định giá tài sản tranh chấp theo tỷ lệ tài sản được chia, đề nghị Hội đồng
xét xử cho bà L và ông Th trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực
pháp luật, hai bên sẽ thực hiện việc giao, nhận giá trị chênh lệch, bàn giao tài sản
được chia và chi phí thẩm định giá. Về nợ chung: Bà L xác định không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà L không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Hoàng Đình Th vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai
mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 525/2020/HNGĐ-ST ngày 04
tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H đã quyết định:
- Về hôn nhân: Cho bà Đào Thị L được ly hôn ông Hoàng Đình Th. Giấy
chứng nhận kết hôn số 189, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường BN, Quận
Y, Thành phố H cấp ngày 14/12/2001 không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật.
- Về con chung:
+ Giao con chung tên Hoàng Đào Mỹ D, sinh ngày 04/3/2004 cho bà Đào
Thị L nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do
bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th tự thỏa thuận thực hiện, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Ông Hoàng Đình Th có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung
với bà Đào Thị L và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp ông Hoàng Đình Th lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì
bà Đào Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông
Hoàng Đình Th.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
+ Đình chỉ yêu cầu ông Hoàng Đình Th cấp dưỡng nuôi con chung
5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng từ tháng 8 năm 2019 đến khi thành niên do
bà Đào Thị L rút yêu cầu khởi kiện.
- Xác định tài sản chung của bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th có trong
thời kỳ hôn nhân gồm:
+ Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát 59-T2 014.27
do ông Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe số 043392 do Công an
Quận Y, Thành phố H cấp ngày 11/4/2017, trị giá 2.500.000đ (Hai triệu năm
6
trăm ngàn đồng).
+ Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển kiểm soát 59-T2
304.32 do ông Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy khai đăng ký xe ngày
21/6/2019 được lưu trữ tại Công an Quận Y, Thành phố H, trị giá 94.172.000đ
(Chín mươi bốn triệu một trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
+ Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 59T1-088.01 do ông
Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe số 031595 do Công an Quận Y,
Thành phố H cấp ngày 20/01/2011. Bà Đào Thị L không tranh chấp tài sản này
nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
+ Nhà, đất số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H được Ủy
ban nhân dân Quận X, Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng
nhận CH21611 ngày 07/4/2014, trị giá 7.623.141.504đ (bảy tỷ sáu trăm hai mươi
ba triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn năm trăm lẻ bốn đồng).
Tổng giá trị tài sản chung tranh chấp là 7.719.813.504đ (Bảy tỷ bảy trăm
mười chín triệu tám trăm mười ba ngàn năm trăm lẻ bốn đồng).
- Về cách phân chia tài sản chung:
+ Bà Đào Thị L được sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát
59-T2 014.27 và được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục
đăng ký thay đổi tên chủ sở hữu trên giấy đăng ký xe ngay khi bản án có hiệu lực
pháp luật.
+ Ông Hoàng Đình Th được sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển
kiểm soát 59-T2 304.32 và có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đào Thị L phần giá trị
chênh lệch với số tiền 45.836.000đ (Bốn mươi lăm triệu tám trăm ba mươi sáu
ngàn đồng) trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Bà Đào Thị L được chia 60% giá trị nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10,
Quận X, Thành phố H, tương đương số tiền 4.573.884.902đ (Bốn tỷ năm trăm
bảy mươi ba triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn chín trăm lẻ hai đồng).
+ Ông Hoàng Đình Th được chia 40% giá trị nhà, đất số 126 đường 28,
Phường 10, Quận X, Thành phố H, tương đương số tiền 3.049.256.602đ (Ba tỷ
không trăm bốn mươi chín triệu hai trăm năm mươi sáu ngàn sáu trăm lẻ hai
đồng).
+ Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đào
Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hoàng Đình Th 40% giá trị nhà, đất số 126
đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H và bà L được nhận toàn bộ nhà, đất
nêu trên; ông Hoàng Đình Th có nghĩa vụ bàn giao toàn bộ nhà, đất số 126 đường
28, Phường 10, Quận X, Thành phố H cho bà Đào Thị L và nhận 40% giá trị nhà,
đất nêu trên.
+ Bà Đào Thị L được trọn quyền sở hữu nhà, đất số 126 đường 28, Phường
10, Quận X, Thành phố H sau khi thanh toán xong cho ông Hoàng Đình Th 40%
giá trị nhà, đất nêu trên và được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất theo quy định của pháp luật.
7
+ Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, một hoặc
cả hai bên bà Đào Thị L, ông Hoàng Đình Th có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành
án dân sự có thẩm quyền phát mãi nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10, Quận
X, Thành phố H và chia giá trị nhà, đất tại thời điểm phát mãi theo tỷ lệ được
phân chia.
Kể từ ngày người được thi hành án là bà Đào Thị L hoặc ông Hoàng Đình
Th có đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền,
nếu người phải thi hành án không thực hiện hoặc chậm thực hiện thanh toán số
tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được
thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm
trả theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về nợ chung: Bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th xác định không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị L đồng ý trả cho ông Hoàng Đình
Th ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật các bản chính: Giấy chứng nhận ông
Hoàng Đình Th đã hoàn tất học phần MS.WORD for WINDOWS do Trường Đại
học Sư phạm Thành phố H cấp ngày 25/8/1997; Giấy chứng nhận ông Hoàng
Đình Th đã hoàn tất học phần ACCESS 1 do Trường Đại học Sư phạm Thành
phố H cấp ngày 31/10/1997; Giấy chứng nhận ông Hoàng Đình Th đã hoàn tất
học phần Điện toán căn bản: DOS – WIN3.1 do Trường Đại học Sư phạm Thành
phố H cấp ngày 20/4/1998; Giấy chứng nhận ông Hoàng Đình Th đã hoàn tất học
phần xử lý bảng tính (EXCEL 5.0) do Trường Đại học Sư phạm Thành phố H
cấp ngày 20/4/1998; Chứng chỉ tin học ứng dụng trình độ A do Trường Đại học
Sư phạm Thành phố H cấp cho ông Hoàng Đình Th ngày 04/5/1998; Bằng tốt
nghiệp Đại học do Trường Đại học Luật HN cấp cho ông Hoàng Đình Th số
B08958 ngày 20/6/2000 và Chứng chỉ tốt nghiệp Khóa đào tạo nghề Luật sư do
Học viện Tư pháp cấp cho ông Hoàng Đình Th số 02853/2005/LS ngày
30/9/2005.
- Chi phí thẩm định giá tài sản tranh chấp:
+ Bà Đào Thị L phải chịu 60% chi phí thẩm định giá tài sản là 9.300.000đ
(Chín triệu ba trăm ngàn đồng). Bà L đã nộp đủ số tiền trên.
+ Ông Hoàng Đình Th phải chịu 40% chi phí thẩm định giá tài sản là
6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Ông Th có nghĩa vụ thanh toán số
tiền trên cho bà L trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp
luật.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo của
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/9/2020, bà Đào Thị L kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét
các yêu cầu sau:
- Buộc ông Hoàng Đình Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm
triệu đồng) cho đến khi trẻ Hoàng Đào Mỹ D trưởng thành, thi hành một lần trừ
trực tiếp vào số tiền ông Hoàng Đình Th được chia tài sản chung.
- Yêu cầu đối chất số tiền 10.500USD bà L đã đưa cho ông Th gửi tiết kiệm
8
để xây dựng nhà số 126 đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H.
- Bà Đào Thị L yêu cầu được chia 2/3 giá trị căn nhà, đất số 126 đường 28,
Phường 10, Quận X, Thành phố H, đồng ý chia cho ông Hoàng Đình Th 1/3 giá
trị căn nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H.
- Yêu cầu tính án phí tố tụng và chia bà L chịu ½, ông Th chịu ½ .
Ngày 11/12/2020 và tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đào Thị L xác định yêu cầu
kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử sửa Bản án sơ thẩm, cụ thể như sau:
- Buộc ông Hoàng Đình Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm
triệu đồng) cho đến khi trẻ Hoàng Đào Mỹ D trưởng thành, thi hành một lần trừ
trực tiếp vào số tiền ông Hoàng Đình Th được chia tài sản chung.
- Bà Đào Thị L yêu cầu được chia 2/3 giá trị căn nhà, đất số 126 đường 28,
Phường 10, Quận X, Thành phố H, đồng ý chia cho ông Hoàng Đình Th 1/3 giá
trị căn nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Hoàng Đình Th không đồng ý yêu cầu
kháng cáo của bà Đào Thị L, yêu cầu giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đào Thị L trình bày:
Trong quá trình chung sống, bà L có việc làm ổn định, mọi việc gia đình và
kinh tế gia đình đều do bà L gánh vác; ông Th không có việc làm, không làm tròn
trách nhiệm của người chồng, người cha trong gia đình.
Hiện nay con chung giữa bà L và ông Th đang học cấp 3, chi phí rất nhiều,
bà L mới về hưu nên khó khăn trong chi phí sinh hoạt gia đình, học hành của con.
Bà L yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu
đồng) cho đến khi trẻ Hoàng Đào Mỹ D trưởng thành, thi hành một lần trừ trực
tiếp vào số tiền ông Hoàng Đình Th được chia tài sản chung là có căn cứ.
Về tài sản chung: Nhà đất tại số 126 đường số 28 Phường 10, Quận X,
Thành phố H được bà L, ông Th mua trong thời kỳ hôn nhân nhưng tiền mua nhà
là do ông Đào Trọng C là cha ruột của bà L cho riêng bà L 80 (Tám mươi) lượng
vàng 9999 và 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng), không có tài liệu chứng minh
số vàng và tiền này là cho chung vợ chồng bà L. Năm 2007, bà L đã làm giấy
đồng ý để ông Th về quê ở tỉnh NA để nhận phần đất được gia đình bên chồng
cho vợ chồng và ông Th đã bán phần đất này góp 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng)
để xây dựng căn nhà số 126 đường số 28 Phường 10, Quận X, Thành phố H vào
năm 2019. Như vậy, công sức đóng góp của bà L để tạo dựng căn nhà số 126
đường số 28 Phường 10, Quận X, Thành phố H nhiều hơn ông Th.
Từ những luận cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu kháng cáo của bà Đào Thị L.
Ông Hoàng Đình Th tranh luận: Ông Th đã làm tròn trách nhiệm của người
chồng, người cha trong gia đình; Luật sư trình bày nhưng không có tài liệu chứng
minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá
9
trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm, xem xét đơn kháng cáo và tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay,Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý
kiến về việc giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục
phúc thẩm tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Căn cứ Khoản 1 Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân
dân Thành phố H có Thông báo về việc thụ lý vụ án phúc thẩm cho Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp và đương sự.
Căn cứ Điều 290 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Thành
phố H có Quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp và các đương sự.
Hồ sơ vụ án cũng đã được chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
nghiên cứu theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thực hiện việc tống đạt các Quyết định cho các bên đương sự đầy đủ.
2. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử:
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại
các Điều 297, Điều 298, Điều 301, Điều 302, Điều 303 và Điều 305 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 về phần thủ tục, phần hỏi, phần tranh luận.
3. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự:
- Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của
họ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 234 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
4. Về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo:
Về thời hạn kháng cáo:
Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H tuyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ
thẩm số 525/2020/HNGĐ-ST ngày 04/9/2020. Ngày 21/9/2020, bà Đào Thị L có
đơn kháng cáo. Căn cứ Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì
đơn kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định.
5. Về nội dung kháng cáo:
+ Về phần yêu cầu cấp dưỡng: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 04/9/2020, bà L
rút lại yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu
đồng), tính từ tháng 8/2019 cho đến khi con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con
do bà L, ông Th tự thỏa thuận thực hiện, không yêu cầu tòa án giải quyết. Do đó,
tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 525/2020/HNGĐ-ST ngày 04/9/2020 đã
quyết định: "Đình chỉ yêu cầu ông Hoàng Đình Th cấp dưỡng nuôi con chung
5.000.000 đồng/ tháng từ tháng 8/2019 cho đến khi thành niên do bà Đào Thị L
rút yêu cầu khởi kiện.". Việc rút yêu cầu cấp dưỡng là trên tinh thần tự nguyện
của bà L. Nay bà L yêu cầu kháng cáo về phần cấp dưỡng là không có cơ sở để
10
xem xét. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông Th tự nguyện cấp
dưỡng nuôi con là trẻ Hoàng Đào Mỹ D bắt đầu từ hôm nay mỗi tháng
5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho đến khi con thành niên. Xét thấy sự tự nguyện
này của ông Th là không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, ông Th là
cha có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung, nên sự tự nguyện này của ông Th là có cơ
sở ghi nhận.
+ Về phần giá trị nhà, đất số 126 đường 28, phường 10, Quận X, Thành phố
H:
Xét tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đào Thị L thống nhất với lời trình bày của bị
đơn ông Hoàng Đình Th về số vàng và tiền mà cha ruột của bà L đã cho vào năm
2008 để mua nhà số 126 đường 28 là 77 (Bảy mươi bảy) lượng vàng 9999 và
350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng), toàn bộ số tiền và vàng bà L giao
cho ông Th quản lý, khi giao không cho ông Th ký nhận và cũng không có văn
bản xác nhận đây là tài sản được tặng cho riêng bà L. Về số tiền xây dựng lại
nhà: Tại biên bản hòa giải ngày 20/7/2020, ông Th trình bày đã đóng góp toàn bộ
số tiền chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất thừa kế của ông được chia ở tỉnh
NA là 1.360.000.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi triệu đồng) để mua vật liệu xây
nhà. Tuy nhiên bà L chỉ thừa nhận ông Th đóng góp 1.000.000.000đ (Một tỷ
đồng) vào để mua vật liệu xây nhà, ông Th cũng không có tài liệu nào chứng
minh đã đóng góp toàn bộ số tiền 1.360.000.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi triệu
đồng) cho việc mua vật liệu xây dựng nhà. Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất ngày 08/7/2008 về giao dịch chuyển
nhượng căn nhà, đất số 126 đường 28, bên nhận chuyển nhượng có tên ông
Hoàng Đình Th và bà Đào Thị L và đã được đăng bộ sang tên ngày 06/8/2008; tại
đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất năm 2014, tên người sử dụng đất, chủ sở
hữu tài sản gắn liền với đất vẫn có tên ông Hoàng Đình Th và bà Đào Thị L. Như
vậy, bà L và ông Th đã tự nguyện xác lập tài sản riêng vào tài sản chung, cùng
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất vào sổ cấp giấy chứng nhận CH21611 ngày 07/4/2014 nên có căn
cứ xác định nhà, đất số 126 đường 28 là tài sản chung của bà Đào Thị L và ông
Hoàng Đình Th tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ vào những tài liệu chứng
cứ trong vụ án và sự thừa nhận của hai bên có cơ sở xác định tiền mua nhà đất số
126 đường 28 là do cha ruột bà Đào Thị L cho vào năm 2008 và đến năm 2019,
ông Th có đóng góp 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) vào việc xây dựng nhà nên bà
L có công sức đóng góp vào việc tạo lập tài sản chung này nhiều hơn ông Th. Do
đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào công sức đóng góp của hai bên, quyết định
cho bà Đào Thị L được chia 60%, ông Hoàng Đình Th được chia 40% giá trị nhà
đất là hợp lý. Do đó, bà L kháng cáo yêu cầu chia cho bà L 2/3, ông Th 1/3 giá trị
nhà đất là không có cơ sở chấp nhận phần kháng cáo này của bà L.
+ Xét kháng cáo của bà L về phần án phí cũng như kháng cáo yêu cầu Tòa
án cho đối chất về số tiền 10.500USD vì đó là tiền lương của bà L đưa ông Th
góp để gửi tiết kiệm xây lại nhà số 126 đường 28 Phường 10, Quận X. Tuy nhiên
tại phiên tòa phúc thẩm bà L đồng ý rút kháng cáo 2 phần này nên căn cứ Khoản
1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng cáo
11
này.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà L có yêu cầu thẩm định lại giá nhà đất.
Xét thấy, nhà đất trên mới được định giá vào tháng 6/2020. Công ty thực hiện
thẩm định giá là do bà L yêu cầu, sau khi thẩm định giá xong bà L không khiếu
nại gì và đồng ý lấy giá thẩm định làm căn cứ xét xử. Vì vậy việc bà L yêu cầu
thẩm định lại giá nhà nhưng không xuất trình được chứng cứ nên không có cơ sở
chấp nhận.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà
Đào Thị L.
Bởi các lẽ trên,
Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đào Thị L.
- Sửa một phần Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 525/2020/HNGĐ-ST
ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H theo hướng: Ghi
nhận sự tự nguyện của ông Th về việc cấp dưỡng nuôi con là trẻ Hoàng Đào Mỹ
D bắt đầu từ hôm nay mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho đến khi con
thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo ngày 21/9/2020 của nguyên đơn bà
Đào Thị L làm trong hạn luật định và bà Đào Thị L đã thực hiện nghĩa vụ của
người kháng cáo phù hợp với các quy định tại Điều 271, 272, 273 và Điều 276
Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
II. Xét tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đào Thị L đã rút một phần kháng cáo về:
Yêu cầu đối chất số tiền 10.500USD bà L đã đưa cho ông Th gửi tiết kiệm để xây
dựng nhà số 126 đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H; Yêu cầu tính án
phí tố tụng và chia bà L chịu ½, ông Th chịu ½ . Căn cứ Khoản 3 Điều 284, Điểm
c Khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử
phúc thẩm phần kháng cáo này của bà L.
III. Xét kháng cáo còn lại của bà Đào Thị L:
[1] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đào Thị L rút yêu cầu
cấp dưỡng nuôi con, cấp sơ thẩm đã đình chỉ, không xem xét yêu cầu này của bà
Liễn nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc
thẩm, ông Hoàng Đình Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ
(Năm triệu đồng) cho đến khi trẻ Hoàng Đào Mỹ D tròn 18 tuổi, bà L đồng ý
mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng), đây là tình tiết
mới tại phiên tòa. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của trẻ Hoàng Đào
Mỹ D và cũng là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên, đảm bảo việc
giải quyết vụ án khách quan, toàn diện; xét thấy sự tự nguyện của ông Hoàng
Đình Th không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp
12
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận sửa một phần Bản án
hôn nhân gia đình sơ thẩm số 525/2020/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H về cấp dưỡng nuôi con.
[2] Về chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản: Tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là căn nhà, đất tại số 126 đường số 28, Phường
10, Quận X, Thành phố H, diện tích đất 72m
2
thuộc thửa số 19 tờ bản đồ số 6, đã
được Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Đào Thị L,
ông Hoàng Đình Th số BP298837 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH21611 ngày
07/4/2014; đã được xây dựng lại vào tháng 3/2019 theo bản vẽ xin phép xây
dựng ngày 10/01/2019 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn dịch vụ Tin học Xây
dựng Minh Khôi, diện tích xây dựng 283,20m
2
, kết cấu: Sàn BTCT, tường gạch,
mái BTCT, nhà 4 tầng, chưa hoàn thành thủ tục hoàn công. Bà Đào Thị L kháng
cáo, yêu cầu được chia 2/3 (tương đương 66.66%) giá trị nhà, đất số 126 đường
28; chia cho ông Th 1/3 (tương đương 33.34%) giá trị nhà, đất số 126 đường 28,
Xét thấy:
Căn nhà, đất tại số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H,
diện tích đất 72m
2
thuộc thửa số 19 tờ bản đồ số 6, đã được Ủy ban nhân dân
Quận X, Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Đào Thị L, ông Hoàng Đình Th số
BP298837 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH21611 ngày 07/4/2014; đã được xây
dựng lại vào tháng 3/2019 theo bản vẽ xin phép xây dựng ngày 10/01/2019 của
Công ty Trách nhiệm hữu hạn dịch vụ Tin học Xây dựng Minh Khôi, diện tích
xây dựng 283,20m
2
, kết cấu: Sàn BTCT, tường gạch, mái BTCT, nhà 4 tầng,
chưa hoàn thành thủ tục hoàn công; bà L và ông Th thừa nhận là tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không
kháng nghị nên xác định đây là tài sản chung của vợ chồng bà L, ông Th trong
thời kỳ hôn nhân.
Xét công sức đóng góp của bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th trong tài
sản chung là căn nhà, đất số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H:
Đối với bà Đào Thị L: Bà L trình bày vào năm 2008 cha ruột của bà L là
ông Đào Trọng C có cho riêng bà L 80 (Tám mươi) lượng vàng 9999 và
400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng) để mua nhà số 126 đường số 28, Phường 10,
Quận X, Thành phố H, trước đây bà L không nghĩ đến việc tranh chấp tài sản nên
khi bà L giao số vàng và tiền này cho ông Th thì bà L và ông Th không lập văn
bản xác định tài sản riêng và lập biên bản giao nhận nên bà L không có tài liệu,
chứng cứ chứng minh cho lời trình bày đã được cha ruột cho 80 (Tám mươi)
lượng vàng 9999 và 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng). Trong quá trình giải
quyết tại cấp sơ thẩm, ông Th chỉ xác nhận cha ruột của bà L cho vợ chồng 77
(Bảy mươi bảy) lượng vàng 9999 và 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu
đồng) để mua nhà số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H, bà L
đã đồng ý. Như vậy, bà L cho rằng số tiền và vàng cha ruột cho riêng bà L là
không có căn cứ, tuy nhiên phải thừa nhận bà L, ông Th mua nhà số 126 đường
số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H từ nguồn tiền và vàng của cha ruột bà L
13
là ông Đào Trọng C cho.
Đối với ông Hoàng Đình Th: Ông Th trình bày năm 2018, ông Th đã chuyển
nhượng phần di sản thừa kế của mình được chia ở tỉnh NA được số tiền
1.360.000.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi triệu đồng), đã đóng góp toàn bộ số
tiền này để mua vật liệu xây dựng nhà số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X,
Thành phố H vào năm 2019 nhưng ông Th không cung cấp tài liệu, chứng cứ
chứng minh. Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bà L chỉ thừa nhận ông
Th có đóng góp 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để xây nhà. Sự thừa nhận của bà L
có cơ sở xác định ông Th đã đóng góp số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) vào
tài sản chung bằng cách mua vật liệu xây dựng nhà số 126 đường số 28, Phường
10, Quận X, Thành phố H vào năm 2019.
Cấp sơ thẩm đã xem xét việc đóng góp của hai bên đương sự trong việc tạo
lập khối tài sản chung là căn nhà, đất tại số 126 đường số 28, Phường 10, Quận
X, Thành phố H từ thời điểm hình thành, việc duy trì, phát triển khối tài sản
chung từ đó cho đến nay và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành
niên, đã xác định bà L có công sức đóng góp nhiều hơn ông Th và đã chia cho bà
L 60% giá trị nhà, đất số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H;
chia cho ông Th 40% giá trị nhà, đất số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X,
Thành phố H là hợp lý, hợp tình, đúng quy định tại Khoản 2 và Khoản 5 Điều 59
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 7 Thông tư liên tịch số
01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án
nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Bộ Tư pháp hướng dẫn thi
hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà L kháng cáo
yêu cầu được chia 2/3 (tương đương 66.66%) giá trị nhà, đất số 126 đường số 28,
Phường 10, Quận X, Thành phố H; chia cho ông Th 1/3 (tương đương 33.34%)
giá trị nhà, đất nêu trên nhưng bà L không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng
minh ngoài các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được cấp sơ thẩm xem xét
nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L.
[3]. Xét yêu cầu của bà L về việc đo vẽ, định giá lại căn nhà, đất tại số 126
đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H, vì bà L cho rằng Chứng thư
thẩm định giá số 0770520/CT – TV ngày 29/6/2020 của Công ty cổ phần định giá
và đầu tư kinh doanh bất động sản Thịnh Vượng là chưa chính xác vì tại thời
điểm thẩm định giá chỉ trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP298837 vào sổ cấp giấy chứng
nhận CH21611 ngày 07/4/2014 do Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố H cấp,
chưa xem xét giá trị xây dựng mới vào tháng 3/2019. Xét thấy:
Tại Chứng thư thẩm định giá số 0770520/CT – TV ngày 29/6/2020 của
Công ty cổ phần định giá và đầu tư kinh doanh bất động sản Thịnh Vượng đã
thẩm định công trình xây dựng trên đất tại số 126 đường số 28, Phường 10, Quận
X, Thành phố H là nhà trệt + lửng + 02 lầu + sân thượng; kết cấu chung: Móng
BTCT, tường gạch, sàn BTCT, mái BTCT; diện tích sàn xây dựng là 283,20m
2
theo bản vẽ xin phép xây dựng ngày 10/01/2019 của Công ty TNHH Dịch vụ tin
học xây dựng Minh Khôi do bà L cung cấp. Đối chiếu Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP298837 vào sổ
14
cấp giấy chứng nhận CH21611 ngày 07/4/2014 do Ủy ban nhân dân Quận X,
Thành phố H cấp thì có sự chênh lệch diện tích sàn xây dựng trong giấy chứng
nhận là 124,80m
2
so với diện tích sàn xây dựng thực tế là 283,20m
2
. Như vậy, tại
thời điểm thẩm định tháng 6/2020, Công ty thẩm định đã thẩm định phần công
trình xây dựng trên đất trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP298837 vào sổ cấp giấy chứng
nhận CH21611 ngày 07/4/2014 do Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố H cấp
và hiện trạng thực tế công trình xây dựng do bà L, ông Th sửa chữa, xây dựng
vào tháng 3/2019. Công ty thực hiện thẩm định giá là do bà L yêu cầu, sau khi
thẩm định giá xong bà L không khiếu nại gì và đồng ý lấy giá thẩm định làm căn
cứ xét xử. Bà L yêu cầu thẩm định lại giá nhà nhưng không xuất trình được
chứng cứ nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L về việc đo vẽ, định giá
lại căn nhà, đất tại số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H.
[4]. Xét trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đào
Thị L:
Như nhận định nêu trên, xét thấy không có cơ sở nên không chấp nhận.
[5]. Xét ý kiến phát biểu đề nghị về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa, như nhận định nêu trên, xét
thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn bà Đào Thị L.
[6]. Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không
được chấp nhận nên nguyên đơn bà Đào Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình
phúc thẩm.
Các phần khác của Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 525/2020/HNGĐ-
ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H không
bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 5, Khoản 1 Điều 148, Điều 271, 272, 273, 276, Khoản 3 Điều
284, Điểm c Khoản 1 Điều 289, Điều 293, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Đào Thị L về
yêu cầu đối chất số tiền 10.500USD bà L đã đưa cho ông Th gửi tiết kiệm để xây
dựng nhà số 126 đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H; yêu cầu tính án
phí tố tụng và chia bà L chịu ½, ông Th chịu ½ .
II. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo còn lại của nguyên đơn bà Đào Thị
L.
III. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hoàng Đình Th về cấp dưỡng nuôi con
chung chưa thành niên; Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
15
525/2020/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận X,
Thành phố H, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị L ly hôn ông Hoàng Đình Th. Giấy
chứng nhận kết hôn số 189, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường BN, Quận
Y, Thành phố H cấp ngày 14/12/2001 không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Hoàng Đào Mỹ D, sinh ngày
04/3/2004.
+ Giao con chung chưa thành niên tên Hoàng Đào Mỹ D, sinh ngày
04/3/2004 cho bà Đào Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con
chung tròn 18 tuổi.
+ Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hoàng Đình Th có nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con chung cho trẻ Hoàng Đào Mỹ D mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu
đồng), thi hành ngay khi tuyên án phúc thẩm cho đến khi con chung trẻ Hoàng
Đào Mỹ D tròn 18 tuổi.
Việc giao nhận con chung tên Hoàng Đào Mỹ D và tiền cấp dưỡng nuôi con
do hai bên đương sự tự thi hành hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có
thẩm quyền thi hành.
Kể từ ngày bà Đào Thị L có đơn yêu cầu thi hành án tiền cấp dưỡng nuôi
con, nếu ông Hoàng Đình Th chưa hoặc không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi
đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
Bộ luật Dân sự.
Ông Hoàng Đình Th có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung
với bà Đào Thị L và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp ông Hoàng Đình Th lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì
bà Đào Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông
Hoàng Đình Th.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Xác định tài sản chung của bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th có trong
thời kỳ hôn nhân gồm:
+ Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát 59-T2 014.27
do ông Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe số 043392 do Công an
Quận Y, Thành phố H cấp ngày 11/4/2017, trị giá 2.500.000đ (Hai triệu năm
trăm ngàn đồng).
+ Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển kiểm soát 59-T2
304.32 do ông Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy khai đăng ký xe ngày
21/6/2019 được lưu trữ tại Công an Quận Y, Thành phố H, trị giá 94.172.000đ
(Chín mươi bốn triệu một trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
+ Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 59T1-088.01 do ông
16
Hoàng Đình Th đứng tên trên giấy đăng ký xe số 031595 do Công an Quận Y,
Thành phố H cấp ngày 20/01/2011. Bà Đào Thị L không tranh chấp tài sản này
nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
+ Nhà, đất số 126 đường số 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H, diện tích
đất 72m
2
thuộc thửa số 19 tờ bản đồ số 6, đã được Ủy ban nhân dân Quận X,
Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất cho bà Đào Thị L, ông Hoàng Đình Th số BP298837
vào sổ cấp giấy chứng nhận CH21611 ngày 07/4/2014; đã được xây dựng lại vào
tháng 3/2019 theo bản vẽ xin phép xây dựng ngày 10/01/2019 của Công ty Trách
nhiệm hữu hạn dịch vụ Tin học Xây dựng Minh Khôi, diện tích xây dựng
283,20m
2
, kết cấu: Sàn BTCT, tường gạch, mái BTCT, nhà 4 tầng, chưa hoàn
thành thủ tục hoàn công. Trị giá 7.623.141.504đ (Bảy tỷ sáu trăm hai mươi ba
triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn năm trăm lẻ bốn đồng).
Tổng giá trị tài sản chung tranh chấp là 7.719.813.504đ (Bảy tỷ bảy trăm
mười chín triệu tám trăm mười ba ngàn năm trăm lẻ bốn đồng).
- Về phân chia tài sản chung:
+ Bà Đào Thị L được sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Jiulong 100, biển kiểm soát
59-T2 014.27 và được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục
đăng ký thay đổi tên chủ sở hữu trên giấy đăng ký xe ngay khi Bản án có hiệu lực
pháp luật.
+ Ông Hoàng Đình Th được sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển
kiểm soát 59-T2 304.32 và có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đào Thị L phần giá trị
chênh lệch với số tiền 45.836.000đ (Bốn mươi lăm triệu tám trăm ba mươi sáu
ngàn đồng) trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Bà Đào Thị L được chia 60% giá trị nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10,
Quận X, Thành phố H, tương đương số tiền 4.573.884.902đ (Bốn tỷ năm trăm
bảy mươi ba triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn chín trăm lẻ hai đồng).
+ Ông Hoàng Đình Th được chia 40% giá trị nhà, đất số 126 đường 28,
Phường 10, Quận X, Thành phố H, tương đương số tiền 3.049.256.602đ (Ba tỷ
không trăm bốn mươi chín triệu hai trăm năm mươi sáu ngàn sáu trăm lẻ hai
đồng).
+ Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đào
Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hoàng Đình Th 40% giá trị nhà, đất số 126
đường 28, Phường 10, Quận X, Thành phố H và bà L được nhận toàn bộ nhà, đất
nêu trên; ông Hoàng Đình Th có nghĩa vụ bàn giao toàn bộ nhà, đất số 126 đường
28, Phường 10, Quận X, Thành phố H cho bà Đào Thị L ngay khi nhận 40% giá
trị nhà, đất nêu trên.
+ Bà Đào Thị L được trọn quyền sở hữu nhà, đất số 126 đường 28, Phường
10, Quận X, Thành phố H, diện tích đất 72m
2
thuộc thửa số 19 tờ bản đồ số 6, đã
được Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Đào Thị L,
ông Hoàng Đình Th số BP298837 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH21611 ngày
07/4/2014; đã được xây dựng lại vào tháng 3/2019 theo bản vẽ xin phép xây
dựng ngày 10/01/2019 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn dịch vụ Tin học Xây
17
dựng Minh Khôi, diện tích xây dựng 283,20m
2
, kết cấu: Sàn BTCT, tường gạch,
mái BTCT, nhà 4 tầng, chưa hoàn thành thủ tục hoàn công, ngay khi thanh toán
xong cho ông Hoàng Đình Th 40% giá trị nhà, đất nêu trên và được quyền liên hệ
cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
+ Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, một hoặc
cả hai bên bà Đào Thị L, ông Hoàng Đình Th có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành
án dân sự có thẩm quyền phát mãi căn nhà, đất số 126 đường 28, Phường 10,
Quận X, Thành phố H và chia giá trị nhà, đất tại thời điểm phát mãi theo tỷ lệ
được phân chia như đã nêu trên sau khi trừ các chi phí, phí, lệ phí thi hành án,
đấu giá phát mãi.
Kể từ ngày người được thi hành án là bà Đào Thị L hoặc ông Hoàng Đình
Th có đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền,
nếu người phải thi hành án không thực hiện hoặc chậm thực hiện thanh toán số
tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được
thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm
trả theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
- Về nợ chung: Bà Đào Thị L và ông Hoàng Đình Th xác định không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị L đồng ý trả cho ông Hoàng Đình
Th ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật các giấy tờ bản chính gồm: Giấy chứng
nhận ông Hoàng Đình Th đã hoàn tất học phần MS.WORD for WINDOWS do
Trường Đại học Sư phạm Thành phố H cấp ngày 25/8/1997; Giấy chứng nhận
ông Hoàng Đình Th đã hoàn tất học phần ACCESS 1 do Trường Đại học Sư
phạm Thành phố H cấp ngày 31/10/1997; Giấy chứng nhận ông Hoàng Đình Th
đã hoàn tất học phần Điện toán căn bản: DOS – WIN3.1 do Trường Đại học Sư
phạm Thành phố H cấp ngày 20/4/1998; Giấy chứng nhận ông Hoàng Đình Th đã
hoàn tất học phần xử lý bảng tính (EXCEL 5.0) do Trường Đại học Sư phạm
Thành phố H cấp ngày 20/4/1998; Chứng chỉ tin học ứng dụng trình độ A do
Trường Đại học Sư phạm Thành phố H cấp cho ông Hoàng Đình Th ngày
04/5/1998; Bằng tốt nghiệp Đại học do Trường Đại học Luật HN cấp cho ông
Hoàng Đình Th số B08958 ngày 20/6/2000 và Chứng chỉ tốt nghiệp Khóa đào
tạo nghề Luật sư do Học viện Tư pháp cấp cho ông Hoàng Đình Th số
02853/2005/LS ngày 30/9/2005.
- Chi phí thẩm định giá tài sản tranh chấp:
+ Bà Đào Thị L phải chịu 60% chi phí thẩm định giá tài sản là 9.300.000đ
(Chín triệu ba trăm ngàn đồng). Bà L đã nộp đủ số tiền trên.
+ Ông Hoàng Đình Th phải chịu 40% chi phí thẩm định giá tài sản là
6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Ông Th có nghĩa vụ thanh toán số
tiền trên cho bà L trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp
luật.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà L
phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn
18
đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu số 0011584 ngày 19/9/2019 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận X, Thành phố H.
- Án phí dân sự sơ thẩm (Về tài sản chung): 112.622.220đ (Một trăm mười
hai triệu sáu trăm hai mươi hai ngàn hai trăm hai mươi đồng) bà L phải chịu
nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 28.014.875đ (Hai mươi tám triệu
không trăm mười bốn ngàn tám trăm bảy mươi lăm đồng) bà L đã nộp theo biên
lai thu số 0011670 ngày 19/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X,
Thành phố H. Bà L còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 84.607.325đ
(Tám mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy ngàn ba trăm hai mươi lăm đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm (Về tài sản chung): 93.951.852đ (Chín mươi ba
triệu chín trăm năm mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi hai đồng) ông Th phải
chịu.
- Án phí HNGĐ-PT: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Đào Thị L phải chịu
nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà
L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010516 ngày 24/9/2020 của
Chi cục Thi hành án dân sự Quận X, Thành phố H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi
hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi
hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.H;
- VKSND Cấp cao tại TP.H;
- VKSND TP.H;
- TAND Quận X, TP.H;
- Chi cục THADS Quận X, H;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phan Trịnh Minh Đức
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm