Bản án số 38/2021/DS-PT ngày 01/03/2022 của TAND tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2021/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2021/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 38/2021/DS-PT ngày 01/03/2022 của TAND tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Khánh Hòa |
| Số hiệu: | 38/2021/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/03/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 38/2021/DS-PT
Ngày: 01/12/2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương
Các Thẩm phán: Bà Lâm Vương Mỹ Linh
Ông Nguyễn Văn Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa,
xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 03/2021/TLPT-DS ngày 01
tháng 02 năm 2021 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 43/2020/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2021/QĐ-PT ngày
20 tháng 5 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2021/QĐ-PT ngày
01/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2021/QĐ-PT ngày 22/6/2021,
Thông báo dời ngày xét xử số 424/2021/TB-DS ngày 09/7/2021, Thông báo
ngày xét xử số 449/2021/TB-DS ngày 11/10/2021, Thông báo dời ngày xét xử
số 15/2021/TB-DS ngày 19/10/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số
75/2021/QĐ-PT ngày 15/11/2021 và Thông báo dời ngày xét xử số 24/TB-TA
ngày 26/11/2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng A.
Trụ sở chính: Phường T, quận B, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K – Chức vụ: Chủ tịch
Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài P – Chức vụ: Trưởng
phòng kế hoạch và kinh doanh Ngân hàng A Chi nhánh thành phố N. Có mặt.
Địa chỉ: phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hoà.
* Bị đơn: Bà Trần Phương Th, sinh năm 1972
Địa chỉ: Xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ liên lạc: Phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn yêu cầu xét
xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Minh T -
Văn phòng luật sư H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
2
3. Người kháng cáo: Bị đơn bà
Trần Phương Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày:
Ngày 21/3/2019, bà Trần Phương Th đã ký hợp đồng tín dụng số:
4701.2019.072/HĐTD với Ngân hàng A - Chi nhánh thành phố N, tỉnh Khánh
Hòa để vay số tiền 4.650.000.000 đồng, với thời hạn vay 180 tháng, kể từ ngày
21/3/2019 đến hết ngày 21/3/2034, mục đích vay để mua nhà đất. Các bên thỏa
thuận mức lãi suất 10%/năm, từ khi vay cho đến nay bà Th chỉ trả cho ngân
hàng được 30.000.000 đồng tiền gốc.
Bà Th đã thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay nêu trên cho Ngân
hàng A - Chi nhánh thành phố N, Khánh Hòa gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 836, tờ bản đồ số 37, địa chỉ tại xã V,
thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, diện tích: 260 m
2
. Theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số: CN 397595, số vào sổ cấp GCN: CH08168 do Ủy ban nhân dân
thành phố N cấp ngày 25/7/2018. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất tại thửa đất số 117, tờ bản đồ số 41, địa chỉ tại xã P, thành phố N, Khánh
Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CO 253680, số vào sổ cấp
GCN: CH07714, do Ủy ban nhân dân thành phố N cấp ngày 19/11/2018.
Nay, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu bà Th phải trả số tiền nợ gốc là
4.620.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 20/9/2019 cho đến ngày xét xử
(28/9/2020) là 515.213.081 đồng, tổng cộng bà Th phải trả số nợ cho Ngân hàng
là 5.135.213.081 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/9/2020 cho
đến khi thi hành xong khoản nợ gốc.
* Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn bà Trần Phương Th trình
bày:
Bà Th thống nhất với trình bày của phía nguyên đơn về quá trình ký kết
hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đối với Ngân hàng A - Chi nhánh
thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và các tài sản đã thế chấp cho ngân hàng. Đến nay
bà Th vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 4.620.000.000 đồng và tiền lãi do
Ngân hàng tính. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà trả nợ số nợ gốc và nợ lãi,
bà Th đồng ý trả nợ, nhưng hiện tại bà Th rất khó khăn về tài chính nên không
có khả năng trả nợ.
Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2020/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2020 của
Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ Điều 227 và Điều 228
Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng,
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A: Buộc bị
đơn bà Trần Phương Th có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A số tiền là
5.135.213.081 đồng (Trong đó nợ gốc: 4.620.000.000 đồng và tiền lãi là
515.213.081 đồng) và toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/9/2020 cho đến
khi trả hết nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng số: 4701.2019.072 ngày 21/3/2019.
3
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Th không thanh toán hoặc
thanh toán không đầy đủ, thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành
án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 836, tờ bản đồ số 37, địa chỉ tại xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, diện
tích: 260m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CN 397595, số vào số
cấp GCN: CH08168 do Ủy ban nhân dân thành phố N cấp ngày 25/7/2018 và
Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 117, tờ bản
đồ số 41, địa chỉ tại xã P, thành phố N, Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số: CO 253680, số vào số cấp GCN: CH07714, do Ủy ban nhân dân
thành phố N cấp ngày 19/11/2018.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 15/10/2020, bị đơn bà Trần Phương Th có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Trần Phương Th vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Nguyên
đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên
tòa phúc thẩm: Về thủ tục, những người tiến hành tố tụng và những người tham
gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung, chứng cứ
và lời trình bày của bà Th thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng và còn nợ số tiền
gốc và lãi đúng như nguyên đơn trình bày. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 28/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố N xét
xử vụ án. Ngày 12/10/2020, Bản án sơ thẩm được niêm yết công khai tại nơi cư
trú của bà Trần Phương Th. Ngày 15/10/2020, bị đơn bà Trần Phương Th kháng
cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Th
có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Th.
[2] Xét kháng cáo:
Theo các tài liệu chứng cứ và trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần
Phương Th xác định đã ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản để
đảm bảo khoản vay đúng như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, quá trình thực
hiện hợp đồng vì làm ăn khó khăn nên bà Th không có khả năng trả nợ nên đã vi
phạm thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi. Bà Th thừa nhận số tiền còn nợ gốc là
4.620.000.000đồng và tiền lãi là 515.213.081đồng (tính đến ngày 28/9/2020). Bị
đơn đồng ý trả nợ nhưng không đưa ra được phương án trả nợ gốc và lãi cho
4
ngân hàng. Do đó, Bản án sơ thẩm buộc bà Th phải thanh toán số tiền gốc và lãi
nêu trên là có cơ sở.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bà Th đề
nghị xem xét lãi suất thay đổi cho phù hợp với thời gian và mức lãi suất theo
hợp đồng tín dụng bà Th đã ký kết, yêu cầu ngân hàng giãn thời gian trả nợ gốc
và lãi đến cuối năm 2021. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng nguyên đơn
không đồng ý với đề nghị giãn thời gian thanh toán nợ, lãi suất tính theo đúng
theo thỏa thuận trong hợp đồng và không vượt quá theo quy định pháp luật.
Theo Bản tự khai ngày 25/6/2020, bà Th thừa nhận nợ gốc, nợ lãi và đã vi phạm
hợp đồng không thanh toán nợ đúng hạn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở
chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Trường hợp bà Th không thanh toán nợ, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là đúng quy định
pháp luật.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn Trần Phương Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Phương Th phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Phương Th, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A: Buộc bị
đơn bà Trần Phương Th trả nợ cho Ngân hàng A số tiền là 5.135.213.081 đồng
(Năm tỉ một trăm ba mươi lăm triệu, hai trăm mười ba nghìn, không trăm tám
mươi mốt nghìn đồng). Trong đó: Nợ gốc 4.620.000.000đồng và nợ lãi là
515.213.081đồng (tính đến ngày 28/9/2020).
- Ngoài ra, bà Trần Phương Th còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày
29/9/2020 cho đến khi trả hết nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng số: 4701.2019.072
ngày 21/3/2019.
- Trường hợp bà Trần Phương Th không thanh toán được khoản tiền gốc và
lãi nêu trên cho Ngân hàng A thì việc thanh toán nợ được xử lý tài sản thế chấp
theo các Hợp đồng thế chấp tài sản số 4701.2019.072/HĐTC1 ngày 20/3/2019 và
Hợp đồng thế chấp tài sản số 4701.2019.072/HĐTC2 ngày 20/3/2019 được ký kết
giữa bà bà Trần Phương Th với Ngân hàng A để thu hồi nợ.
- Trường hợp bà Trần Phương Th thanh toán xong các khoản tiền nợ, Ngân
hàng A phải trả ngay cho bà Th giấy tờ (đều bản chính) theo các hợp đồng thế chấp
nêu trên.
5
2. Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Phương Th phải nộp 113.135.213đồng
(Một trăm mười ba triệu, một trăm ba mươi lăm nghìn, hai trăm mười ba đồng)
án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng A 56.383.000đồng (Năm mươi sáu triệu, ba trăm
tám mươi ba nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2016/0016087 ngày 17/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố
N.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Phương Th phải nộp 300.000 đồng
án phí dân sự phúc nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai số AA/2016/0017854 ngày 09/11/2020 của Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố N. Bà Trần Phương Th đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Quy định: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉ
nh Khánh Hòa;
- TAND TP. N;
- Chi cục THADS TP. N;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Đình Phương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm