Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 28/02/2022 của TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tội đưa hối lộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 37/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 28/02/2022 của TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tội đưa hối lộ
Tội danh: 289.Tội đưa hối lộ (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cà Mau (TAND tỉnh Cà Mau)
Số hiệu: 37/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/02/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––
Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày 28 02 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Mười.
Ông Ngô Hoàng Sơn.
- Thư phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng– Thư Toà án nhân dân
thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mau, tỉnh Mau tham
gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mau
xét xử thm công khai
v án nh sự thẩm
th số: 17/2022/TLST-HS ngày 26
tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số: 24/2022/QĐXXST-HS
ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Văn Th, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1990; tại: Đồng Tháp; nơi
đăng thường trú: Ấp Tân T, H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ hiện nay:
Tạm ttại số 46, Nguyễn Trung T, khóm A, phường B, thành phố Mau; nghề
nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Thạnh và bà Trương Thị Lầu; vợ
Thị Hằng, con: Chưa ; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Tốt; bị cấm đi khỏi
nơi cư trú từ ngày 20/12/2021 cho đến nay (có mặt).
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đ; Chức vụ: Phó
trưởng PC06 Công an tỉnh Mau. Nơi trú: Khóm 7, phường 8, thành phố
Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Quyết định số: 21/QĐ-CAT-PV01 ngày 24/4/2020, về việc thành
lập Tổ tuần tra kiểm soát (viết tắt: TTKS) bảo đảm an ninh trật tự vào ban đêm của
2
Công an tỉnh Mau Quyết định số: 33/-CAT-PV01 ngày 01/11/2020, v
việc thay thế Tổ trưởng Tổ TTKS bảo đảm an ninh trật tự vào ban đêm của Công
an tỉnh Cà Mau, gồm : Đồng chí Hồ Việt Triều Phó giám đốc Công an tỉnh Cà
Mau làm Tổ trưởng Tổ 21; Đồng chí Hoàng Đ, Phó trưởng phòng PC06 Tổ
phó cùng các thành viên là Phó trưởng phòng PC02, PC04, PC08, PK02 Phó
trưởng Công an thành phố Cà Mau phụ trách về giao thông. Nhiệm vụ của Tổ 21
tự xây dựng kế hoạch và tổ chức tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự vào ban
đêm trên địa bàn thành phố Mau theo kế hoạch số 29/KH CAT PV01 của
Giám đốc Công an tỉnh Cà Mau.
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19/11/2021, Tổ TTKS đảm đảo an ninh trật
tự vào ban đêm của Công an Tỉnh Mau thực hiện việc tuần tra, kiểm soát trên
tuyến đường Quảng l Phụng Hiệp, khóm 6, phường Tân Thành, thành phố
Mau thì phát hiện Văn Th đang điều khiển xe mô hiệu Air Blade biển kiểm
soát 69M1-154.77 chở vợ là Lê Thị Hằng đi từ hướng Bạc Liêu về Cà Mau có biểu
hiện nghi vấn vi phạm nồng độ cồn nên ông Hoàng Đ chỉ đạo lực lượng tổ tuần
tra ra hiệu lệnh yêu cầu Võ Văn Th dừng phương tiện, yêu cầu xuất trình giấy tờ
Lực lượng TTKS kiểm tra nồng độ cồn đối với Văn Th. Kết quả kiểm tra nồng
độ cồn, Võ Văn Th vi phạm lỗi nồng độ cồn, với mức 0,580mg/lít khí thở vượt qúa
chỉ số cho phép (chỉ scho phép 0,4mg/l khí thở). Sau khi Văn Th được lực
lượng TTKS thông báo lỗi vi phạm tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính.
Trong khi đang bị lập biên bản vi phạm hành chính, Văn Th vợ Thị
Hằng đi đến chỗ đồng chí Hoàng Đ là chỉ huy lực lượng đang ngồi trên xe ô
của lực lượng cảnh sát 113 chỉ huy Tổ tuần tra, Văn Th năn nỉ xin bỏ qua lỗi vi
phạm, xin nhận lại xe và Võ Văn Th lấy từ bóp của mình ra 04 tờ tiền Việt Nam
mệnh giá 500.000 đồng/tờ, tổng số tiền 2.000.000 đồng đưa cho đồng chí Đum qua
cửa kính xe yêu cầu bỏ qua lỗi vi phạm. Đồng chí Đum nhắc nhở Văn Th
không được đưa tiền nếu đưa tiền như vậy là đưa hối lộ nhưng Võ Văn Th vẫn tiếp
tục đưa, đồng chí Đum không nhận đồng chí Đum ch đạo lập biên bản bắt
người tội quả tang đối với Võ Văn Th cùng tang vật.
Tang vật thu giữ gồm: 04 ttiền Việt Nam mệnh g500.000 đồng/tờ
số sêri như sau: AX 16337884; ZN 18063891; EH 18838095 và FH
18157087 được niêm phong. Đồng thời, được phô bằng 01 tờ giấy A4 hai mặt
có chữ ký và ghi rõ họ tên của Võ Văn Th lưu trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, bị cáo Võ Văn Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Mau, tỉnh Mau đã truy tố bị cáo Văn Th về tội "Đưa hối lộ"
theo điểm a khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Vẫn giữ quan điểm truy tđối với bị
cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn Th phạm tội "Đưa hối l".
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 364, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Về vật chứng, áp
dụng Điều 106 B luật tố tụng hình sự tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền
3
2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo. Đối với hành vi sử dụng rượu bia của bị cáo khi
tham gia giao thông nồng độ cồn vượt quá quy định đã bị xử phạt hành chính
với số tiền 7.000.000 đồng nên không đặt ra xem xét.
- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đúng
như Cáo trạng truy tố, không oan, sai cho bị cáo. Bị cáo đồng ý mức hình phạt tiền
Kiểm sát viên đề nghị xin Hội đồng xét xxem xét giảm nhẹ hình phạt cho
bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ o c i liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t xnhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mau, Kiểm sát viên
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong ván không ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi,
quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình
tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Về việc người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại
phiên tòa: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng Đ đã đưc
Tòa án triu tập hợp lệ nhưng ông Hng Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Xét thy vic giải quyết vng mt của ông Hng Đ không ảnh hưởng đến nội dung
xét xử v án n n c Điều 292 của Blut Tố tụng nh sự, Hội đng t xử tiến
hành xét xvắng mt ông Lê Hoàng Đ theo luật định.
[3] Tại phn tòa, bị o thừa nhận nh vi phạm tội đúng như o trạng của
Viện kiểm sát đã truy tố, không oan sai. Lời khai nhận của bị o tại phiên tòa phù
hợp với biên bản bắt người phạm tội qutang, phù hợp với lời khai của bị o trong
quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của nời quyền lợi, nga vụ liên
quan Hoàng Đ ng nhiềui liệu, chứng ckhác có tại hồ sơ vụ án. T đó, Hội
đồng xét xử đủ sở kết luận: Xuất phát từ việc bị Tổ tuần tra kiểm soát bảo
đảm an ninh trật tự vào ban đêm của Công an tỉnh Mau lập biên bản vi phạm
hành chính vào lúc 21 giờ 17 phút ngày 19/11/2021, với lỗi vi phạm “điều khiển xe
trên đường trong hơi thở nồng độ cồn vượt quá 0,4mg/lít khí thở”, chỉ
muốn được bỏ qua lỗi vi phạm không bị lập biên bản vi phạm hành chính bị
cáo đã thực hiện hành vi trực tiếp đưa số tiền 2.000.000 đồng cho ông Lê Hoàng Đ,
chức vụ: Phó trưởng phòng PC06 Tổ phó Tổ tuần tra, kiểm soát thuộc lực
lượng Công an tỉnh Mau đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại đường
Quảng lộ Phụng Hiệp, khóm 6, phường Tân Thành, thành phố Mau, tỉnh
Mau thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
[4] Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo ít
nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội. Việc bị cáo dùng tiền
đưa trực tiếp cho người chức vụ, quyền hạn đang thực hiện nhiệm vụ ông
4
Hoàng Đ với mục đích bỏ qua lỗi vi phạm, không lập biên bản vi phạm hành chính
đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của quan, của cán bộ trong
khi thực hiện nhiệm vụ, gây trở ngại trong công tác. Khi thực hiện hành vi phạm
tội, bị cáo đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm nh sự, nhận thức việc dùng
tiền đưa hối lộ là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn bỏ qua lỗi vi phạm hành chính,
không lập biên bản vi phạm hành chính bị cáo bất chấp pháp luật đthực hiện
hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Tại điểm a khoản 1 Điều 364 của Bộ luật hình sự quy đinh: 1. Người nào
trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người chức vụ, quyền hạn
hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người chức
vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người
đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới
100.000.000 đồng;”
Từ những căn cứ, phân tích nhận định nêu trên, bị cáo đã phạm tội “Đưa
hối lộtheo điểm a khoản 1 Điều 364 của Bộ Luật Hình sự đúng như Cáo trạng
Viện kiểm sát đã truy tố, không oan, sai cho bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình
phạt đối vi b cáo: Bị cáo không tình tiết tăng nặng. Bị cáo nhân thân tốt,
không tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo đã thành
khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ông, nội Văn Chước, Nguyễn Thị Kính
người công với cách mạng, được nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng
nhất, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật nh s nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
một phần hình phạt cho bị cáo.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử thấy rằng bị o nhiều nh tiết giảm nhẹ
nhân thân tốt nên việc xử phạt bằng hình phạt tiền là tương xứng với tính
chất, mức độ hậu quả của vi phạm tội của bị cáo gây ra, đảm bảo được tính răn
đe, giáo dục bị o trthành người tốt, ích cho hội, đồng thời nhầm cảnh o,
tun truyn với những ai không chấp nh quy định của pháp luật, xâm phạm đến
hoạt động đúng đắn, bình thường của quan, cán bộ trong khi thực hiện nhiệm
vụ, gây trở ngại trong công tác, nhm phòng ngừa chung cho toàn hội.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 2.000.000 đồng bị cáo
dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
[7] Đối với Lê Thị Hằng là vợ của bị cáo, tuy Lê Thị Hằng có cùng đi với bị
cáo đến chỗ ông Lê Hoàng Đ đang ngồi trên xe ô tô của lực lượng cảnh sát 113 chỉ
huy Tổ tuần tra. Việc bị cáo đưa tiền hối lộ đối với ông Hoàng Đ để bỏ qua lỗi
vi phạm hành chính không stham gia bàn bạc, thỏa thuận giữa bị cáo với
Thị Hằng về việc đưa hối lộ nên không đề cập xử lý Lê Thúy Hằng trong vụ án này
là phù hợp.
5
[8] Đối với hành vi sử dụng rượu, bia của bị cáo khi tham gia giao thông
nồng độ cồn đo được là 0,580mg/lít kthở đã bị Phòng Cảnh sát quản hành
chính về trật tự hội xử phạt số tiền 7.000.000đ hình thức phạt bổ sung: Tước
quyền sử dụng Giấy phép lái xe số 870084005538 với thời hạn 23 tháng từ
ngày 25/11/2021 đến hết ngày 25/11/2021 nên không đặt ra xem xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 364, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố
tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Văn Th phạm tội “Đưa hối lộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn Th số tiền 20.000.000 đồng.
3. Về xử vật chứng: Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 2.000.000 đồng
thu giữ của bị cáo.
4. Về án phí: Án phí hình sự thẩm, bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng
(chưa nộp).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Văn Linh
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- VKSND Thành phố Cà Mau;
- CAND Thành phố Cà Mau;
- TAND Tỉnh Cà Mau;
- Lưu hồ sơ;
-Lưu án văn;
- Lưu VT (TM: TAND TPCM).
6
Tải về
Bản án số 37/2022/HS-ST Bản án số 37/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất