Bản án số 369/2023/HNGĐ-ST ngày 12/12/2023 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 369/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 369/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 369/2023/HNGĐ-ST ngày 12/12/2023 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hải Dương |
| Số hiệu: | 369/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/12/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chị Ph có đơn khởi kiện ly hôn anh Đ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 369/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12-12-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
chung khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và Bà Ngô Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải
Dương.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 418/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng
10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 412/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng
11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 295/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24
tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Chị Đặng Minh Ph, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và đề nghị
xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1991.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Vắng mặt.
3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm
1959. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn chị Đặng Minh Ph trình bày:
2
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thành Đ được tự do tìm hiểu,
kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H,
huyện Gi, tỉnh Hải Dương vào ngày 23/5/2016. Sau khi kết hôn anh chị chung
sống tại địa phương, trong cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân
do bất đồng quan điểm sống, không có sự tin tưởng nhau khiến anh chị xảy ra
tranh cãi, xô sát. Đến ngày 24/6/2022, anh Đ đi lao động tại Nhật Bản, do vợ
chồng đã có mâu thuẫn từ trước nên khi mỗi người ở một nơi mâu thuẫn càng
trở nên trầm trọng, cứ mỗi lần liên hệ vợ chồng lại xảy ra tranh cãi. Thời gian
lâu dần anh chị không còn quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống nên tình cảm ngày
càng lạnh nhạt. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống ly
thân nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Thành Đ theo
quy định.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày
25/10/2016, hiện đang ở cùng chị và Nguyễn Quang H, sinh ngày 23/12/2019,
hiện đang ở cùng với bố đẻ anh Đ. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung
Nguyễn Hải Y, sinh ngày 25/10/2016 cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng và giao con
chung Nguyễn Quang H, sinh ngày 23/12/2019 cho anh Đ chăm sóc, nuôi
dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Do hiện nay anh Đ
đang lao động tại nước ngoài nên chị nhất trí tạm giao con chung Nguyễn Quang
H cho bố đẻ anh Đ là ông Nguyễn Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian
anh Đ không ở tại Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung Nguyễn Hải Y có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là Đặng
Minh Ph.
Tại lời khai của ông Nguyễn Văn L (bố đẻ của anh Nguyễn Thành Đ) thể
hiện: Anh Đ hiện đang sinh sống tại Nhật Bản, địa chỉ cụ thể thì ông không biết,
nhưng anh Đ thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông đồng ý
nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Đ
biết.Vợ chồng chị Phương, anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn do anh chị không thống
nhất về kinh tế và không có sự tin tưởng nhau. Bản thân ông đã nhiều lần
khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị Phương có
đơn xin ly hôn, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.
Sau khi nhận các văn bản tố tụng, ông đã thông báo cho anh Đ biết. Anh Đ
không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao
đổi với qua điện thoại và xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được
nên anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh Đ có nguyện vọng được chăm
sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung đồng thời đề nghị tạm giao con chung cho bố
đẻ anh Đ là ông Nguyễn Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung không
đề nghị Tòa án giải quyết. Ông L nhất trí với sự ủy quyền của anh Đ về việc
nuôi con chung trong thời gian anh Đ không có mặt tại Việt Nam, không yêu
3
cầu chị Phương, anh Đ cấp dưỡng cho các cháu.
Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh
sống thể hiện: Chị Đặng Minh Ph và anh Nguyễn Thành Đ kết hôn hợp pháp,
trong quá trình chung sống tại địa phương thì anh chị có xảy ra mâu thuẫn do
không tin tưởng nhau. Nay chị Phương có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị
Tòa án xem xét nguyện vọng của các đương sự và quy định của pháp luật để giải
quyết.
Tại phiên tòa: Chị Đặng Minh Ph, ông Nguyễn Văn L vắng mặt và đề
nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày. Anh Nguyễn Thành
Đ vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp
hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS), bị đơn giấu
địa chỉ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ, Điều 147
BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Đặng Minh Ph ly hôn anh Nguyễn
Thành Đ. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày
25/10/2016 cho chị Phương chăm sóc, nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn
Quang H, sinh ngày 23/12/2019 cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên
không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Trong thời gian anh Đ không ở Việt
Nam, tạm giao con chung Nguyễn Quang H cho ông Nguyễn Văn L chăm sóc,
nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông L không yêu cầu chị Phương, anh
Đ cấp dưỡng cho cháu Huy. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí:
Chị Phương phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thành Đ có nơi cư trú cuối cùng
trước khi xuất cảnh ở thôn Đ, xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh
sống tại Nhật Bản, không rõ địa chỉ cụ thể. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải
Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết
vụ án, chị Phương và gia đình ông L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh
Đ ở nước ngoài. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy
định của pháp luật. Mặt khác, gia đình ông L vẫn thường xuyên liên lạc với anh
Đ nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho gia đình để thông báo cho anh
Đ biết việc chị Phương đề nghị giải quyết ly hôn và các thủ tục tố tụng khác. Gia
đình đã nhận các văn bản tố tụng và đã thông báo cho anh Đ biết. Tại phiên tòa,
anh Đ vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều
4
228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự
theo quy định của pháp luật.
[2]Về nội dung:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Minh Ph và anh Nguyễn Thành Đ kết
hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương ngày
23/5/2016, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị có mâu
thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất
về kinh tế và không có sự tin tưởng nhau. Thực tế vợ chồng mỗi người ở một
nơi, không còn quan tâm chia sẻ trong cuộc sống. Anh Nguyễn Thành Đ không
thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh
Đ xác định vợ chồng không thể hàn gắn được nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX
xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đặng Minh Ph và anh Nguyễn Thành Đ
đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông
qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương
sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Đặng Minh Ph ly hôn anh
Nguyễn Thành Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và
gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Đặng Minh Ph và anh Nguyễn Thành Đ có hai
con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày 25/10/2016 và Nguyễn Quang H, sinh
ngày 23/12/2019. Thông qua gia đình, anh Đ có nguyện vọng được nuôi cả hai
con chung nhưng xét về thực tế anh Đ đang lao động tại nước ngoài nên việc
giao cả hai con chung cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng không đảm bảo. Các con
chung của anh chị còn nhỏ, đang độ tuổi đi học nên cần sự bảo ban, chăm sóc
trực tiếp của bố mẹ. Trong vụ án này, cháu Y có nguyện vọng được ở cùng với
mẹ và đã được chị Phương chuyển trường, học tập ổn định tại trường tiểu học T,
xã T, huyện B, thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, chị Phương có nguyện vọng
được nuôi con chung Nguyễn Hải Y và nhất trí việc giao con chung Nguyễn
Quang H cho anh Đ nuôi dưỡng đồng thời tạm giao cháu Huy cho ông L tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con chung,
HĐXX chấp nhận giao cho chị Đặng Minh Ph nuôi dưỡng con chung Nguyễn
Hải Y, sinh ngày 25/10/2016 và giao cho anh Nguyễn Thành Đ nuôi dưỡng
Nguyễn Quang H, sinh ngày 23/12/2019, hai bên không phải cấp dưỡng tiền
nuôi con chung cho nhau là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các
Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian anh Đ không ở Việt
Nam, tạm giao con chung Nguyễn Quang H, sinh ngày 23/12/2019 cho ông
Nguyễn Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu chị Phương, anh Đ có căn cứ cho
rằng người kia không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung
thì anh chị có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu
cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
5
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên
HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu
Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy
định của pháp luật (nếu có).
[3] Về án phí: Chị Đặng Minh Ph phải chịu án phí dân sự (về hôn nhân
gia đình) sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm a,
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147
Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Minh Ph ly hôn anh Nguyễn Thành
Đ.
2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Minh Ph chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con chung Nguyễn Hải Y, sinh ngày 25/10/2016; Giao cho anh Nguyễn
Thành Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Quang H, sinh ngày
23/12/2019 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Hai bên không phải cấp
dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Không ai được cản trở chị Đặng Minh Ph, anh Nguyễn Thành Đ thực hiện
quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung.
Trong thời gian anh Nguyễn Thành Đ không có mặt tại Việt Nam, tạm
giao con chung Nguyễn Quang H cho ông Nguyễn Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chấp nhận sự tự nguyện của ông L không yêu cầu chị Phương, anh Đ cấp dưỡng
cho cháu Huy.
3. Về án phí: Chị Đặng Minh Ph phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000492 ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại
Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thành Đ được quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết theo quy định của pháp luật.

6
Chị Đặng Minh Ph, ông Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND xã H, huyện Gi, Hải Dương (để ghi
sổ hộ tịch);
- Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Minh Tân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 22/2026/HNGĐ-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm