Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT ngày 04/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT ngày 04/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 36/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà P và ông N yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 36/2026/HNGĐ-PT
Ngày 04-6-2026
V/v tranh chấp chia tài sản chung
sau khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂNN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Đê
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Dương Thị Thu Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Nguyễn Anh
Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 04/2025/TLPT-HNGĐ, ngày 09 tháng
02 năm 2026 về "Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn".
Do Bản án dân sự thẩm số: 59/2025/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 -Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2026/QĐ-PT ngày
16 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngô Thị P, sinh năm 1965. Địa chỉ: số 42, khu phố 1,
thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay là ấp 1, xã B, tỉnh Vĩnh Long).
Địa chỉ liên hệ: số 3, Thái Hữu K, khu phố 3, thị trấn B, huyện B1, tỉnh
Bến Tre (nay là ấp 3, xã B, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của P: ông Trần Thanh G, sinh năm
1978. Địa chỉ: số 78A ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre nay P1, tỉnh Vĩnh
Long (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Chánh N, sinh năm 1968 ( mặt). Địa chỉ: ấp V,
V, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ ơng Thị Tuyết P1, sinh năm 1972. Địa chỉ: số 250, đường tỉnh
885, ấp An Bình 2, xã A, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
2
Người đại diện theo ủy quyền của Tuyết P1: Anh Nguyễn Thành P,
sinh năm 1996 (có mặt). Địa chỉ: ấp T1, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
+ Bà Trần Thị Kim Y, sinh năm 1972 (vắng mặt). Địa chỉ: số 05C, đường
Chu Văn An, khu phố 6, thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh
Vĩnh Long).
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 (vắng mặt). Địa chỉ: số 384/VĐT,
ấp V, xã V1, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long).
+ Ông Nguyễn Văn V (Nguyễn Văn Lượng), sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 44, khu phố 1, thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh
Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Ngô Thị P nguyên đơn ông Trần Chánh N
Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ lời khai của nguyên đơn có trong
hồ sơ vụ án thể hiện:
Ngô Thị P ông Trần Chánh N chung sống như vợ chồng từ tháng
12 năm 1987 nhưng không đăng kết hôn theo quy định pháp luật. Năm
2014, đôi bên chung sống không còn hạnh phúc, P làm đơn yêu cầu Tòa án
không công nhận ông N là vợ chồng; con chung đã trưởng thành nên
không yêu cầu giải quyết; yêu cầu chia tài sản chung của bà và ông N gồm:
- Diện tích 86,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 488, tờ bản đồ 19 01
nhà trên đất, loại đất ODT, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre do ông
N đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
ngày 21/01/2002. Nguồn gốc đất do P ông N nhận chuyển nhượng từ
Trần Thị H.
- Thửa đất số 264, tờ bản đ3, diện tích 2.299,3m
2
cùng 01 cửa hàng, 01
nhà tạm, 01 nhà và 01 chuồng trên đất, loại đất ODT + LUA, tọa lạc tại thị
trấn B, huyện B1. Nguồn gốc đất do P và ông N nhận chuyển nhượng từ ông
Nguyễn Văn T vào năm 2000 với giá khoảng 50.000.000 đồng (giá trị của chiếc
xe Dream tiền mặt). Người trực tiếp giao kết hợp đồng ông N ông
Thắng, nhưng số tiền xe dùng để trao đổi là tài sản chung của P ông N
do trong quá trình chung sống, hai bên dành dụm mua được chiếc xe Dream
trên.
- Thửa đất số 396, tờ bản đồ 19, diện tích 103,1m
2
cùng 01 mái che 01
căn nhà trên đất, loại đất T, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 do ông N đại diện hộ
gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 25/8/2003.
Nguồn gốc đất của cậu chồng tên Trần Văn L chuyển nhượng cho ông K; sau
đó, ông Khèn chuyển nhượng lại cho bà P và ông N.
3
- Thửa đất số 356, tờ bản đồ 3, diện tích 1.313,8m
2
, loại đất ONT + LUA,
tọa lạc tại Vĩnh An, huyện B1 do P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được cấp ngày 17/10/2012. Nguồn gốc đất do P ông N nhận
chuyển nhượng từ bà Nguyệt vào năm 2013 với giá 550.000.000 đồng.
Đồng thời, bà P yêu cầu chia đôi nợ chung gồm: nợ Phan Thị Kim H
số tiền vay 300.000.000 đồng, nợ bà Nguyễn Thị T số tiền 400.000.000 đồng.
Nợ Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh
huyện B1 số tiền vay 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, vụ việc đã được giải quyết
xong bằng bản án số 01/2017/KDTM-ST ngày 01/3/2017. Sau khi bản án
hiệu lực pháp luật, bà P đã trả toàn bộ số tiền vay và lãi phát sinh cho Ngân hàng
với tổng số tiền là 427.023.592 đồng.
Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện B1 (nay Tòa án nhân dân khu
vực 8 Vĩnh Long xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long) xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm. Tại Quyết định giám đốc thẩm
số 09/2019/HNGĐ-GĐT ngày 08/7/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh hủy một phần Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số
03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre Bản
án hôn nhân gia đình thẩm số 107/2018/HNGĐ-ST ngày 25/10/2018 của Tòa
án nhân dân huyện B1 về phần chia tài sản chung đối với quyền sử dụng đất
các tài sản vật kiến trúc gắn liền với thửa đất số 264, tờ bản đồ số 3; thửa 396, tờ
bản đồ số 19, cùng tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 và quyền sử dụng đất thửa đất
số 356, tbản đồ số 03, tọa lạc tại xã V, huyện B1, các phần khác của Bản án
phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
Trên sở Tòa án nhân dân huyện B1 (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8
Vĩnh Long) thụ giải quyết lại phần vụ án bị hủy, phía nguyên đơn Ngô
Thị P yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- Yêu cầu chia đôi bằng hiện vật quyền sử dụng đất và các tài sản vật kiến
trúc gắn liền với đất thửa 264, tờ bản đồ 03, diện tích qua đo đạc thực tế
2.299,3m (nay thửa số 104, tờ bản đồ s7) loại đất ODT+Lúa, tọa lạc tại thị
trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay xã B, tỉnh Vĩnh Long) cho đôi bên. Bà P
yêu cầu nhận diện tích đất 1030,7m tại vị t(3) của họa đồ hiện trạng thửa đất
ngày 28/5/2015 và các tài sản vật kiến trúc có trên đất gồm: 01 cửa hàng, 01 căn
nhà chính, 01 nhà tạm và 01 chuồng bò.
- Yêu cầu chia đôi thửa đất số 396, tờ bản đồ số 19, diện tích qua đo đạc
thực tế 103,1m
2
(nay thửa số 101, tờ bản đồ 43), loại đất T các tài sản vật
kiến trúc gắn liền với đất, tọa lạc thị trấn B, huyện B1 cho đôi bên. P đồng ý
để ông N nhận toàn bộ thửa đất, tài sản trên đất và có nghĩa vụ trả 50% giá trị tài
sản bằng tiền cho bà P.
4
- Yêu cầu được chia bằng hiện vật toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số
356, tờ bản đồ 3, diện tích qua đo đạc thực tế 1.313,8m
2
loại đất ONT + Lúa,
tọa lạc tại Vĩnh An, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh Vĩnh Long) và
bà P sẽ hoàn lại cho ông N 50% giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền.
Đồng thời, bà P yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 29/3/2019 đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ 7, diện tích
2257,8m
2
từ ông Trần Chánh N sang ông Nguyễn Văn T; hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/8/2019 đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ 7,
diện tích 2257,8m
2
từ ông Nguyễn Văn T sang Dương Thị Tuyết P1hượng;
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/5/2019 đối với thửa đất số
101, tbản đồ 43, diện tích 103,1m
2
từ ông Trần Chánh N sang Trần Thị
Kim Y. Đối với yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Dương Thị Tuyết P1 yêu cầu bà Ngô Thị P bồi thường thiệt hại do khai thác mặt
bằng thửa đất 104, tờ bản đồ 7 cho người khác thuê giữ xe trong 07 ngày tết năm
2024 với số 10.000.000 đồng là P không đồng ý, do bà P không có giữ xe hay
cho thuê giữ xe vào ngày tết.
Nguyên đơn đồng ý với các kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc
ngày 28/5/2015; kết quả định giá ngày 12/5/2021 đối với thửa đất 396, tờ bản đồ
19 (nay thửa 101, tờ bản đồ 43); kết quả định giá tài sản ngày 20/3/2025 đối
với thửa đất 264, tờ bản đồ số 3 (nay thửa 104, tờ bản đồ 7) thửa 356 tờ
bản đ3. Riêng các tài sản trên thửa đất 264, tờ bản đồ số 3 do các tài sản
này ông N đã bán cho người khác, đã btháo dỡ không còn tài sản trên thửa
396, tờ bản đồ 19 thì đồng ý theo kết quả định giá tài sản ngày 25/6/2015.
Bđơn ông Trần Chánh N trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu của
Ngô Thị P. Ông đồng ý với kết xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tại
Bản án phúc thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 đối với 03 thửa đất
mà bà P đang có tranh chấp. Khi Bản án số 03/2019/HNGĐ-PT của Tòa án nhân
dân tỉnh Bến Tre hiệu lực pháp luật, ông đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành
án dân sự huyện B1 thực hiện các nghĩa vụ của ông theo bản án, được Chi Cục
Thi hành án dân sự huyện B1 ra Quyết định Thi hành án cấp giấy xác nhận
kết quả thi hành án. Sau đó ông liên hệ cơ quan thẩm quyền làm thủ tục sang
tên và đứng tên cá nhân giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 264
tờ bản đồ số 03 (cấp đổi thành thửa số 104, tờ bản đồ số 7) thửa 396, tờ bản
đồ số 19 (cấp đổi thành thửa số 101, tờ bản đồ số 43). Sau khi được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ông đã chuyển nhượng toàn bộ đấtcác tài sản
vật kiến trúc trên thửa đất số 104, tờ bản đồ số 7 cho ông Nguyễn Văn T,
chuyển nhượng đất tài sản vật kiến trúc trên thửa đất số 101, tờ bản đồ số
43 cho Trần Thị Kim Y. Ông đã giao thửa đất 104, tbản đồ 7 cho ông T
quản lý, sử dụng và ông T cũng đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
5
sau này ông T chuyển nhượng lại cho bà Dương Thị Tuyết P1, bà Tuyết P1 cũng
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 104, tờ bản đ7.
Ông đã giao toàn bộ nhà, đất thửa 101, tờ bản đồ 43 cho Yến quản lý, sử
dụng tại thời điểm đôi bên giao kết hợp đồng, Yến chỉ chờ cấp giấy chứng
nhận từ cơ quan có thẩm quyền. Hiện nay, ông không có quyền lợi hay nghĩa vụ
liên quan đến đất các tài sản vật kiến trúc trên 02 thửa đất nêu trên.
Riêng phần đất ông được chia thuộc một phần thửa đất số 356, tờ bản đồ số 03,
tọa lạc tại xã Vĩnh An, huyện B1 (phần ông được chia theo Bản án phúc thẩm số
03) do văn bản yêu cầu hoãn Thi hành án của quan Thi hành án dân sự
huyện B1 nên ông đang để trống.
Người quyền lợi, nghĩa vliên quan Trần Thị Kim Y trình bày:
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 101, tờ bản đồ số 43, diện
tích 103,1m
2
, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre các tài sản vật
kiến trúc có trên thửa đất nêu trên từ ông Trần Chánh N vào ngày 17/5/2019, giá
chuyển nhượng 400.000.000 đồng. ông N lập hợp chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được công chứng tại tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn
Mới. đã thanh toán tiền chuyển nhượng đầy đủ cho ông N nhận đất, tài
sản vật kiến trúc có trên đất để quản lý, sử dụng tthời điểm giao kết hợp đồng
đến nay. Khi làm thủ tục để được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì có văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu dừng lại việc làm thủ tục liên
quan đến thửa đất số 101 tờ bản đồ 43 nên đến nay bà chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Việc nhận chuyển nhượng toàn bộ đất tài sản
trên thửa đất 101, tờ bản đồ 43 được thực hiện theo quy định pháp luật, t
hợp đồng chuyển nhượng ông N đã giao đất và tài sản trên đất cho quản lý,
sử dụng ổn định. Hiện trạng đất tài sản trên đất không thay đổi so với
lúc nhận chuyển nhượng. không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của P.
không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì liên quan đến thửa đất này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông
nhận chuyển nhượng đất tài sản vật kiến trúc trên đất thửa đất s104, tờ
bản đồ 07, diện ch 2.257,8m
2
, loại đất ODT + Lúa tọa lạc tại thị trấn B, huyện
B1 từ ông Trần Chánh N với giá chuyển nhượng 3.000.000.000 đồng vào
ngày 29/3/2019, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng công
chứng Nguyễn Văn Mới. Khi chuyển nhượng ông N đã có giấy tờ hợp pháp, ông
N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 104, tờ bản
đồ 7 nên ông mới nhận chuyển nhượng thửa đất này. Sau khi nhận chuyển
nhượng đất từ ông N, ông đã được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Bến Tre
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 104, tờ bản đồ 07, diện tích
2.257,8m
2
. Trong thời gian ông nhận chuyển nhượng đất làm thủ tục đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có ai tranh chấp gì. Hiện trạng đất
6
lúc chuyển nhượng đã bồi đắp bằng mặt lộ, không còn hiện trạng trồng lúa,
một phần quán đã dỡ mái lợp chỉ còn sườn xung quanh, ngoài ra không tài
sản nào trên đất. Sau khi nhận chuyển nhượng ông đã dỡ phần sườn của quán,
xây dựng hàng rào trên đất để bán lại cho người khác
Khoảng tháng 8/2019 ông có đập bỏ phần sườn quán không có mái lợp thì
con oNG của P có đến yêu cầu không được đập dỡ nhưng ông nghĩ tài sản có
trên đất ông đã mua hợp pháp nên ông toàn quyền định đoạt đối với tài sản
chuyển nhượng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phương vì việc
chuyển nhượng giữa ông và ông N hợp pháp. Ông không yêu cầu Tòa án giải
quyết vấn đề cho ông liên quan đến thửa đất này, bởi hiện nay thừa đất này
ông đã chuyển nhượng cho Dương Thị Tuyết P1hượng với giá
9.000.000.000 đồng, P đã nhận đất quản sử dụng đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị Tuyết P1 do anh
Nguyễn Thành P đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 14/8/2019, Tuyết
Phương nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thừa đất số 104, tờ bản đ7,
diện tích 2.257,8m
2
tọa lạc thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre từ ông Nguyễn
Văn T bà Trần Thị Kim H với giá chuyển nhượng là 9.000.000.000 đồng, hai
bên đã giao đất, giao tiền. Hiện trạng đất khi chuyển nhượng đất trống. Khi
chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
quy định pháp luật hợp đồng được công chúng tại Văn phòng công chứng
Nguyễn Văn M. Ngày 28/8/2019, bà Tuyết P1 được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất s
104, tờ bản đồ 7. Trong thời gian Tuyết P1 nhận chuyển nhượng làm thủ
tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có ai tranh chấp. Khi
Tuyết P1 xây hàng rào trên thửa đất nhận chuyển nhượng thì bà Ngô Th
Phương đến chửi mắng, tối đến người đập phá khoảng 10m hàng rào
Tuyết P1 thuê thợ xây; bà Tuyết P1 có làm đơn nhờ Ủy ban nhân dân thị trấn
B can thiệp. Việc Ngô Thị P ông Trần Chánh N phân chia tài sản chung
sau ly hôn thế nào bà Tuyết P1 không có ý kiến. Bà Tuyết P1 khẳng định việc
nhận chuyển nhượng thửa đất 104, tờ bản đồ 7 từ ông T, thủ tục chuyển
nhượng là hoàn toàn tự nguyện hợp pháp. Tuyết P1 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tuyết P1 không yêu cầu tòa án giải
quyết vấn đề gì liên quan đến thửa đất nói trên trong vụ kiện. Tuyết P1 đồng
ý với kết quả định đất của Hội đồng định giá ngày 20/3/2025.
Tuyết P1 chủ sử dụng thửa đất 104, tờ bản đ 7 nhưng tngày
29/12/2023 âm lịch (ngày 08/02/2024 DL) đến ngày 05/01/2024 âm lịch (ngày
14/02/2024 DL), Ngô Thị P cho người khác thuê mặt bằng thửa 104, tờ bản
đồ 7 giữ xe trong 07 ngày tết, gây thiệt hại cho bà Tuyết P1. Do đó, bà Tuyết P1
7
yêu cầu bà Ngô Thị P phải bồi hoàn cho bà Tuyết P1 tiền khai thác mặt bằng đối
với thửa đất nêu trên là 70.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, anh Phúc thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền bồi
thường, chỉ yêu cầu bà Ngô Thị P bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V (Nguyễn Văn
L) trình bày: Năm 2019, ông giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thửa đất số 104, tờ bản đồ 07, diện tích 2.257,8m
2
tọa lạc thị trấn B với
ông Nguyễn n T. Tại thời điểm giao kết hợp đồng đôi bên thỏa thuận ông
T phải hoàn tất toàn bộ thủ tục mua bán phải thực hiện chứng thực hợp đồng
chuyển nhượng tại Ủy ban nơi có đất thì ông mới thanh toán tiền. Nhưng do ông
T không đến Ủy ban thị trấn B thực hiện việc chuyển nhượng đất nên đôi bên
hủy hợp đồng không tiếp tục thực hiện. vậy, ông không nhận chuyển
nhượng đất của ông T và xác định ông không liên quan gì đến thửa đất nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đầu và phát
triển Việt Nam (BIDV) trình bày: Việc Dương Thị Tuyết P1hượng thế chấp
thửa đất 104, tờ bản đồ 7 cho Ngân hàng TMCP Đầu phát triển Việt Nam
để vay vốn là đúng quy định pháp luật, bởi khi vay thửa đất nêu trên do bà Tuyết
P1 đứng tên đôi bên đăng giao dịch đảm bảo tại quan thẩm
quyền. Do đó, Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Thị
P về yêu cầu tuyên bố giao dịch hiệu. Yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy
định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của Ngân hàng.
Tại Công văn số 03 ngày 06/02/2025, Ngân hàng TMCP Đầu Phát
triển Việt Nam Chi nhánh Đồng Khởi Phòng giao dịch Ba Tri cho rằng hiện
nay bà Tuyết P1 đã tất toán các khoản vay tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Đồng
Khởi – Phòng giao dịch Ba Tri, Ngân hàng cũng đã giải chấp và bàn giao tài sản
thế chấp liên quan trong vụ án cho Tuyết P1. Ngân hàng xin không tiếp tục
tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 107/2018/HNGĐ-ST ngày
25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Bến Tre quyết định:
- Tuyên bố không công nhận Ngô Thị P ông Trần Chánh N vợ
chồng.
- Về con chung: Trần Thanh T, sinh năm 1996 Trần Đỗ Q, sinh năm
1989 đã trưởng thành.
- Về tài sản chung:
Ông Trần Chánh N được chia 01 mái che (A, B) 01 nhà (C, D) trên
thừa đất 396, tờ bản đ19, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1; 01 nhà (4, 5) trên
diện tích 86,7m thuộc một phần thửa đất 488, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại thị trấn B,
huyện B1; diện tích 1.268,6m
2
(1, 2) thuộc một phần thửa đất 264, tờ bản đồ 3
(trong đó có 25m
2
đất ODT) tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1; thửa đất 396, tờ bản
8
đồ 19, diện tích 103,1m
2
(1, 2), tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1; diện tích đất
86,7m
2
(5) thuộc một phần thửa đất 488, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại thị trấn B,
huyện B1. Tổng giá trị tài sản thực tế nhận là 1.824.802.000 đồng.
Ngô Thị P được chia 01 cửa hàng (C), 01 nhà tạm (B), 01 nhà (A)
01 chuồng trên diện tích 1.030,7m
2
(3) thuộc một phần thửa đất 264, tờ bản
đồ 3, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1; diện tích 1.030,7m
2
(3) thuộc một phần
thửa đất 264, tờ bản đồ 3, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1; thửa đất 356, tờ bản
đồ 3, diện tích 1.313,8m
2
(3, 4), tọa lạc tại Vĩnh An, huyện B1. Tổng g trị
tài sản thực tế nhận là 1.315.545.000 đồng.
Đồng thời, do ông N nhận phần tài sản là hiện vật có giá trị lớn hơn so với
phần được chia nên ông N nghĩa vụ giao lại cho P phần chênh lệch
254.628.500 đồng.
- Về nợ chung:
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Ngô Thị P có nghĩa vụ
trả cho bà Tiếu số tiền 400.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu của Phan Thị Kim H, Buộc Ngô Thị P nghĩa
vụ trả cho bà H số tiền 300.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu của Ngô Thị P. Buộc ông Trần Chánh N nghĩa
vụ trả lại cho P % số tiền đã thi hành án theo Bàn án số 01/2017/KDTM-ST
ngày 01/3/2017 của Toà án nhân dân huyện B1 là 213.511.796 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà P, ông N kháng cáo.
Tại Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT ngày
25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Chánh N. Không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị P.
Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 107/2018/DS-ST ngày 25 tháng
10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Bến Tre, cụ thể như sau:
- Tuyên bố không công nhận Ngô Thị P ông Trần Chánh N là vợ
chồng.
- Con chung: Trần Thanh T, sinh năm 1996 và Trần Đỗ Q, sinh năm 1989
đã trưởng thành.
- Tài sản chung:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnNgô Thị P.
Chấp nhận yêu cầu của NThị P về việc chia hai đối với thửa đất
356, tờ bản đồ 3, diện tích 1.313,8m2 (phần 3, 4) do P quản lý, sử dụng. Ông
Trần Chánh N được chia phần (3) diện tích 807,2m. Buộc P trách
nhiệm giao diện tích 807,2m cho ông N. P được chia phần (4) diện tích
9
506,6m. Ông N trách nhiệm trả cho P phần giá trị chênh lệch
54.546.150 đồng.
Chấp nhận yêu cầu của NThị P về việc chia hai đối với thửa đất
396, tờ bản đồ 19, diện tích 103,1m các tài sản trên đất gồm 01 mái che (A,
B) 01 n nhà (C, D) hiện do ông Trần Chánh N quản lý, sử dụng. Ông Trần
Chánh N được nhận toàn bộ thửa đất 396, tờ bản đồ 19 diện tích 103,1m các
tài sản trên đất. Ông N trách nhiệm trả cho bà P % giá trị thửa đất
351.628.000 đồng.
Ghi nhận ông N P giao cho ông Trần Thanh T được quyền quản lý,
sử dụng đối với diện tích 86,7m thuộc phần (4,5) 01 căn nhà (4,5) trên diện
tích 86,7m thuộc một phần thửa 488, tờ bản đồ 19.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Ngô Thị P về việc chia thửa đất 264,
tờ bản đồ 03, diện tích 2.299,3m các tài sản trên đất gồm 01 nhà (A), 01
nhà tạm (B), 01 cửa hàng (C) 01 chuồng hiện do ông Trần Chánh N quản
lý, sử dụng.
Ông Trần Chánh N được nhận toàn bộ thửa đất 264, tờ bản đồ 3, diện tích
2.299,3m và các i sản trên đất. Ông N trách nhiệm trả cho P 3/10 giá trị
thửa đất là 405.435.000 đồng.
- Về nợ chung:
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Ngô Thị P nghĩa vụ
trả cho bà Tiếu số tiền 400.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Kim H. Buộc Ngô Thị P nghĩa
vụ trả cho bà Hương số tiền 300.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu của Ngô Thị P. Buộc ông Trần Chánh N nghĩa
vụ trả lại cho bà P 2 số tiền đã thi hành án theo Bản án số
Ngoài ra, cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí, trách nhiệm do chậm thi
hành án.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 11/2019/KN-HNGĐ ngày
22/5/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
đã kháng nghị một phần Bản án phúc thẩm số 03/2019/HN-PT ngày
25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre; đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy một phần Bản án hôn
nhân gia đình phúc thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bến Tre một phần Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
107/2018/HNGĐ-ST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Bến
Tre (phần về chia tài sản chung là quyền sử dụng đất và các tài sản, vật kiến trúc
gắn liền với thửa đất 264, tờ bản đồ 3 thửa đất 396, tờ bản đồ 19, đều tọa lạc
tại thị trấn B, huyện B1 quyền sử dụng thửa đất số 356, tờ bản đồ 3, tọa lạc
tại Vĩnh An, huyện B1), giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện B1,
10
tỉnh Bến Tre xét xử lại phần bản án bị hủy theo thủ tục thẩm đúng quy định
pháp luật.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 09/2019/HNGĐ-GĐT ngày 08/7/2019
của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định hủy một
phần Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 03/2019/HN-PT ngày
25/01/2019 của Tòa án. nhân dân tỉnh Bến Tre và một phần Bản án hôn nhân gia
đình thẩm số 107/2018/HNGĐ-ST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân
huyện B1, tỉnh Bến Tre (phần về chia tài sản chung là quyền sử dụng đất các
tài sản, vật kiến trúc gắn liền với thửa đất 264, tờ bản đồ 3 thửa đất 396, tờ
bản đồ 19 đều tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 quyền sử dụng thửa đất số 356,
tờ bản đồ 3, tọa lạc tại V, huyện B1) giao hvụ án cho Tòa án nhân dân
huyện B1, tỉnh Bến Tre xét xử lại phần bản án bị hủy theo thủ tục sơ thẩm đúng
quy định pháp luật.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 73/2020/HNGĐ-ST ngày
11/8/2020, của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Bến Tre quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu chia đôi tài sản chung sau ly hôn của bà Ngô Thị P
đối với ông Trần Chánh N; các tài sản chung của Ngô Thị P ông Trần
Chánh N được xác định gồm:
+ 01 nhà tạm (A, B) 01 nhà (C, D) trên thửa đất 396, tờ bản đồ 19, tọa
lạc tại thị trấn B, huyện B1 giá 367.734.000 đồng; diện tích 103,1 mở thửa đất
396, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 giả là 721.700.000 đồng.
+ 01 cửa hàng (C) giá 88.666.000 đồng, 01 nhà tạm (B) giá 23.515.000
đồng, 01 nhà (A) giá 88.360.000 đồng, 01 chuồng giá 13.704.000 đồng trên
thửa đất 264, tờ dm bản đồ 3, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1; tổng trị giá các tài
sản là 214.245.000đ; diện tích 2.299,3m thửa đất 264, tờ bản đồ 3, tọa lạc tại thị
trấn B, huyện B1 giá là 11.496.500.000 đồng.
- Thửa đất 356, tờ bản đồ 03, diện tích 1.313,8m (3, 4), tọa lạc tại xã Vĩnh
An, huyện B1 giá 788.280.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chung 13.588.459.000 đồng chia cho P, ông N
mỗi bên hưởng 6.794.229.500đ, cụ thể chia như sau:
+ Bà Ngô Thị P được chia: Thửa đất 356, tờ bản đồ 03, diện tích
1.313,8m (3, 4), tọa lạc tại xã Vĩnh An, huyện B1. Đồng thời, P được nhận số
tiền chênh lệch vgiá trị tài sản được chia 6.005.949.500 đồng do ông Trần
Chánh N có nghĩa vụ giao.
+ Ông Trần Chánh N được sở hữu số tiền 6.794.229.500 đồng trong phần
giá trị tài sản chung do ông N quản lý; buộc ông Trần Chánh N nghĩa vụ trả
cho Ngô Thị P số tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia 6.005.949.500
đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
11
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà P, ông N kháng cáo.
Tại Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số: 12/2021/HNGĐ-ST ngày
17/6/2021, của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định:
Hủy Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 73/2020/HN-ST ngày
11/8/2020, của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Bến Tre; giao toàn bộ hồ vụ
án cho Tòa án nhân dân huyện B1 giải quyết lại theo thủ tục chung.
Tại Bản án dân s thẩm số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Áp dụng Điều 147, khoản 2 Điều 157, Điều 161, khoản 2 Điều 165, các
Điều 227, 228, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Ttụng dân sự; các Điều 14, 16, 59,
60, 62 Luật hôn nhân gia đình; các Điều 116, 133, 170, 213, 275, 357, 589,
688 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô
Thị P về việc yêu cầu tuyên bố hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 29/3/2019 giữa ông Trần Chánh N với ông Nguyễn Văn T; Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/8/2019 giữa ông Nguyễn Văn
T, Trần Thị Kim Hằng với bà Dương Thị Tuyết P1; Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/5/2019 giữa ông Trần Chánh N với Trần
Thị Kim Y.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị P về việc yêu
cầu chia tài sản chung sau ly hôn giữa Ngô Thị P và ông Trần Chánh N. Tài
sản chung được xác định gồm:
- Thửa đất 396, tờ bản đồ 19, diện tích đất 103,1m
2
loại đất T, tọa lạc tại
thị trấn B, huyện B1 trị giá 1.494.950.000đồng và 01 nhà tạm (A, B), 01 nhà (C,
D) trên đất giả 280.546.000 đồng.
- Thửa đất 264, tờ bản đồ 3, diện tích đất 2.299,3m
2
, tọa lạc tại thị trấn B,
huyện B1 trị giá 11.646.500.000đồng tài sản, vật kiến trúc trên đất gồm: 01
cửa hàng (C) giá 88.666.000đồng, 01 nhà tạm (B) giá 23.515.000đồng, 01 nhà
(A) giá 88.360.000 đồng, 01 chuồng bò giá 13.704.000 đồng.
- Thửa đất 356, tờ bản đồ 03, diện tích đất 1.313,8m
2
, tọa lạc tại Vĩnh
An, huyện B1 trị giá: 2.777.600.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản chung 16.413.841.000đồng, chia cho bà P ông N
mỗi bên hưởng một nửa 8.206.920.500 đồng (Tám tỷ hai trăm lẻ sáu triệu
chín trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng), chia cụ thể như sau:
3. Bà Ngô Thị P được chia thửa đất 356, tờ bản đồ 3, diện tích 1.313,8m
2
(phần 3, 4), tọa lạc tại Vĩnh An, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh
Vĩnh Long). Đồng thời, P được nhận số tiền chênh lệch về giá trị tài sản được
12
chia 5.429.320.500 đồng (Năm tbốn trăm hai mươi chín triệu ba trăm hai
mươi nghìn năm trăm đồng) do ông Trần Chánh N có nghĩa vụ giao trả lại.
(Đính kèm Họa đồ hiện trạng thửa đất ngày 28/5/2015 của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện B1 (nay Chi nhánh n phòng đăng đất đai
khu vực 25).
4. Ông Trần Chánh N được chia số tiền 8.206.920.500 đồng (Tám tỷ hai
trăm lẻ sáu triệu chín trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng) trong phần giá trị tài
sản chung do ông N quản lý 13.636.241.000 đồng (Mười ba tỷ sáu trăm ba mươi
sáu triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) buộc ông Trần Chánh N
nghĩa vụ giao trả lại cho Ngô Thị P phần chênh lệch giá trị tài sản được chia
5.429.320.500 đồng (Năm t bốn trăm hai mươi chín triệu ba trăm hai mươi
nghìn năm trăm đồng).
5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ ln
quan Dương Thị Tuyết P1hượng về việc yêu cầu Ngô Thị P bồi thường
tiền khai thác mặt bằng giữ xe Tết năm 2024 với số tiền 10.000.000 đồng (Mười
triệu đồng).
Kể từ khi án hiệu lực pháp luật, đơn yêu cầu của người được thi
hành ăn cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành ăn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí thẩm quyền
kháng cáo của đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 17/9/2025 Ngô Thị P đơn kháng o
một phần bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa án
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P.
Ngày 07/10/2025 ông Trần Chánh N đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu của bđơn chia thửa đất 356, tbản đồ số 3, diện
tích 1.313,8m
2
tọa lạc tại xã V, huyện B1, tỉnh Bến Tre;
- Chấp nhận yêu cầu của bị đơn về chia giá trị đối với thửa đất 396, tờ bản
đồ số 19, diện tích 103,1m
2
loại đất T tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 theo giá trị
của Bản án phúc thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bến Tre;
- Chấp nhận yêu cầu của bị đơn về chia giá trị đối với thửa đất 264, tờ bản
đồ số 3, diện tích 2.299,3m
2
tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 theo giá trị của Bản
án phúc thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh
Bến Tre.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Thanh G người đại diện ủy quyền
của Ngô Thị P trình bày giữ nguyên kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
13
sửa án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của P. Ông Giang trình bày,
ông xác định lại yêu cầu kháng cáo của bà P cụ thể như sau: Yêu cầu vô hiệu các
giao dịch liên quan đến thửa đất 264 (nay thửa 104), diện tích diện tích
2.299,3m
2
; yêu cầu chia thửa đất trên bằng hiện vật cho bà P nhận ½ thửa đất; lý
do yêu cầu hiệu các giao dịch liên quan thửa đất 264 là các giao dịch này
xảy ra sau khi có Công văn số 02 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh về tạm hoãn thi hành án văn bản hoãn thi hành án của cơ quan
thi hành án huyện B1 cũ; các giao dịch được thực hiện qua nhiều lần chuyển
nhượng và các chủ thể tham gia giao dịch không đúng quy định của pháp luật do
chữ ký của ông T, ông Vĩnh được giám định không đúng; giá trị thửa đất chuyển
nhượng ghi trong hợp đồng thấp hơn giá trị thực tế hai bên thỏa thuận rất nhiều.
Đối với các thửa đất 356 396 (nay thửa 101) P không kháng o, thống
nhất như án thẩm đa xét xử. Ngoài ra, P không kháng cáo nội dung nào
khác. Đối với kháng cáo của ông N, P không đồng ý. P không yêu cầu
thẩm định giá lại tài sản và không đưa ra giá nào khác, đồng ý giá Tòa án cấp
thẩm đã giải quyết.
Ông Trần Chánh N trình bày giữ nguyên kháng cáo, ông N yêu cầu chia
cho ông N ½ thửa đất 356 bằng hiện vật, thửa đất này do P đứng tên quản
lý; đối với thửa đất 265 396 ông N yêu cầu chia theo giá trị được xác định
trong Bản án số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân n tỉnh
Bến Tre; ông N không yêu cầu thẩm định giá lại tài sản không đưa ra giá
nào khác.
Anh Nguyễn Thành P là người đại diện ủy quyền của bà Dương Thị Tuyết
P1 trình bày ý kiến: Tuyết P1 không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn; đồng
ý kháng cáo của bị đơn. Sau khi Bản án phúc thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT
ngày 25/01/2019 ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp
pháp, ông N đã chuyển nhượng cho người khác và Tuyết P1 nhận chuyển
nhượng ngay tình, sau khi nhận chuyển nhượng P đã thế chấp vay vốn
Ngân hàng đkinh doanh. Tòa án cấp thẩm đã phân ch rất các quy định
pháp luật đxác định bảo vngười thứ ba ngay tình trong giao dịch trên, do
đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ người thứ
ba ngay tình đối với bà Tuyết P1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử người
tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tkhi thụ
vụ án đến xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều
308 Bộ luật Ttụng dân sự Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
14
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận
kháng cáo của Ngô Thị P ông Trần Chánh N; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm
số: 59/2025/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
8 - Vĩnh Long.
Về án phí: Ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm P được miễn
án phí do có đơn xin miễn thuộc trường hợp người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ngô Thị P ông Trần
Chánh N nộp trong hạn luật định phù hợp Điều 273 của Bộ luật Dân sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về tài sản chung: P ông N chung sống như vợ chồng tạo
lập được khối tài sản chung gồm quyền sử dụng thửa đất 264, tờ bản đồ 3 (nay
thửa 104, tờ bản đồ 7), diện tích 2.299,3m
2
trên đất 01 cửa hàng, 01 căn
nhà chính, 01 nhà tạm 01 chuồng bò; thửa đất 396, tờ bản đồ 19 (nay thửa
101, tờ bản đồ 43) diện tích 103,1m
2
trên đất có 01 căn nhà và 01 mái che, cùng
tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 và thửa đất 356, tờ bản đồ 3, diện tích 1.313,8m
2
tọa lạc tại xã Vĩnh An, huyện B1. Ông N chỉ thừa nhận thửa đất 356 tài sản
chung, hai thửa đất 264, 396 là tài sản riêng của ông. Xét thấy ông N không đưa
ra được chứng cứ chứng minh 02 thửa đất nêu trên là tài sản riêng của ông, trong
khi những thửa đất này nguồn gốc đều do P, ông N nhận chuyển nhượng
từ người khác, sau đó đã đăng ký kê khai và ông N đứng tên đại diện hộ gia đình
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng những thửa đất
này, ông N và bà P đã đầu tư xây dựng tài sản, vật kiến trúc như nhà ở, nhà tạm,
cửa hàng, mái che, chuồng bò. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 356,
264 (nay thửa 104), 396 (nay thửa 101) là tài sản chung của P ông N
phân chia tài sản chung theo quy định của pháp luật căn cứ, phù hợp
quy định tại Điều 33, 59 và Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Xét kháng cáo của P về việc yêu cầu vô hiệu các giao dịch liên
quan thửa đất 264 (nay thửa 104) diện tích 2272,9m
2
yêu cầu chia thửa đt
này bằng hiện vật, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Sau khi Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số: 03/2019/HNGĐ-
PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre hiệu lực pháp luật.
Ông N đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
264, tờ bản đồ 3, diện tích 2272,9m
2
thành thửa mới 104, tờ bản đồ 7, diện
tích 2257,8m
2
. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày
15
29/3/2019 ông N chuyển nhượng thửa 104 cho ông Nguyễn Văn T theo hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng công
chứng Nguyễn Văn Mới. Ngày 03/5/2019, ông T được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Ngày 14/8/2019, ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị Kim Hằng
chuyển nhượng thửa đất 104 cho Dương Thị Tuyết P1hượng, hợp đồng
chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Mới,
ngày 28/8/2019 Dương Thị Tuyết P1hượng được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa 104 và quản lý sử dụng thửa đất 104.
Ngày 05/3/2019, Tòa án nhân n cấp cao có Công văn số 02-
CV/HTHADS đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự huyện B1 hoãn thi hành Bản
án số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Ngày 13/3/2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện B1 ra Quyết định hoãn thi
hành án số 03, 04 đối với phần nghĩa vụ của P, không ra quyết định hoãn thi
hành án đối với những phần của bản án đã được thi hành không gửi quyết
định hoãn thi hành án đến quan liên quan, do đó quan thẩm quyền
đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N đối với hai thửa đất 104
và thửa đất 101.
Tại biên bản làm việc ngày 29/12/2020, chấp hành viên Chi cục Thi nh
án dân sự huyện B1 cho biết: Sau khi nhận được Công văn số 02/HTHA-DS
ngày 05/3/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Chi
cục Thi hành án dân sự huyện B1 đã ban hành quyết định s03 ngày 13/3/2019
về việc hoãn thi hành án. Theo quy định thì Chi cục Thi hành án chỉ giao quyết
định này cho đương sự và Viện kiểm sát.
Tại biên bản làm việc ngày 29/12/2020 đại diện Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện B1 cho biết: căn cứ theo thủ tục số 20 (Quyết định số
458/QĐ-UBND ngày 08/3/2017) về việc công bố 95 thủ tục hành chính của y
ban nhân dân tỉnh Bến Tre Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 88 ngày
18/02/2019 ông N đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án được tuyên trong bản
án đã có hiệu lực pháp luật nên Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện B1
thực hiện thủ tục sang tên theo quy định. Trong thời điểm cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông N theo bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B1 không nhận được
bất cứ văn bản yêu cầu hoãn hay tạm đình chỉ thi hành án đối với bản án phúc
thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Từ những tài liệu chứng cứ nêu trên, sở xác định thời điểm nhận
chuyển nhượng thửa đất 264 (nay thửa 104), ông Nguyễn Văn T, Dương
Thị Tuyết P1hượng không biết việc tranh chấp thửa đất văn bản hoãn thi
hành án; bởi khi giao kết hợp đồng, thửa đất 104 được bên chuyển nhượng
người đứng tên đăng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng
16
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng theo quy định của pháp
luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông G đại diện hợp pháp của Ngô Thị P trình
bày, P nhận được văn bản hoãn thi hành án đến giao trực tiếp cho Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai huyện B1 nhưng không tài liệu, chứng
cứ chứng minh cho lời trình bày này. Do đó, căn cứ xác định tại thời điểm
giao dịch ông T, bà Tuyết P1 không có cơ sở để biết việc tham gia vào giao dịch
không phù hợp với quy định pháp luật, hoàn toàn tin rằng người giao dịch
người quyền giao dịch giao dịch đáp ứng các điều kiện để giao dịch
hiệu lực. vậy, Tòa án cấp thẩm công nhận các giao dịch bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình căn cứ phù hợp quy định tại Điều 117 và
133 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thửa đất 264 (nay thửa 104) ông N đã chuyển
nhượng cho ông T, ông T chuyển nhượng cho bà P nên Tòa án cấp sơ thẩm chia
bằng giá trị căn cứ, phù hợp với khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân Gia
đình năm 2014. Do đó kháng cáo của Ngô Thị P yêu cầu tuyên bố các giao
dịch chuyển nhượng liên quan thửa đất 264 (nay thửa 104) yêu cầu chia
bằng hiện vật đối với thửa đất 264 (nay là thửa 104) không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của ông Trần Chánh N yêu cầu chia cho ông Thửa đất
356, tờ bản đồ 03, diện tích đất 1.313,8m
2
, tọa lạc tại xã V, huyện B1 (nay
B, tỉnh Vĩnh Long) đất ONT chia thửa đất thửa đất 396, diện tích 103,1m
2
(nay là thửa 101), loại đất T tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 (nay B, tỉnh
Vĩnh Long) thửa đất 264, diện tích 2.299,3m
2
(nay thửa 104) tọa lạc tại thị
trấn B, huyện B1 (nay xã B, tỉnh Vĩnh Long) theo giá trị của Bản án phúc
thẩm số 03/2019/HNGĐ-PT ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến
Tre, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 7 Thông
01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 quy định giá trị tài
sản chung của vợ chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải
quyết sơ thẩm vụ việc. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng giá tại biên bản định
giá ngày 12/05/2021 (đối với thửa đất 101, tờ bản đồ 43), ngày 20/3/2025 (đối
với thửa 104 thửa 356) để giải quyết vụ án căn cứ. Tại cấp phúc thẩm,
nguyên đơn bị đơn không đưa ra mức giá thỏa thuận nào khác không yêu
cầu thẩm định lại giá trị tài sản. Ông N không cung cấp tài liệu chứng cứ mới.
Do đó, kháng cáo của ông N yêu cầu chia giá trị đất được xác định theo Bản án
số 03/2019/HNGĐ ngày 25/01/2019 không có căn cứ chấp nhận.
Đối với thửa đất 356 do Ngô Thị P đứng tên đăng quyền sử dụng
đất quản từ trước nay, do đó Tòa án cấp thẩm chia cho Ngô Thị P
nhận quyền sử dụng thửa đất số 356, tờ bản đồ 3, diện tích 1.313,8m
2
loại đất
ONT + Lúa, tọa lạc V, huyện B1 hoàn giá trị cho ông N căn cứ,
vậy kháng cáo của ông N yêu cầu chia hiện vật thửa đất trên không căn cứ
chấp nhận.
17
Như vậy, tài sản của bà P và ông N xác định giá trị phân chia như sau:
- Thửa đất 396, tờ bản đồ 19 (nay là thửa 101, tờ bản đồ 43), diện tích đất
103,1m
2
, loại đất T, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 giá 14.500.000đ/m
2
thành
tiền là 1.494.950.000 đồng 01 nhà tạm (A, B), 01 nhà (C, D) trên đất giá
280.546.000 đồng.
- Thửa đất 264, tờ bản đồ 3 (nay thửa 104, tờ bản đồ 7), diện tích đất
2.299,3m, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B1 đất ODT giá 8.000.000đ/m
2
, đất lúa
giá 5.000.000đ/m
2
thành tiền là 11.646.500.000 đồng và tài sản vật kiến trúc trên
đất gồm: 01 cửa hàng (C) giá 88.666.000 đồng, 01 nhà tạm (B) giá 23.515.000
đồng, 01 nhà (A) giá 88.360.000 đồng, 01 chuồng bò giá 13.704.000 đồng.
- Thửa đất 356, tờ bản đồ 03, diện tích đất 1.313,8m
2
, tọa lạc tại xã V,
huyện B1 đất ONT giá 2.500.000đ/m
2
, đất lúa g2.000.000đ/m
2
thành tiền
2.777.600.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản chung là 16.413.841.000 đồng.
Giá trị các tài sản ông N đã chuyển nhượng cho ông T và ông T đã chuyển
cho Dương Thị Tuyết P1 ông N chuyển nhượng cho bà Yến nên ông N
trách nhiệm hoàn giá trị phân chia tài sản chung cho P. Do ông N quản lý giá
trị tài sản chung được xác định số tiền 13.636.241.000 đồng, vượt hơn phần
tài sản ông N được hưởng khi chia tài sản chung nên ông N trách nhiệm
thanh toán lại cho bà P số tiền chênh lệch chia tài tài sản chung là 5.429.320.500
đồng.
[5] Đối với số tiền 1.040.538.146 đồng mà ông N đã nộp tại tài khoản Chi
Cục Thi hành án dân sự huyện B1 (và tiền lãi suất phát sinh nếu có) được khấu
trừ vào số tiền ông N nghĩa vụ trả cho P tại thời điểm án hiệu lực thi
hành.
Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất không chấp
phần kháng cáo của Ngô Thị P ông Trần Chánh N. Giữ nguyên Bản án
dân sự thẩm số: 59/2025/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
[6] Án phí n sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng n s
Điều 29 của Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do không chấp nhận kháng cáo n bà P
ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. P đơn xin miễn án phí.
[7] Đnghị của Đại diện Viện kiểm t nhân n tỉnh Vĩnh Long phù hợp
với quy định pháp luật và nhận định trên nên có căn cứ chấp nhận.
[8] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
18
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phílệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngô Thị P ông Trần
Chánh N. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 59/2025/HN-ST ngày 10
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô
Thị P về việc yêu cầu tuyên bố hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 29/3/2019 giữa ông Trần Chánh N với ông Nguyễn Văn T; Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/8/2019 giữa ông Nguyễn Văn
T, Trần Thị Kim H với Dương Thị Tuyết P1; Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 17/5/2019 giữa ông Trần Chánh N với bà Trần Thị Kim
Y.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị P về việc yêu
cầu chia tài sản chung sau ly hôn giữa Ngô Thị P và ông Trần Chánh N. Tài
sản chung của bà P và ông N được xác định gồm:
- Thửa đất 396, tờ bản đồ 19, diện tích đất 103,1m
2
, loại đất T, tọa lạc tại
thị trấn B, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long) trị giá
1.494.950.000 đồng 01 nhà tạm (A, B), 01 nhà (C, D) trên đất giá
280.546.000 đồng.
- Thửa đất 264, tờ bản đồ 3, diện tích đất 2.299,3m
2
, tọa lạc tại thị trấn B,
huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh Vĩnh Long) trị giá 11.646.500.000
đồng tài sản, vật kiến trúc trên đất gồm: 01 cửa hàng (C) giá 88.666.000
đồng, 01 nhà tạm (B) giá 23.515.000 đồng, 01 nhà (A) giá 88.360.000 đồng, 01
chuồng bò giá 13.704.000 đồng.
- Thửa đất 356, tờ bản đồ 03, diện tích đất 1.313,8m
2
, tọa lạc tại Vĩnh
An, huyện B1, tỉnh Bến Tre (nay là B, tỉnh Vĩnh Long) trị giá 2.777.600.000
đồng.
Tổng trị giá tài sản chung là 16.413.841.000 đồng, chia cho bà P và ông N
mỗi bên ½ giá trị tài sản chung bằng số tiền 8.206.920.500 đồng (Tám thai
trăm lẻ sáu triệu chín trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng), chia cụ thể như sau:
3.1. Chia cho bà Ngô Thị P được quyền sử dụng thửa đất 356, tờ bản đồ 3,
diện tích 1.313,8m
2
(phần 3, 4), tọa lạc tại Vĩnh An, huyện B1, tỉnh Bến Tre
(nay B, tỉnh Vĩnh Long) trgiá 2.777.600.000 đồng. Đồng thời, P được
nhận số tiền chênh lệch về giá trị tài sản chung được chia là 5.429.320.500 đồng
19
(Năm tỷ bốn trăm hai mươi chín triệu ba trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng)
do ông Trần Chánh N có nghĩa vụ giao trả lại.
(Đính kèm Họa đồ hiện trạng thửa đất ngày 28/5/2015 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện B1 (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai khu vực 25).
3.2. Ông Trần Chánh N được chia số tiền 8.206.920.500 đồng (Tám tỷ hai
trăm lẻ sáu triệu chín trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng) trong phần giá trị tài
sản chung do ông N quản 13.636.241.000 đồng (Mười ba t sáu trăm ba
mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) buộc ông Trần Chánh N
nghĩa vụ giao trả lại cho Ngô Thị P phần chênh lệch giá trị tài sản chung
được chia 5.429.320.500 đồng (Năm tỷ bốn trăm hai mươi chín triệu ba trăm
hai mươi nghìn năm trăm đồng).
3.3 Số tiền 1.040.538.146 đồng (Một tỷ bốn mươi triệu năm trăm ba mươi
tám nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng) mà ông N đã nộp tại tài khoản Chi Cục
Thi hành án dân sự huyện B1 (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 -
Vĩnh Long) (và tiền lãi suất phát sinh nếu có) được khấu trừ vào số tiền ông N
có nghĩa vụ thanh toán cho bà P tại thời điểm án có hiệu lực thi hành.
Kể từ khi án hiệu lực pháp luật, đơn yêu cầu của người được thi
hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền i của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngô Thị P có quyền nghĩa vụ khai đăng quyền sử dụng thửa
đất 356 theo quy định của pháp luật đất đai.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: NThị P được miễn tiền án phí dân
sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Ông Trần Chánh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án
phí dân sự phúc thẩm. Ông N được khấu trừ vài số tiền tạm ứng án phí 300.000
đồng nộp ngày 07/10/2025 theo biên lai thu số 0004473 của Thi hành án dân sự
Vĩnh Long. Ông N đã nộp đủ.
5. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT III - TATC;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Chánh án TAND TVL;
- Phòng GĐKTTTr&THA TAND TVL;
- TAND KV 8- Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Mỹ Dung
20
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT Bản án số 36/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất