Bản án số 36/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 của TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 36/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 của TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lai Vung (TAND tỉnh Đồng Tháp)
Số hiệu: 36/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 36/2020/HS-ST
Ngày: 16-9-2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Duy Oanh;
Bà Quang Kim Cúc.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh Thư Tòa án nhân dân
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham
gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phương - Kim sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020, ti Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung
xét x sơ thm công khai v án hình s ths: 42/2020/TLST-HS, ngày 28 tháng
8 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số: 43/2020/QĐXXST-HS, ngày
31 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn T, sinh năm: 1973, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: N T; nơi trú:
Không nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: m thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Huỳnh Văn T (chết) Nguyễn Thị T (chết); tiền án: Có 03 tiền án: Năm 2012 bị
Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng giam về tội
“Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong thời hạn tù ngày 07/9/2012, chưa thi hành xong
phần án phí và bồi thường dân sự, chưa được xóa án tích. Năm 2015 bị Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm giam về tội Trộm cắp tài sản” (tái phạm),
chấp hành xong thời hạn ngày 01/9/2017, chưa thi hành xong phần án phí, nên
chưa được xóa án tích. Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh
Long xử phạt 09 tháng giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong thời hạn
ngày 05/4/2020, chưa thi hành xong phần án phí nộp lại tiền thu lợi bất chính,
nên chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; tạm giữ: Từ ngày 01/7/2020 đến ngày
07/7/2020; tạm giam: Từ ngày 07/7/2020 đến nay. B cáo đang bị tạm giam tại Nhà
tạm giữ Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Phạm Pha N - sinh năm: 1990 (có mặt); nơi trú: 341/1, ấp T B, P H,
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Văn H - sinh năm: 1996 (vắng mặt); nơi trú: 254A/3, ấp H B, xã L T,
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
Thị T - sinh năm: 1948 (vắng mặt); nơi trú: ấp T L, P H, huyện Lai
Vung, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 01/7/2020, Huỳnh Văn T chạy xe đạp (xe mượn
của một người không họ tên, địa chỉ) đi ngang nhà anh Phạm Pha N tại số 341/1,
ấp T B, P H, huyện Lai Vung thì nhìn thấy nhà mcửa nhưng không ai trong
nhà, T liền đi vào nhà anh N, đến phòng ngủ thấy cửa khép hờ, không khóa, T đẩy
cửa đi vào phòng, nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu
trắng-vàng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của anh N để trên bàn
trong phòng ngủ, T đi đến lấy cả 02 điện thoại bỏ vào túi quần đi ra ngoài. Sau
đó, T đem bán 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu trắng-vàng cho Lê
Văn H được 1.000.000đ. Đối với điện thoại Nokia màu đen, T mở lấy sim điện thoại
ra bỏ vào túi áo khoác đã làm rơi mất, T gắn sim điện thoại của T vào để sử
dụng. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày anh N phát hiện bị mất tài sản nêu trên
nên kiểm tra camera lắp đặt tại nhà thì phát hiện T người lấy trộm tài sản nên
trình báo quan Công an. Trước quan điều tra Công an huyện Lai Vung,
Huỳnh Văn T thừa nhận đã lấy trộm 02 điện thoại di động của anh Phạm Pha N như
đã nêu trên.
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã thu giữ vật chứng và
các tài sản gồm:
- Thu giữ trên người Huỳnh Văn T:
+ 01 điện thoại di động màu đen, trên điện thoại chữ Nokia, 222, V21.00.11
RM-1136 (C) Nokia, bên trong gắn 01 sim điện thoại Mobifone, trên sim các
số 8401, 2002, 9202, 2203.
+ 1.800.000 đồng, gồm 02 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 04 tờ mệnh giá 200.000
đồng.
+ 01 cái nón kết màu nâu, phía trước có chữ adidas màu trắng.
+ 01 cái áo khoác bên ngoài màu xám, bên trong màu đen, phía bên ngực trái
có chữ Fashion EA7.
- Thu giữ của Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime mặt
trước màu trắng, mặt sau màu vàng, không có sim và thẻ nhớ.
- Thu giữ của Phạm Pha N: 01 đoạn video camera (lưu giữ trong 01 đĩa DVD)
ghi nhận hình ảnh đối tượng Huỳnh Văn T đi vào nanh Phạm Pha N để trộm cắp
tài sản ngày 01/7/2020.
- quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã trao trả các tài sản
sau:
+ Ngày 10/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra ng an huyện Lai Vung đã hoàn
trả cho anh Phạm Pha N: 01 điện thoại di động màu đen 01 điện thoại di động
3
hiệu Samsung J7 Prime mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng, không sim
thẻ nhớ.
+ Ngày 10/7/2020 Huỳnh Văn T tự nguyện đồng ý giao cho quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện Lai Vung đã hoàn trả cho anh Lê Văn H 1.000.000 đồng đây
là tiền mua điện thoại do T bán.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-ĐGTS ngày 08/7/2020 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lai Vung, kết luận: 01 điện thoại Nokia
màu đen (không cảm ứng), tình trạng đã qua sử dụng, trầy xước, trị giá 120.000
đồng; 01 sim điện thoại (sim trắng), trị giá 20.000 đồng; 01 điện thoại Samsung
J7 Prime, màu trắng-vàng (có cảm ứng), tình trạng đã qua sử dụng, trầy xước, trị giá
1.200.000 đồng. Tng trị giá tài sản là 1.340.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS, ngày 28/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Lai Vung, đã truy tố Huỳnh Văn T ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung,
để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình
sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Huỳnh Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với
nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo
về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị hại anh Phạm Pha N trình bày: Ngày 01/7/2020 anh mất 01 điện thoại di
động hiệu Samsung J7 Prime màu trắng-vàng 01 điện thoại di động hiệu Nokia
màu đen đúng như nội dung vụ án, hiện tại anh đã nhận lại 02 điện thoại nêu trên,
anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, yêu cầu xử hình sự theo quy định
pháp luật, ngoài ra không trình bày gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng
như cáo trạng đã nêu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Huỳnh Văn T đã
hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, đã lén lút lấy trộm 01
điện thoại di động Samsung J7 Prime 01 điện thoại Nokia, tổng giá trị giá
1.340.000 đồng của anh Phạm Pha N tại số 341/1, ấp T B, xã P H, huyện Lai Vung,
đem bán 01 điện thoại lấy tiền tiêu xài nhân 01 điện thoại để sử dụng; bcáo
đã tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích còn vi phạm,
vậy lần phạm tội này yếu tố bản để cấu thành tội phạm, do đó hành vi của bị
cáo Huỳnh Văn T đã đầy đủ các yếu tố phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo
điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình s; khi thực hiện hành vi bị cáo đầy
đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,
nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1
Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Văn T từ 02 năm đến 03 năm . Về
trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật
hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón kết màu u, phía trước có chữ adidas màu
trắng; 01 cái áo khoác bên ngoài màu xám, bên trong màu đen, phía bên ngực trái có
chữ Fashion EA7; 01 sim điện thoại Mobifone, trên sim có các số 8401, 2002, 9202,
2203 do Huỳnh Văn T không yêu cầu nhận lại.
- Tiếp tục quản số tiền 800.000 đồng của Huỳnh Văn T để đảm bảo việc thi
hành án.
4
(Hiện các tài sản trên do Chi cục Thi hành án n sự huyện Lai Vung quản lý).
- Tịch thu lưu vào hồ vụ án 01 đoạn video camera (lưu giữ trong 01 đĩa
DVD) ghi nhận hình ảnh Huỳnh Văn T đi vào nanh Phạm Pha N để trộm cắp tài
sản ngày 01/7/2020.
Đối với Lê Văn H khi mua điện thoại Samsung J7 Prime do Huỳnh Văn T bán,
không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Bcáo Huỳnh Văn T thống nhất với Bản cáo trạng Luận tội của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, bị cáo không tranh luận gì. Bcáo xin lỗi
bị hại, bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát,
Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật ttụng hình sự quy định.
Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án
không ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của các quan, người tiến
hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ vụ án hợp
pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Huỳnh Văn T có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ
hở trong việc quản tài sản của bị hại, đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động
Samsung J7 Prime 01 điện thoại Nokia, tổng giá trị giá 1.340.000 đồng của
anh Phạm Pha N tại số 341/1, ấp T B, P H, huyện Lai Vung, đem bán 01 điện
thoại lấy tiền tiêu xài cá nhân và 01 điện thoại để sử dụng phù hợp hiện trường vụ
án; lời nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn T phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan người làm chứng ng các chứng cứ khác trong hồ
vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo căn cứ. Bcáo thực hiện tội phạm với lỗi
cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự,
đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức hành vi của mình trái
pháp luật. Tài sản mà bị cáo Huỳnh Văn T chiếm đoạt có tổng giá trị dưới 2.000.000
đồng, nhưng bị cáo Huỳnh Văn T tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được
xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị
cáo. Nên hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm
cắp tài sản” phạm vào điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ 06
tháng đến 03 năm:
… … …
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168,
169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn
vi phạm;…”.
5
[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Văn T là
nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, xâm
phạm tài sản của người khác một cách trái phép, tài sản của công dân là khách thể
được luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến, thế nhưng ý
thức xem thường pháp luật không tôn trọng tài sản của người khác mà bị cáo
phạm tội, vậy việc đưa bị cáo ra xét xử ng khai như ngày hôm nay cần thiết,
thể hiện sự nghiêm minh ca pháp luật.
Tính chất vụ án ít nghiêm trọng, đã gây hoang mang cho quần chúng nhân
dân, làm nh hưởng đến tình hình trật tự trị an địa phương, gây bất bình trong
luận, vì tài sản sơ hở sẽ bị chiếm đoạt bất cứ lúc nào. Khi phạm tội bị cáo có 03 tiền
án, chưa xóa án tích. vậy cần phải một mức hình phạt tương xứng đối với bị
cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Đối với hành vi của Văn H khi mua điện thoại Samsung J7 Prime do
Huỳnh Văn T n, không biết tài sản do phạm tội mà có, nên không xem xét xử lý.
[5] Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người làm chứng vắng
mặt tại phiên a, nhưng qua các lời khai trong hồ đều phù hợp đúng như
nội dung vụ án.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệmnh sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Huỳnh Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn n
hối cải, bị o đã tự nguyện khắc phục giao cho quan điều tra 1.000.000 đồng
(trong số tiền 1.800.000 đồng quan Công an thu giữ của bị o) để trả lại cho
Văn Hào số tiền bán điện thoại trộm được, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy
định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này đúng quy định pháp
luật, Hội đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên. Tuy nhiên về tình tiết
giảm nhẹ cho bị cáo Kiểm sát viên chỉ đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự không đề nghị áp dụng thêm tình tiết khắc phục hậu quả tại điểm b
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo chưa phù hợp, bị cáo đã tự
nguyện khắc phục giao nộp lại số tiền bán điện thoại để trả cho người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đây tình tiết giảm nhẹ lợi cho bcáo; nên Hội đồng xét xử
áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái nón kết màu nâu, phía trước có chữ adidas màu
trắng; 01 (mt) áo khoác bên ngoài màu xám, bên trong màu đen, phía bên ngực trái
chữ fashion EA7; 01 (một) sim điện thoại, trên sim các số 8401, 2002, 9202,
2203 do bị cáo Huỳnh Văn T không yêu cầu nhận lại hơn nữa những tài sản này
không còn giá trị sử dng.
- Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng trong 01 (một) gói niêm
phong chữ tên ghi họ tên của Minh Q, dấu đường vân tay màu đỏ của
Huỳnh Văn T dấu tròn đỏ của quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, do số
tiền này không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, nhưng tiếp tục giao cho Chi
cục Thi hành án n sự huyn Lai Vung quản để đảm bảo việc thi hành án.
6
(Tất vật chứng tiền nêu trên do Chi cc Thi hành án n sự huyn Lai Vung
đang quản).
- Tịch thu lưu vào hván 01 đoạn video camera (lưu giữ trong 01 đĩa
DVD) ghi nhận hình ảnh Huỳnh Văn T đi vào nhà anh Phạm Pha Nam để trộm cắp
tài sản ngày 01/7/2020.
[8] Về trách nhiệm dân sự: B hại người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không yêu cầu bồi thường , nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Bcáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T - 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngày 01/7/2020.
2. Về xử vật chứng tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự
Điều 106 Bộ luật tố tng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái nón kết màu nâu, phía trước có chữ adidas màu
trắng; 01 (mt) áo khoác bên ngoài màu xám, bên trong màu đen, phía bên ngực trái
chữ fashion EA7; 01 (một) sim điện thoại, trên sim các số 8401, 2002, 9202,
2203.
- Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng, trong 01 (một) gói niêm
phong chữ tên ghi họ tên của Minh Q, dấu đường vân tay màu đỏ của
Huỳnh Văn T dấu tròn đỏ của quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, nhưng
tiếp tục giao cho Chi cục Thinh án dân sự huyện Lai Vung quản lý để đảm bảo việc
thi hành án.
(Tất vật chứng tiền nêu trên do Chi cục Thi nh án dân sự huyn Lai Vung
đang quản).
- Tịch thu lưu vào hồ vụ án 01 đoạn video camera (lưu giữ trong 01 đĩa
DVD) ghi nhận hình ảnh Huỳnh Văn T đi vào nanh Phạm Pha N để trộm cắp tài
sản ngày 01/7/2020.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án
này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/9/2020; đối với người quyền lợi,
7
nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày từ
ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh ĐT; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh ĐT;
- VKSND H.Lai Vung;
- CCTHA-DS H.Lai Vung;
- Cơ quan điều tra H. Lai Vung; ĐÃ KÝ
- Cơ quan THAHS H. Lai Vung;
- Sở tư pháp;
- Bị cáo, các đương sự;
- Lưu HS, AV (Vinh). Nguyễn Văn Út
Tải về
Bản án số 36/2020/HS-ST Bản án số 36/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất