Bản án số 354/2018/DS-ST ngày 10/08/2018 của TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 354/2018/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 354/2018/DS-ST ngày 10/08/2018 của TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 10 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 354/2018/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Buộc bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc và nội thất A có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Vũ Đông V số tiền 22.000.000 đồng. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ, thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án. [2]. Án phí dân sự sơ thẩm là 3.100.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 354/2018/DS-ST
Ngày: 10-8-2018
V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Tố Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Dung
2. Ông Vũ Ngọc Tiến
- Thư phiên a: Bà Nguyn Ngọc Anh Thư - T ký Tòa án nn dân
Quận 10, Thành phố HChí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 tháng 7 năm 2018 và ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại trụ
sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công
khai vụ án thụ lý số:
187/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2017
về việc Tranh
chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
95/2018/QĐXXST-DS ngày 17/5/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số
58/2018/QĐST- DS ngày 07/6/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Đông V
Địa chỉ: khu phố v, đường N, phường T, Tp. B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lâm Đăng P
Địa chỉ: E khu phố a, đường số x, phường P, Quận c, Thành phố Hồ Chí
Minh.
(Theo giấy ủy quyền số 1511, quyển số 08 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
13/5/2017 của Văn phòng công chứng Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai).
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc và nội thất A
Trụ sở: C đưng H, Phưng c, Qun x, Tp. H Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chu Quỳnh Bảo N nhân
viên.
(Theo giấy ủy quyền ngày 10/8/2017 của Giám đốc Công ty trách nhiệm
hữu hạn kiến trúc và nội thất A).
(Các đương sự có mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2017 của nguyên đơn Đông V và tài
liệu chứng cứ trong hồ thể hiện: o năm 2017, Đông V với Công ty
trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội thất A hợp đồng thiết số
05/2017/HĐTKCty (không ngày tháng), theo đó Công ty Asẽ thực hiện công
việc vấn thiết kế kiến trúc nội thất cho V đối với công trình nhà kết
hợp với kinh doanh tại địa chỉ số 208 khu Phố 1, Nguyễn Văn Hoa, phường
Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”. Cụ thể:
Thiết kế kiến trúc: Mặt bằng bố trí các tầng (mặt bằng các tầng); Phối
cảnh (3 góc phối cảnh chính); Bản vẽ triển khai kiến trúc; Bản vẽ thiết kế sân
vườn (Thiết kế cổng, hàng rào, sân vườn, đường đi); Thiết kế kết cấu và M&E;
Thiết kế nội thất: Phối cảnh chi tiết các tầng (bao gồm tất cả các phòng);
Bản vẽ triển khai nội thất (bản vẽ bố trí vật dụng (tất cả các phòng trong nhà);
bản vẽ bố trí gạch nền, gạch tường, bản vẽ chi tiết tất cả các lầu (bao gồm tất cả
các phòng), bản vchi tiết bếp, bản vẽ trần, chi tiết trần (tất cả các phòng), bản
vẽ bố trí đèn (tất cả các phòng), bản vẽ kích thước các vật dụng.
Tiến độ các công việc thiết kế kiến trúc nội thất được chia thành 04
giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thiết kế phối cảnh 3d ngoại thất, và bố trí phòng;
Giai đoạn 2: Thiết kế bản vẽ thi công phần kiến trúc, kết cấu, nước, điện;
Giai đoạn 3: Thiết kế phối cảnh 3d nội thất các phòng;
Giai đoạn 4: Thiết kế bn vẽ thi công phn kiến trúc còn lại, bn vẽ thi ng
ni tht.
V đã thanh toán đợt 1 theo hợp đồng là 45.000.000 đồng, gồm tiền đặt
cọc 10.000.000 đồng. Ngày 21/4/2017 bà V chuyển tiếp số tiền 17.000.000 đồng
vào tài khoản của ông Nguyễn Hữu Nhật Tđể bên bị đơn xin phép xây dựng đối
với công trình. Ông T cam kết đây chi pxin phép xây dựng sẽ hoàn lại cho
V khi các bên hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, đến thời điểm 09/5/2017,
nguyên đơn vẫn chưa nhận được bất kỳ bản vẽ thiết kế giai đoạn 1 theo hợp
đồng.
Do Công ty Akhông đáp ứng được yêu cầu thiết kế, làm chậm các tiến
trình thiết kế, xây dựng theo thỏa thuận ban đầu, gian dối về việc xin giấy phép
xây dựng, giả vviệc phải tiến hành song song nhiều công việc liên quan đến
thiết kế để yêu cầu bà V thanh toán các đợt sau, trong khi, công việc thiết kế giai
đoạn 1 chưa hoàn thành, thiếu tôn trọng khách hàng nên V yêu cầu
thanh hợp đồng yêu cầu Công ty Atrả lại toàn bộ số tiền 62.000.000 đồng
bà V đã thanh toán. Số tiền này V chuyển khoản (chia làm 4 lần) cho
Công ty Aqua tài khoản của ông Nguyễn Hữu Nhật T, số tài khoản
050049490620, Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín Nha Trang, Khánh
Hòa, theo Điều 5.1 của hợp đồng.
Nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ số tiền
62.000.000 đồng cho nguyên đơn.
3
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Chu Quỳnh Bảo N trình bày:
xác nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc và nội thất A với bà Vũ Đông V
ký hợp đồng thiết số 05/2017/HĐTKcty, nội dung gồm 04 giai đoạn như nguyên
đơn trình bày đúng. Sau khi nhận thanh toán đợt 1 của bà V 45.000.000
đồng, gồm tiền đặt cọc 10.000.000 đồng, Công ty Ađã tiến hành các công việc
theo hợp đồng.
Ngày 11 tháng 4 năm 2017, Công ty Agửi các mặt bằng thể hiện bố trí
phòng; Bản vẽ thiết kế sân vườn (thiết kế cổng, hàng rào, sân vườn, đường đi)
cho V xem. Đây chính thiết kế sở, phần bản nhất trong thiết kế thể
hiện bố cục công trình gồm cách phân bổ các phòng chức năng, số tầng, chiều
cao của công trình, cửa đi, cửa sổ … theo yêu cầu của bà V. Sau khi xem xét, bà
V đã đề nghị điều chỉnh một vài chỗ, và Công ty Ađã chỉnh sửa theo ý của bà V,
V đã chấp thuận vào ngày 13 tháng 4 m 2017. Do đó, dựa trên thiết kế
sở này, Công ty Asẽ triển khai thiết kế kiến trúc thiết kế nội thất theo hợp
đồng theo yêu cầu của bà V.
Ngày 13 tháng 4 năm 2017, các bên đồng ý triển khai bản vẽ thiết kế kỹ
thuật thi công và dựa trên thiết kế cơ sở mà bà V đã đồng ý và dựa trên kiến thức
chuyên môn, Công ty Ađã tiến hành thiết kế để thi công căn nhà. Còn bản vẽ
điện, nước đang trong quá trình triển khai và chưa hoàn tất thì Công ty Atạm
ngưng thực hiện do V chưa thực hiện thanh toán đợt 2 theo thỏa thuận tại
Điều 4(ii) của hợp đồng.
Cùng ngày 13 tháng 4 năm 2017, đối với bản vẽ phối cảnh (phối cảnh chi
tiết các tầng) (bao gồm tất cả các phòng) mà bà V đã yêu cầu triển khai, Công ty
Ađã hoàn thành bản thảo để V xem xét bổ sung, tuy nhiên, theo yêu cầu
hoàn thành sớm của V, Công ty Ađã làm việc trực tiếp với bà V để chỉnh sửa
trực tiếp nhưng các bên vẫn chưa thống nhất bản vẽ phối cảnh cuối cùng. Sau
khi bản vẽ phối cảnh được chấp thuận, Công ty Amới sở thực hiện bản vẽ
triển khai nội thất. Do đó, Công ty Achưa thực hiện bản vẽ triển khai nội thất
cho bà V.
Ngày 07 tháng 5 năm 2017, Công ty Ađã hoàn thành các bản vẽ thiết kế
theo hợp đồng như sau cho bà V:
Các mặt bằng thể hiện bố trí phòng;
Bản vẽ thiết kế sân vườn (thiết kế cổng, hàng rào, sân vườn, đường đi);
Phối cảnh 3D ngoại thất (mặt đứng);
Bản vẽ triển khai kiến trúc;
Bản vẽ triển khai kết cấu.
Về thù lao công việc mà Công ty Ađã thực hiện cho bà V.
Công ty Ađã hoàn thành 05 đầu mục công việc nêu trên trong tổng số 8
đầu mục ng việc theo thỏa thuận Hợp đồng. Do đó, V phải thanh toán cho
Công ty Agiá trị công việc Công ty ã hoàn thành theo yêu cầu của V
với số tiền là: (135.000.000: 8) x 5 = 84.375.000 đồng. Tuy nhiên, liên quan đến
phối cảnh 3D ngoại thất, Công ty Avà V chưa thống nhất đối với phần sân
thượng nên Công ty Achỉ yêu cầu bà V thanh toán số tiền 40.000.000 đồng, thay
vì phải thanh toán là 84.375.000 đồng.
4
Như vậy Công ty Ađã thực hiện một phần công việc cho bà V, nên không
đồng ý trả toàn bộ số tiền cho bà V, mà chỉ trả cho bà V số tiền 5.000.000 đồng.
Công ty Athừa nhận nhận của V số tiền 45.000.000 đồng vào tài
khoản của Công ty Arcbox, riêng số tiền 17.000.000 đồng V nói tiền
xin phép xây dựng thì Công ty Akhông nhận được. Do V chuyển vào tài
khoản của ông Nguyễn Hữu Nhật T, do ông T hiện nay nghỉ việc nên Công ty
Achưa liên lạc được với ông T. Số tiền này không thể hiện trong hợp đồng thiết
kế, thực tế Công ty Acũng không nhận được số tiền 17.000.000 đồng từ ông T.
Nên đề nghị bà V gặp ông T để giải quyết số tiền này.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ số
tiền 62.000.000 đồng.
Bị đơn chỉ đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng.
Phần tranh luận:
Người đại diện của nguyên đơn trình bày: Bị đơn không tôn trọng khách
hàng, làm chậm tiến độ thi công, chưa giấy phép xây dựng, bản vẽ thiết kế
giai đoạn 1 chưa có. Nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn số tiền 17.000.000 đồng
vào tài khoản của bị đơn, nên không snói rằng chưa nhận được số tiền
này, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền
62.000.000 đồng.
Người đại diện của bị đơn trình bày: Không đồng ý với ý kiến tranh luận
của đại diện nguyên đơn đưa ra, nếu V không đồng ý thì không thể có quá
trình làm việc giữa nguyên đơn và bị đơn hơn 1,5 tháng được. Đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận 5/8 đầu mục công việc bị đơn đã làm cho nguyên đơn. Bị
đơn chỉ đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng hỗ trợ một
phần đối với số tiền 17.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tiến hành thu thập
chứng cứ theo đúng quy của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Thẩm phán còn
vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Các đương sự thực hiện đúng quy định tại
Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Tiến độ công việc của bị đơn đã đạt được kết
quả nhất định, nên cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
bị đơn trách nhiệm tr lại số tiền đã nhận đ xin giấy phép xây dựng
17.000.000 đồng và 5.000.000 đồng, tổng cộng là 22.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vtố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Đông V yêu
cầu bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội thất A trả số tiền đã
thoả thuận theo hợp đồng thiết kế,cơ sở xác định quan hệ tranh chấp của vụ án
tranh chấp hợp đồng dân sự” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội
thất A trụ sở tại Quận 10 n vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
5
nhân n Quận 10, Thành phHồ CMinh phù hợp với quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng n sự năm 2015.
- Trong biên bản hòa giải ngày 21/8/2017 người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn có yêu cầu Tòa án triệu tập ông Nguyễn Hữu Nhật Ttham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày
06 tháng 11 m 2017
Tòa án ra quyết định yêu cầu thu thập chứng
cứ đối với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội thất A vviệc
giao nộp hợp đồng lao động của ông T cung cấp địa chỉ của ông T. Ngày
15/12/2017 bị đơn đã cung cấp địa chỉ của ông T. Theo địa chỉ Tòa án tiến hành
tống đạt nhưng do địa chỉ không rõ ràng nên không tống đạt được.
Ngày 25 tháng 01 năm 2018
Tòa án ra quyết định yêu cầu nguyên đơn cung
cấp chứng cứ địa chỉ khác của ông Nguyễn Hữu Nhật Tnhưng người đại diện
của nguyên đơn văn bản ngày 15/3/2018 trả lời không cung cấp được địa chỉ
nào khác của ông T. Do đó không sở để triệu tập ông Nguyễn Hữu Nhật
Tvào tham gia tố tụng với tư cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án này.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ hợp đồng thiết kế số 05/2017/HĐTKCty có cơ sở để xác định giữa
Vy Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội thất A hợp đồng
dịch vụ để Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội thất A thiết kế nhà cho
nguyên đơn. Giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập giao dịch dân sự và làm phát
sinh quyền, nghĩa vụ với nhau là phù hợp với quy định tại Điều 116 Bộ luật dân
sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đây
giao dịch dân sự có hiệu lực thi hành.
[2.1.1] Về hình thức của hợp đồng:
Hợp đồng thiết kế s05/2017/HĐTKCty được làm bằng văn bản, hai bên
tham gia hợp đồng người năng lực hành vi dân sự, được tên đóng
dấu của pháp nhân tham gia giao dịch phù hợp với quy định tại Điều 119 Bộ
luật dân sự năm 2015.
[2.1.2] Về nội dung của hợp đồng:
Theo quy định của các điều khoản trong hợp đồng sở để xác định
giữa nguyên đơn bị đơn thỏa thuận với nhau vviệc nguyên đơn cung cấp
thông tin, tài liệu về nhà đất cho bị đơn để bị đơn thực hiện công việc đúng chất
lượng, thời hạn và địa đểm cho nguyên đơn. Cụ thể bị đơn phải vấn, thiết kế
kiến trúc và nội thất tại công trình nhà ở kết hợp với kinh doanh tại địa chỉ số
C khu Phố X, Nguyễn Văn Hoa, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị đơn
bên cung ứng dịch vụ và thực hiện công việc cho nguyên đơn, nguyên đơn
bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bị đơn. Đây hợp đồng dịch
vụ được quy định tại Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015.
6
Xét, bị đơn đã nhận của nguyên đơn số tiền 62.000.000 đồng gồm tiền đặt
cọc 10.000.000 đồng, tiền công trình 35.000.000 đồng tiền hỗ trợ xin xây
phép xây dựng 17.000.000 đồng. Bị đơn đã thực hiện thiết kế được 5 đầu mục
công việc trong tổng số 8 đầu mục công việc cho nguyên đơn, gồm: Các mặt
bằng thể hiện bố trí phòng; Bản vẽ thiết kế sân vườn (thiết kế cổng, hàng rào,
sân vườn, đường đi); Phối cảnh 3D ngoại thất (mặt đứng); Bản vẽ triển khai kiến
trúc; Bản vẽ triển khai kết cấu. Như vậy bđơn đã thực hiện được gần 2/3 công
việc cho nguyên đơn phải nhận được sự trả công đúng với công sức phía bị
đơn bỏ ra.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 520 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không lợi cho bên sử dụng dịch
vụ thì bên sử dụng dịch vụ quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng,
nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vbiết trước một thời gian hp lý; bên
sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ bên cung ứng dịch vụ
đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.
Nguyên đơn lập luận rằng do bị đơn không đáp ứng được yêu cầu thiết kế,
làm chậm các tiến trình thiết kế, công việc thiết kế giai đoạn 1 chưa hoàn
thành,... để yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số tiền mà bị đơn đã nhận cho nguyên đơn
không căn cứ để chấp nhận. Mặt khác tại các điều khoản của hợp đồng,
không quy định nào để ràng buộc trách nhiệm của hai bên khi một bên vi
phạm, đây lỗi của nguyên đơn khi tham gia kết hợp đồng đã không lường
trước được những phát sinh thxảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Tại Điều 4 của hợp đồng quy định nghĩa vụ thanh toán đợt 1 là 45.000.000 đồng
(gồm tiền đặt cọc 10.000.000 đồng) ngay khi hợp đồng, như vậy bà V đã
hợp đồng mặc nhiên đồng ý với điều khoản này trong hợp đồng. Do nguyên
đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng với bị đơn nên nguyên đơn phải trả tiền
công theo phần dịch vụ bị đơn đã thực hiện cho nguyên đơn phù hợp với
tinh thần của Điều 520 Bộ luật dân sự nêu trên.
Việc bđơn cho rằng chỉ nhận của nguyên đơn stiền 45.000.000 đồng
không nhận được số tiền 17.000.000 đồng lập luận rằng đây số tiền
nguyên đơn xin giấy phép xây dựng trong hợp đồng không quy định,
số tiền này được gửi vào tài khoản của ông Nguyễn Hữu Nhật Thành.
Xét, khi kết hợp đồng, Điều 5 hợp đồng quy định thời hạn hình
thức thanh toán, bị đơn đồng ý đưa số tài khoản của ông Nguyễn Hữu Nhật Ttại
Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín Nha Trang, Khánh Hòa để bên
nguyên đơn thanh toán cho bị đơn. Thực tế tại bảng sao kê tài khoản của nguyên
đơn Đông V cho thấy V đã chuyển tiền vào tài khoản của ông T trong
các ngày: 23/3/2017, ngày 28/3/2017, ngày 21/4/2017. Nhưng bđơn chỉ thừa
nhận hai lần đầu là nhận được số tiền 45.000.000 đồng, còn lần sau cùng nguyên
đơn chuyển 17.000.000 đồng cũng vào tài khoản của ông T thì bđơn không
thừa nhận số tiền này trong i khoản của công ty mình không hợp , nên
không có căn cứ để chấp nhận.
7
Từ những phân tích trên, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu chi phí đối với công
việc mà bị đơn đã tiến hành cho nguyên đơn là 40.000.000 đồng, buộc bị đơn
trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận để xin giấy phép xây dựng
17.000.000 đồng 5.000.000 đồng bị đơn tự nguyện trả lại cho nguyên
đơn, tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 22.000.000 đồng.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Theo đó nguyên đơn
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án
chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự thẩm tương ứng với phần yêu cầu
của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117, 119, 513, 520 của B lut Dân s năm 2015;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin của nguyên đơn Vũ Đông V.
Buộc bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc và nội thất A trách
nhiệm trả cho nguyên đơn bà Vũ Đông V số tiền 22.000.000 đồng.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, người
phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ, thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối
với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
[2]. Án phí dân s thẩm là
3.100.000
đng:
[2.1]. Công ty trách nhiệm hữu hạn kiến trúc nội thất A phải chịu
1.100.000 đồng.
[2.2]. Bà Vũ Đông V phải chu 2.000.000 đng. Vũ Đông V đã nộp số tiền
tạm ứng án phí là 1.550.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001458 ny
09/6/2017 của Chi cc Thi hành án dân s Quận 10, Tnh ph H Chí Minh. Bà Vũ
Đông V còn phi np s tin 450.000 đồng.
Các đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
8
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
- VKSND Q.10;
- Chi cục THADS Q.10;
- Đương sự;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Tố Nhân
Tải về
Bản án số 354/2018/DS-ST Bản án số 354/2018/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất