Bản án số 351/2021/DSPT ngày 12/11/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp hợp đồng ủy quyền
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 351/2021/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 351/2021/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 351/2021/DSPT ngày 12/11/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp hợp đồng ủy quyền |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng ủy quyền |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 351/2021/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/11/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Tùng L3 với bà Nguyễn Thị L1. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 351/2021/DS-PT
Ngày 12 tháng 11 năm 2021.
“V/v: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền,
hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hồng.
Các thẩm phán: Ông Lê Hoàng Tấn.
Ông Chung Văn Kết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hiển - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2021/TLPT-DS
ngày 22 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển
nhượng và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2375/2021/QĐPT-DS
ngày 27 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1920 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 89/3 khu phố L, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Văn B, sinh năm 1977 (có
mặt).
Địa chỉ: 48/50, khu 4, phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương (Được ủy
quyền theo văn bản ngày 08 tháng 5 năm 2014).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huy L, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B53 Bis khu phố B 2, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh 1998 (có
mặt).
Địa chỉ: Số 12, đường E, khu TTHC D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Được
ủy quyền theo văn bản ngày 07 tháng 5 năm 2021).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Huy L: Ông Khưu
Thanh T và ông Nguyễn Văn H, Luật sư Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn G,
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (ông Tvà ông H có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Lạc O, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: Số B53 Bis, khu phố B 2, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà O: Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh 1998.
Địa chỉ: Số 12, đường E, khu TTHC D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (được
ủy quyền theo văn bản ngày 07 tháng 5 năm 2021).
3.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1923 (Chết ngày 31/8/2021).
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H gồm:
Bà L1ê Thị Ngọc Đ, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn L, bà
Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị P (các
đương sự có văn bản xin xét xử vắng mặt riêng ông Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị
P có mặt).
3.3. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số 98/3 khu phố L, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.4. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 9, phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp của ông L: Ông Nguyễn Văn L (có mặt).
3.5. Ông Nguyễn Tùng L3, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 9, phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương.
3.6. Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1953 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 106, ấp M, xã S, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.7. Bà L1ê Thị Thanh T1, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 153B, ấp M, xã S, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.8. Ông Đỗ Xuân B, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 134, tổ 16, khu phố Bình Phước A, phường B, thành phố T, tỉnh
Bình Dương.
3.9. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số C17, khu phố B 1, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.10. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A27B khu phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.11. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1964 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 89B/3 khu phố L, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.12. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 (vắng mặt).
3
Địa chỉ: Số 106, tổ 14, khu phố Đông Tư, phường Lái Thiêu, thành phố T,
tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của ông C: Ông Lê Văn N, sinh 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Số 05 Nguyễn Văn T, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.13. Bà Trịnh Thị Kim Y, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 16, khu phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.14. Phòng công chứng X tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
3.15. Bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 40D, khu phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.16. Văn phòng Công chứng Phạm Văn C (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1/179, khu phố H1, phường G, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3.17. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương (có văn bản xin xét xử
vắng mặt).
3.18. Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có văn bản
ngày 17/5/2021 (có văn bản xin xét xử vắng mặt).
3.19. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
4. Người kháng cáo:
4.1. Ông Nguyễn Huy L là bị đơn.
4.2. Bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lạc O, ông Nguyễn Văn Th là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Gia đình ông T có phần đất thửa
đất 16, tờ bản đồ số C2, tại khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng tháng 7/2010, con gái ông là Nguyễn Thị L1 có nhu cầu cần vốn để làm ăn
nên bà L1 mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 087495, số vào sổ
003859 QSDĐ/TTAT do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/12/2004 cho hộ
ông Nguyễn Văn T để thế chấp vay tiền. Gia đình ông T lập giấy ủy quyền cho bà
Nguyễn Thị L1 sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 087495 để giao
dịch bằng hợp đồng ủy quyền tại Phòng công chứng X tỉnh Bình Dương vào ngày
30/7/2010, số công chứng 581, quyển số 01. Khi ký hợp đồng ủy quyền cho bà L1,
gia đình ông T chỉ nghĩ giúp cho bà L1 thể chấp để vay vốn ngân hàng nhưng bà
L1 đã gian dối nhờ Phòng công chứng đến nhà để lập và công chứng hợp đồng ủy
quyền với ngôn ngữ lập lờ gây hiểu nhầm nội dung ủy quyền, bà L1 đã lợi dụng
việc không biết đọc, không biết viết, lợi dụng tình trạng bệnh tật, người cao tuổi
của ông T, bà H là người có quyền lợi trực tiếp và quyền quyết định đối với giao
dịch ủy quyền này.
Sau khi được ủy quyền, bà L1 đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất được
cấp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 087495 cho ông Nguyễn Huy L
vào ngày 14/3/2011, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Phòng công
4
chứng X công chứng số 611495, quyển số 01/TP/CC với giá chuyển nhượng là
800.000.000 đồng. Trên thực tế, bà L1 đã vay tiền của ông L với lãi suất cao nên bị
buộc phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo khả năng trả
nợ của bà L1 đối với khoản tiền vay từ ông L, khi nào bà L1 trả hết nợ và lãi vay
thì hai bên bà L1 và ông L sẽ hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho bà L1, nhưng sau khi ký hợp đồng
chuyển nhượng thì bà L1 không có khả năng trả lãi và nợ gốc cho ông L. Nên ngày
22/6/2012, ông Nguyễn Huy L đã làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất
16, tờ bản đồ số C2, tại khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương và được
Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02193 ngày 22/6/2012 cho ông Nguyễn
Huy L, diện tích 682,6m
2
trong đó có 187,9 m
2
đất thổ cư.
Sau đó ông L sử dụng căn nhà (nhà lớn) của ông T, thay đổi đồng hồ điện,
nước, làm hộ khẩu trong khi tranh chấp chưa được giải quyết xong. Ông T, bà H có
phản đối việc ông L chiếm nhà, đất nhưng phía ông L vẫn chiếm dụng để ở. Sau
khi ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L đã chuyển nhượng
cho hộ ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị Kim A, tặng cho bà Nguyễn Thị N
toàn bộ phần đất còn lại. Những người nhận chuyển nhượng đất, nhận tặng cho đất
của ông L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 13/5/2015 ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L trả giá
trị tài sản trên đất cho ông T gồm giá trị căn nhà, công trình phụ, sân cán bê tông,
hệ thống cửa cổng trụ bê tông, hàng rào lưới B40, tổng trị giá tài sản là
350.000.000 đồng. Sau đó ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô
hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 30/7/2010 tại Phòng công chứng X và vô hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L1 với ông L lập ngày 14/3/2011
tại Phòng công chứng X; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
03662 ngày 17/6/2014 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Th; hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CH 03437 ngày 02/4/2014 cấp cho bà Nguyễn Thị N. Riêng
phần đất do bà Nguyễn Thị Kim A nhận chuyển nhượng của ông L, sau đó bà Kim
A chuyển nhượng lại cho bà Y thì ông T không tranh chấp và không yêu cầu giải
quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Huy L trình bày: Theo văn bản ủy quyền của hộ gia
đình ông T đã ủy quyền cho bà L1 ngày 30/7/2010. Đến ngày 14/3/2011 bà Nguyễn
Thị L1 thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Huy L quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất 16, tờ bản đồ
số C2, tại khu phố L, phường An Thạnh, thị xã T, tỉnh Bình Dương với giá
800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng), hợp đồng chuyển nhượng được phòng
công chứng X, tỉnh Bình Dương chứng thực cùng ngày 14/3/2011. Sau khi nhận
chuyển nhượng đất, ông L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông
L đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Kim A diện tích 100,6m
2
, sau đó bà Kim
A đã chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Kim Yến. Ngoài ra ông L lập hợp đồng
tặng cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị N diện tích đất 286,8m
2
có căn nhà cấp 4 lớn và
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Th diện tích 295,2m
2
có căn nhà cấp 4 nhỏ.
5
Hiện nay bà Y, bà Nhờ và ông Th đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vì vậy ông L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà L1
thống nhất ý kiến và yêu cầu của ông Nguyễn Văn T. Không có yêu cầu độc lập
trong vụ án. Xin vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L1ê Thị Thanh T1 trình bày: Vào
năm 2012, ông Nguyễn Văn T và con gái là bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ trả cho
bà T1 số tiền 259.200.000 đồng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 09 ngày
13/01/2012 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình thi hành
án bà L1 trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Lúc này gia đình ông T có
phần đất và nhà nhưng hộ gia đình ông T đã ủy quyền cho bà L1 để bà L1 chuyển
nhượng cho ông L, nên bà T1 có làm đơn yêu cầu ngăn chặn việc chuyển nhượng đất
giữa bà L1 với ông L để đảm bảo việc thi hành án. Sau đó Chi cục Thi hành án thị xã
T đã có văn bản ngăn chặn chuyển nhượng nên ông T, bà L1 có đến thi hành án và
thỏa thuận với bà T1 là ông L sẽ đứng ra trả nợ thay ông T, bà L1 bằng cách ông L
cắt diện tích đất 100m
2
chuyển nhượng cho bà T1 để cấn trừ số tiền nợ, bà T1 đồng ý
nhận đất. Tuy nhiên, khi đó bà T1 có nợ tiền của bà Kim A nên bà T1 mới thỏa thuận
với ông T, ông L để chuyển nhượng sang bà Kim A cấn trừ khoản nợ của bà T1
luôn, không phải sang tên cho bà T1, các bên thống nhất phương án trên. Lúc này, thi
hành án mới giải tỏa việc đề nghị ngăn chặn. Vì vậy ông L mới lập thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó
ông L chuyển nhượng cho bà Kim A diện tích 100m
2
với số tiền là 259.000.000 đồng
để trả thay số nợ do ông T và bà L1 phải trả cho bà T1. Nay bà T1 không còn quyền
và nghĩa vụ gì trong vụ án và không có yêu cầu độc lập, nên bà xin vắng mặt khi Tòa
án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A trình bày:
Trước đây bà Kim A thỏa thuận mua đất từ bà L1ê Thị Thanh T1 mà trong đó có sự
thỏa thuận đồng ý của ông T đã bán đất cho ông L; ông L thi hành án dùm ông T
bằng cách trả tiền thi hành án là diện tích đất 100m
2
, sau đó bà T1 chuyển nhượng
cho bà Kim A. Tuy nhiên khi làm thủ tục chuyển nhượng thì bà T1 đồng ý để ông
L đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà Kim A và bà A đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó bà Kim A đã chuyển nhượng phần đất này
cho bà Trịnh Thị Kim Y và bà Y đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Kim Y trình bày: Bà Y
có nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị Kim A thuộc thửa 1499, tờ bản đồ
số 90 (C2) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH0265 do Ủy ban nhân
dân thị xã T cấp ngày 28/01/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim A, tại khu phố L,
phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Việc thỏa thuận từ tháng 5/2015 với giá
chuyển nhượng là 300.000.000 đồng. Bà Y đã đăng ký và được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06068
ngày 10/3/2017 cho bà Y. Khi nhận chuyển nhượng thì bà Y không biết đất đang
tranh chấp, việc mua đất là hoàn toàn ngay tình, trình tự, thủ tục nhận chuyển
nhượng đúng quy định của pháp luật nên đề nghị giữ nguyên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của bà Kim A và của bà Y đối với thửa 1499, tờ bản đồ 90 (C2).
6
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N có yêu cầu độc lập
trình bày: Bà Nhờ được con là ông L tặng cho diện tích 286,8m
2
trên phần đất có
căn nhà cấp 4 hiện nay bà đang sử dụng. Bà Nhờ đề nghị Tòa án công nhận quyền
sử dụng đất diện tích 286,8m
2
tại thửa 1536, tờ bản đồ số 90 (C2), được Ủy ban
nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03437 ngày
02/4/2014 cho bà Nguyễn Thị N.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Th có yêu cầu độc
lập trình bày: Năm 2014 ông Th có mua đất và nhà của ông Nguyễn Huy L và bà
Nguyễn Lạc O theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/5/2014
tại Văn phòng Công chứng An Tín, tỉnh Bình Dương và được Ủy ban nhân dân thị
xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03662 ngày 17/6/2014 đối với
thửa đất số 16, tờ bản đồ số 90 (C2), diện tích 295,2m
2
tại khu phố L, phường A,
thị xã T, tỉnh Bình Dương. Sau khi ông Th được cấp quyền sử dụng đất thì vợ
chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H vẫn ở trên căn nhà và đất của ông
Th. Lúc đầu, do ông thấy ông T và bà H già nên ông Th cho ở nhờ 3 tháng để tạo
điều kiện dọn đi. Tuy nhiên, ông Th đã nhiều lần yêu cầu ông T, bà H và con cháu
dọn đi nơi khác để giao trả nhà và đất cho ông Th nhưng ông T và bà H không thực
hiện.
Ông Th yêu cầu công nhận cho ông Th được quyền sử dụng đất tại thửa đất số
16, tờ bản đồ số 90 (C2), diện tích 295,2m
2
tại khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh
Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03662 ngày 17/6/2014
và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H tháo dỡ
tài sản trên đất và trả lại đất cho ông Th.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C có yêu cầu độc
lập trình bày: Ngày 24/9/2011 ông T có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Văn C phần đất diện tích 5m x 20m = 100m
2
(40m
2
thổ cư) tại thửa đất số
16, với số tiền là 160.000.000 đồng. Ông C đã thanh toán đợt 1 ngày 24/9/2011 số
tiền 20.000.000 đồng và đợt 2 ngày 28/9/2011 với số tiền 50.000.000 đồng, tổng
cộng là 70.000.000 đồng. Theo hợp đồng, số tiền còn lại khi công chứng sẽ thanh
toán thêm 80.000.000 đồng và khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ giao
thêm 10.000.000 đồng. Sau đó, ông C mới biết gia đình ông T đã chuyển nhượng
toàn bộ đất cho ông Nguyễn Huy L bao gồm phần chuyển nhượng cho ông C. Tại
thời điểm này, ông T hứa sẽ lấy tiền chuyển nhượng đất từ ông L để ưu tiên hoàn
trả và đền bù cho ông C trước nên ông C mới không ngăn chặn việc ra giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông L. Nhưng kể từ thời điểm đó đến nay, ông T vẫn
không thực hiện các cam kết và lời hứa về trách nhiệm hoàn trả và đền bù, thậm chí
tỏ ra bất hợp tác, thái độ dửng dưng vô trách nhiệm đối với ông C. Nay ông C yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc ông T phải hoàn trả cho ông C số tiền đã thanh toán là
70.000.000 đồng, tiền đền bù vì đơn phương chấm dứt hợp đồng là 70.000.000
đồng và tiền lãi phát sinh từ tháng 11/2011 đến ngày xét xử sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P,
ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Tùng L3 trình bày: Thống nhất lời trình bày của
nguyên đơn ông T.
7
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Lạc O trình bày: Bà
Nguyễn Lạc O là vợ ông Nguyễn Huy L. Bà O thống nhất lời trình bày của ông L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Xuân B trình bày: Ông Đỗ
Xuân B không liên quan đến tranh chấp giữa ông T với ông L. Do đó, ông B yêu
cầu vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
- Tại Văn bản số 76/PCC2 ngày 11/3/2015 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Phòng công chứng X tỉnh Bình Dương trình bày: Hợp đồng ủy quyền số 581,
quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Phòng công chứng X, tỉnh
Bình Dương chứng thực ngày 30/7/2010 được thực hiện công chứng ngoài trụ sở
Phòng công chứng (theo phiếu yêu cầu công chứng ngoài trụ sở của bà Nguyễn Thị
L1 với lý do bệnh không thể đến Phòng công chứng X, tỉnh Bình Dương để ký tên
(lăn tay) được. Bên ủy quyền là ông T, bà H và thành viên hộ gia đình bà Phương, bà
L1ụa, ông L3 với bên được ủy quyền là bà L1. Nội dung ủy quyền bà L1 được quyền
chuyển nhượng và thế chấp đối với quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số Đ 087495, số vào sổ 003859 QSDĐ/TTAT do Ủy ban nhân dân huyện T
cấp ngày 01/12/2004 cho hộ ông Nguyễn Văn T. Hợp đồng ủy quyền trên do các bên
tự nguyện giao kết hợp đồng; Công chứng viên đã chứng kiến các bên giao kết hợp
đồng, đọc lại hợp đồng và lăn tay, ký tên trước mặt công chứng viên. Tại thời điểm
công chứng các bên tham gia hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện giao kết hợp
đồng, không bị lừa dối, không bị ép buộc.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1495 quyển số
01TP/CC-SCC/HĐKD do công chứng viên Phòng công chứng X, tỉnh Bình Dương
chứng thực ngày 14/3/2011 giữa bên chuyển nhượng là bà L1, bên nhận chuyển
nhượng là ông L. Công chứng viên đã chứng kiến các bên giao kết hợp đồng, đọc
lại hợp đồng, đã đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng và ký tên vào hợp đồng trước
mặt công chứng viên. Tại thời điểm công chứng các bên tham gia giao dịch có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ, tự nguyện giao kết hợp đồng. Thời điểm ký kết hợp
đồng chuyển nhượng trên các bên không thỏa thuận về tài sản gắn liền với diện tích
đất chuyển nhượng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ X trình bày : Năm
2016, bà Xuân đến gặp ông L thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
nhưng khi lập giấy đặt cọc ông L ký và ghi tên Nguyễn Văn Th, thửa đất số 16, diện
tích 10m x 12,21m giá 545.000.000 đồng. Bà Xuân đã giao cho ông L số tiền
450.000.000 đồng nhưng sau đó do phát sinh tranh chấp nên không chuyển nhượng
được. Ông L đã trả lại cho bà Xuân số tiền 350.000.000 đồng, còn nợ lại
100.000.000 đồng. Bà Xuân không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Phạm Văn C
(Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N cũ) trình bày: Công chứng viên Văn phòng
công chứng Nguyễn Văn N công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số 1540, quyển số 10 TP/CCSCC/HĐGD ngày 06/12/2016. Trong đó bên chuyển
nhượng là bà Nguyễn Thị Kim A và bên nhận chuyển nhượng là bà Trịnh Thị Kim
Y, khi thực hiện công chứng hợp động chuyển nhượng này công chứng viên đã thực
hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật.
8
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T,
tỉnh Bình Dương trình bày: Ngày 01/12/2017, Ủy ban nhân dân phường Acó nhận
đơn xin xác nhận tình trạng bất động sản của bà Nguyễn Thị Kim A phần đất thuộc
thửa 1499, tờ bản đồ 90 (C2), diện tích 100,6m
2
tọa lạc tại khu phố L, phường A.
Hiện vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên
đơn ông T với bị đơn ông L thuộc thửa 16, tờ bản đồ 90 (C2), do phần đất bà Kim
A nhận chuyển nhượng từ ông L đã thành lập thêm thửa mới là 1499 nên Ủy ban
nhân dân phường không nắm được nên đã xác nhận tình trạng bất động sản cho bà
Kim A.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình
Dương trình bày: Qua xem xét thành phần hồ sơ lưu cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH02652 cấp ngày 28/01/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim A. Căn cứ theo
quy định của các Điều 49, 105, 106, 107 Luật Đất đai năm 2003; Điều 7 Nghị định
88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009; Điều 23 Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày
21/10/2009; Điều 12, 30 của Quyết định số 71/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2017
của UBND tỉnh Bình Dương; Công văn số 30/04/UBND-KT ngày 27/12/2012 của
Ủy ban nhân dân thị xã T, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH 02652 ngày 28/01/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim A là đúng trình tự,
thủ tục quy định.
Qua xem xét thành phần hồ sơ lưu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CH03427 cấp ngày 02/4/2014 cho bà Nguyễn Thị N. Căn cứ theo quy định của
Điều 49, 105, 106, 107 Luật Đất đai năm 2003; Điều 7 Nghị định 88/2009/NĐ-CP
ngày 19/10/2009; Điều 23 Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009; Điều
12, 30 của Quyết định số 71/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Bình Dương; Công văn số 3004/UBND-KT ngày 27/12/2012 của Ủy ban
nhân dân thị xã T, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CH 03437 ngày 02/4/2014 cho bà Nguyễn Thị N là đúng trình tự, thủ tục
quy định.
Qua xem xét thành phần hồ sơ lưu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
C03662 cấp ngày 17/6/2014 cho ông Nguyễn Văn Th. Căn cứ theo quy định của
Điều 49, 105, 106, 107 Luật Đất đai năm 2003; Điều 7 Nghị định 88/2009/NĐ-CP
ngày 19/10/2009; Điều 23 Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009; Điều
12, 30 của Quyết định số 71/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Bình Dương; Công văn số 3004/UBND- KT ngày 27/12/2012 của Ủy ban
nhân dân thị xã T, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CH 03662 ngày 17/6/2014 cho ông Nguyễn Văn Th là đúng trình tự, thủ tục
quy định.
Đối với yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của ông
Nguyễn Văn T thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh
Bình Dương trình bày: Ngày 10/3/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số CS 06063 cho bà Trịnh Thị Kim Y, nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị
9
Kim A là đúng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn
thi hành.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, 37, 38, 147, 157, 165 và 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2005; Điều 144, 411, 290 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với ông
Nguyễn Huy L về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng,
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
2. Tuyên bố chấm dứt hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn T, bà
Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Tùng L3 với bà
Nguyễn Thị L1 chứng thực ngày 30/7/2010.
3. Tuyên bố vô hiệu một phần (Trừ phần đất của bà Y) đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L1 với ông Nguyễn Huy L
chứng thực ngày 14/3/2011.
4. Tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O với ông Nguyễn Văn Th chứng thực
ngày 22/5/2014.
5. Tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O với bà Nguyễn Thị N chứng thực ngày
11/3/2014.
6. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02193/AT cấp ngày
22/6/2012 cho ông Nguyễn Huy L; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
03437 cấp ngày 02/4/2014 cho bà Nguyễn Thị N và cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH03662 cấp ngày 17/6/2014 cho ông Nguyễn Văn Th.
7. Buộc ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Th trả lại cho
hộ ông Nguyễn Văn T (gồm ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị
P, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Tùng L3) diện tích đất 558,7m
2
(có bản vẽ kèm
theo đã trừ diện tích đất của bà Y là 100,6m
2
).
8. Buộc hộ gia đình ông Nguyễn Văn T (gồm ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn
Thị H, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Ngọc Tùng Lâm) trả lại
cho ông L số tiền 722.429.000 đồng.
9. Buộc bà Nguyễn Thị L1 bồi thường cho ông Nguyễn Huy L số tiền
321.450.000 đồng.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về việc buộc hộ gia đình ông T trả
cho ông Nguyễn Văn C số tiền 120.295.000 đồng; về lãi suất chậm thi hành án; về
chi phí tố tụng; về án phí dân sự sơ thẩm; về quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy
định của pháp luật.
10
Ngày 05/10/2020 bị đơn ông Nguyễn Huy L; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lạc O, ông Nguyễn Văn Th kháng cáo bản
án sơ thẩm yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Duy L có bà Nguyễn Thị
Như Q đại diện theo ủy quyền và bà Nguyễn Lạc O giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn T. Buộc hộ gia đình ông T di dời để giao trả đất cho ông Th.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn
Th có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, buộc
ông T giao trả thửa đất số 16 cho ông Th sử dụng.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Văn T có ông Nguyễn Văn
Bảy đại diện theo ủy quyền đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực
hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đơn kháng
cáo của bị đơn ông L, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà O, bà Nhờ,
ông Th hợp lệ đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Các đương sự trong
vụ án đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và bà Nguyễn Thị H
chết có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H có đơn xin vắng
mặt. Nên đề nghị xét xử phúc thẩm vắng mặt các đương sự.
Về nội dung kháng cáo: Xét kháng cáo của ông L, bà O, bà Nhờ, ông Th là
chưa có căn cứ nên đề nghị bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lạc
O, ông Nguyễn Văn Th làm trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Người kháng cáo bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn Th có đơn xin xét
xử vắng mặt. Những người có quyền lợi liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H
chết có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Ông Nguyễn Văn T,
bà L1ê Thị Ngọc Đ, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị
L1, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị P có văn bản xin xét xử vắng mặt
riêng ông L2, bà Phương có mặt và ông T có ông B làm đại diện có mặt. Nên Tòa
án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt người kháng cáo, những người
11
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bà H theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Thị N, bà
Nguyễn Lạc O, ông Nguyễn Văn Th, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Nguồn gốc đất tranh chấp là của hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình
Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 003859 QSDĐ/TTAT ngày
01/12/2004 với diện tích 1.569m
2
trong đó có 160m
2
đất ở thuộc thửa đất số 16, tờ
bản đồ C2, khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Năm 2006, ông T tách thửa 16 chuyển nhượng cho các con là Nguyễn Văn L
diện tích 265,5m
2
(trong đó có 31,5m
2
HLBVĐT) và bà Nguyễn Thị P diện tích
266m
2
(trong đó có 31,5m
2
HLBVĐT). Còn lại có diện tích 1.037,5m
2
ODT + CLN
+ HLATĐT (có 160m
2
ODT) thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ C2, khu phố L,
phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Ngày 30/7/2010 hộ gia đình ông T gồm có ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị
H, các con, cháu Nguyễn Thị P, Nguyễn Văn L, Nguyễn Tùng L3 ký hợp đồng ủy
quyền cho con gái là bà Nguyễn Thị L1 được quyền đại diện hộ gia đình ông T
thực hiện chuyển nhượng, thế chấp diện tích 1.037,5m
2
thuộc thửa đất số 16, tờ bản
đồ C2, khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 003859 QSDĐ/TTAT được cấp ngày 01/12/2004. Hợp đồng
ủy quyền được Phòng công chứng X tỉnh Bình Dương chứng thực.
Sau khi nhận ủy quyền, bà Nguyễn Thị L1 lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Huy L thửa đất số 16, diện tích 1.037,5m
2
với
số tiền 800.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng được Phòng công chứng X
tỉnh Bình Dương chứng thực cùng ngày 14/3/2011. Khi thực hiện việc đo đạc thực
tế phần đất chuyển nhượng trừ phần đường đi và phần đất mộ thì thửa đất số 16 còn
lại diện tích 682m
2
đất CLN+ ODT (trong đó có 160m
2
đất ODT), ông L lập thủ tục
xin chuyển mục đích sử dụng đất ở thêm 27,9m
2
đất ODT. Ngày 22/6/2012 ông
Nguyễn Huy L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 682,6m
2
đất
(đất ở đô thị: 187,9m
2
; đất trồng cây lâu năm: 494,7m
2
).
[3.2] Nguyên đơn ông T và người đại diện hợp pháp của ông T yêu cầu vô
hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 30/7/2010 do Phòng công chứng X tỉnh Bình Dương
chứng thực và vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L1 với
ông L lập ngày 14/3/2011 với lý do thời điểm lập hợp đồng ủy quyền ông T, bà H
già yếu bệnh tật, không làm chủ được hành vi của mình. Tuy nhiên nguyên đơn ông
T không xuất trình được chứng cứ chứng minh ông T, bà H mất năng lực hành vi
dân sự hoặc có dấu hiệu bị lừa dối hay ép buộc khi lập văn bản ủy quyền ngày
30/7/2010.
Việc lập hợp đồng ủy quyền ngày 30/7/2010 của ông T, bà H cùng có sự
chứng kiến và đồng ý ủy quyền của các thành viên trong hộ gia đình gồm bà
Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Tùng L3 và bà Nguyễn Thị L1 là
những người có đủ năng lực hành vi dân sự. Công chứng viên phòng công chứng X
tỉnh Bình Dương đã chứng kiến các bên giao kết hợp đồng ủy quyền, các đương sự
có đọc lại hợp đồng và ký tên riêng bà H và ông T có lăn tay điểm chỉ trước mặt
12
Công chứng viên. Nội dung của hợp đồng ủy quyền là đồng ý giao cho bà L1 được
đại diện hộ gia đình ông T thực hiện việc chuyển nhượng, thế chấp thửa đất số 16.
Do đó có căn cứ xác định việc công chứng viên chứng thực hợp đồng ủy quyền
ngày 30/7/2010 là phù hợp theo quy định tại các Điều 35, 39, 41 Luật Công chứng
năm 2006.
Ông T và bà L1 cho rằng do bà L1 hỏi vay tiền của ông L nên bà L1 lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L để vay số tiền vay 800.000.000
đồng, trên thực tế bà L1 thực nhận số tiền 680.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T và
bà L1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà L1 lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông L ngày 14/3/2011 là giả tạo nhằm mục đích
thực hiện hợp đồng vay tiền vay giữa ông L với bà L1. Trong khi tại đơn khởi kiện
nguyên đơn ông T cũng thừa nhận do bà L1 cần vốn để làm ăn nên gia đình ông T
đã đồng ý ủy quyền cho bà L1 được đại diện hộ gia đình toàn quyền quyết định đối
với thửa đất 16 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ gia đình.
Nên không có căn cứ để chấp nhận lời nại ra của nguyên đơn cho rằng hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L1 với ông L ngày 14/3/2011 là giả tạo.
Mặt khác, tại thời điểm bà L1 chuyển nhượng đất cho ông L thì ông T và bà
L1 có nghĩa vụ trả cho bà T1 số tiền 259.000.000 đồng theo Quyết định của Tòa án
nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương nên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T có văn
bản 141/THA ngày 11/4/2012 gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường; Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất thị xã T (BL số 79) đề nghị tạm dừng việc xác nhận,
cho đăng ký giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T
để đảm bảo thi hành án đối với khoản tiền án phí mà bà L1 và ông T phải nộp Ngân
sách nhà nước là 3.240.000 đồng và số tiền phải trả cho bà L1ê Thị Thanh T1
259.200.000 đồng theo Quyết định số 09/DSST ngày 13/01/2012 của Tòa án nhân
dân thị xã T. Vì vậy bà T1, ông T, ông L đã tự thỏa thuận thi hành án với nhau, ông
L sẽ cắt một phần diện tích đất để trừ số nợ do ông T và bà L1 phải trả cho bà T1
nên bà T1 rút đơn yêu cầu thi hành án nên ngày 07/5/2012 Chi cục Thi hành án dân
sự thị xã T đã ra văn bản số 187/TA về việc giải tỏa ngăn chặn đối với quyền sử
dụng đất của hộ ông T. Sau đó Chi cục Thi hành án dân sự ban hành quyết định
đình chỉ thi hành án ngày 02/7/2012.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị Thanh T1 cũng đã có lời
khai “Khi bà biết ông T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L
thì bà có làm đơn ngăn chặn việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì ông L cam
kết trả nợ thay cho ông T và bà L1 bằng cách ông L cắt một phần diện tích 100m
2
bán cho bà Nguyễn Thị Kim A với giá 259.000.000 triệu đồng. Vì vậy Chi cục Thi
hành án dân sự thị xã T đã ra văn bản số 187/TA v/v giải tỏa ngăn chặn đối với của
hộ ông T nên ông L mới thực hiện được việc kê khai cấp quyền sử dụng đất. Sau khi
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L lập hợp đồng chuyển nhượng
đất cho bà Kim A và bà T1 là người nhận số tiền 259.000.000 đồng do bà A trả tiền
chuyển nhượng đất” (Bút lục 387, 388).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C cũng khai rằng:
“Ngày 24/9/2011 ông T có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông C phần đất diện tích
100m
2
và ông C đã thanh toán tổng cộng là 70.000.000 đồng. Sau đó, ông C mới
biết gia đình ông T đã chuyển nhượng toàn bộ đất cho ông L bao gồm phần đất
13
chuyển nhượng cho ông C. Lúc này ông T hứa sẽ lấy tiền chuyển nhượng đất từ
ông L để ưu tiên hoàn trả và đền bù cho ông C trước nên ông C mới không ngăn
chặn việc ông L kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Tại biên bản làm việc ngày 08/02/2012 (Bút lục 75) của Ủy ban nhân dân
phường Ađã ghi nhận ý kiến của ông T không có khiếu nại về việc ông L làm thủ
tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 16, tờ bản đồ C2, diện tích
1.037,5m
2
địa chỉ khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Từ những căn cứ trên, có căn cứ xác định hộ gia đình ông T lập hợp đồng ủy
quyền cho bà L1 ngày 30/7/2010 là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không
bị ép buộc và phù hợp quy định tại các Điều 142, 143, 144 Bộ luật Dân sự năm
2005. Sau khi nhận ủy quyền, bà L1 đại diện hộ gia đình ông T chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Huy L thửa đất số 16, diện tích 1.037,5m
2
là
đúng ý chí và nguyện vọng của gia đình ông T, phù hợp theo quy định của pháp
luật. Do đó xét yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền
ngày 30/7/2010 và vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
14/3/2011 giữa bà L1 và ông L là chưa có căn cứ để chấp nhận.
[3.3] Tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 193-2018 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã T đo vẻ đã xác định phần đất do bà Y, bà
Nhờ, ông Th được cấp quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
Ngày 12/01/2013 ông L và bà O lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho bà Nguyễn Thị Kim A diện tích 109,7m
2
. Bà A được Ủy ban nhân dân thị
xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02652/AT ngày 26/01/2013,
diện tích 100,6m
2
thuộc thửa mới 1499, tờ bản đồ 90, phường A. Sau khi bà A
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 06/12/2016, bà A chuyển
nhượng lại cho bà Trịnh Thị Kim Y. Ngày 10/3/2017, bà Y được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CH 398419 diện tích 100,6m
2
thuộc thửa 1499, tờ bản
đồ 90, phường Atheo đo đạc thực tế có diện tích 95,9m
2
. Ông T không tranh chấp
đối với diện tích hiện do bà Y đang sử dụng nên không đặt ra để giải quyết.
Ngày 11/3/2014 ông L, bà O lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để tặng
cho bà Nguyễn Thị N diện tích 286,8m
2
đất. Ngày 02/4/2014 bà Nhờ được Ủy ban
nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03437/AT, diện tích
286,8m
2
có 111,3m
2
đất ở tại đô thị, thuộc thửa mới 1536 tờ bản đồ số 90 khu phố
L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Theo đo đạc thực tế có diện tích 280,5m
2
.
Trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích 144,6m
2
hiện do bà Nhờ đang sử dụng để ở.
Ngày 22/5/2014 ông L, bà O lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông Nguyễn Văn Th diện tích 295,2m
2
(Trong đó có 76,6m
2
đất ở) và ông Th
được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
03662/AT ngày 17/6/2014, diện tích 295,2m
2
, thửa đất số 16 tờ bản đồ số 90 khu
phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Theo đo đạc thực tế có diện tích
278,2m
2
. Trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích 81,5m
2
hiện do Trên đang sử dụng.
Xét thấy ông L được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 02193/AT đối với thửa đất số 16, diện tích 682m
2
(trong đó có 187,9m
2
đất ở tại đô thị) vào ngày 22/6/2012. Sau đó ông L thực hiện việc chuyển nhượng
đất lại cho bà Kim A, ông Th và tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Nhờ đúng quy
14
định tại Điều 689 Bộ luật dân sự 2005. Sau đó ông Nguyễn Duy L, bà Nguyễn Thị
Kim A, bà Trịnh Thị Kim Y, ông Nguyễn Văn Th, bà Nguyễn Thị N được Ủy ban
nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có
căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 105, 106 Luật đất đai năm 2003, Nên không
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu hủy các Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 02193/AT ngày 22/6/2012 đối với thửa đất số 16, diện
tích 682m
2
cấp cho ông Nguyễn Duy L; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
03662 ngày 17/6/2014 cấp cho ông Nguyễn Văn Th; Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH 03437 ngày 02/4/2014 cấp cho bà Nguyễn Thị N là có căn cứ.
[3.4] Xét đối với phần tài sản của gia đình ông T xây dựng trên thửa đất 16 tờ
bản đồ C2 diện tích 682,6m
2
đất (Trong đó đất ở đô thị: 187,9m
2
; đất trồng cây lâu
năm: 494,7m
2
) địa chỉ khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương:
Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 14/3/2011 giữa
bà L1 và ông L đối với thửa đất số 16 không thể hiện việc chuyển nhượng đất và tài
sản gắn liền trên đất. Người đại diện hợp pháp của ông L cho rằng khi chuyển
nhượng đất có bao gồm cả phần căn nhà trên đất chứ không thể mua đất mà để lại
căn nhà tồn tại trên đất nhưng do nhà cấp 4 chưa có cấp quyền sở hữu nhà nên khi
lập hợp đồng chuyển nhượng không thể ghi vào hợp đồng chuyển nhượng ngày
14/3/2011.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của ông T khai trên đất
tranh chấp có 2 căn nhà cấp 4 do ông T xây dựng để ở, khi bà L1 chuyển nhượng
đất quyền sử dụng đất cho ông L không có đề cập đến giá trị tài sản trên đất. Khi
ông L chuyển đến ở và sửa chữa nhà ở trên đất thì ông T có ngăn cản. Tuy nhiên
ông T không đưa ra được chứng cứ để chứng minh. Trên thực tế, sau khi ông L
nhận chuyển nhượng đất, ông L đã nhận đất và trên đất có căn nhà cấp 4, ông L đã
lập hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị N phần đất diện tích 286,8m
2
đất có gắn căn
nhà, sau đó ông L có sửa chữa lại căn nhà để cho bà Nhờ mẹ ruột của ông L ở.
Phần căn nhà ở còn tại thửa 16 gắn trên diện tích 295,2m
2
ông L chuyển nhượng
cho ông Nguyễn Văn Th và hiện nay ông T đang sử dụng.
Xét lời khai của ông L phù hợp với lời khai của ông T tại biên bản hòa giải
ngày 24/10/2013 (Bút lục 748) của Ủy ban nhân dân phường A, ông T yêu cầu ông
L cho ông T và bà H ở tới khi chết rồi trả lại đất cho ông L nhưng người đại diện
theo ủy quyền của ông L không đồng ý mà yêu cầu di dời giao đất, ông L chấp
nhận hỗ trợ 50.000.000 đồng để xây dựng nhà. Tại các biên bản lấy lời khai
17/7/2014 (Bút lục 345, 346), ngày 18/11/2014 (Bút lục 344), ngày 07/01/2015
(Bút lục 342), ngày 15/5/2015 (Bút lục 341) đối với ông T và người đại diện của
ông T đều có lời khai không yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, chỉ yêu cầu ông L phải thanh toán lại giá trị tài sản trên đất cho gia đình
ông T. Đồng thời tại biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2014 đối với bà Nguyễn Thị P
(Bút lục 394), ông Nguyễn Văn L (Bút lục 396) là các con ông T đều thống nhất
theo yêu cầu của ông T về việc yêu cầu ông L phải thanh toán giá trị tài sản trên
đất. Tại đơn khởi kiện ngày 08/5/2014 ông T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông L trả cho ông T giá trị tài sản trên đất gồm nhà chính, nhà thờ, nhà
sau, nhà vệ sinh, nhà bếp, sân cán xi măng, hệ thống cửa cổng sắt, hàng rào lưới
B40 bằng 350.000.000 đồng. Xét căn nhà gắn trên thửa đất 16 mặc dù ông T chưa
15
được cấp quyền sở hữu nhà nhưng ông L không chứng minh được số tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có bao gồm giá trị đất và giá trị tài sản trên đất. Phần
phần tài sản căn nhà cấp 4 tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép,
nền lát gạch và các vật kiến trúc do gia đình ông T xây dựng trên đất là tài sản
không thể di dời, khi phát sinh tranh chấp, chủ hộ ông Nguyễn Văn T và thành viên
hộ gia đình ông T đều có yêu cầu ông L trả giá trị tài sản trên đất cho gia đình ông
T 350.000.000 đồng. Do đó để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của hộ gia đình ông T,
nên buộc ông L, bà O và bà Nhờ, ông Th có trách nhiệm liên trả cho hộ gia đình
ông T phần giá trị tài sản trên thửa đất 1536 và 16 theo quy định tại Điều 298 Bộ
luật dân sự 2005 là có căn cứ.
Tại biên bản định giá tài sản ngày 14/8/2014 (BL 628-631) đã xác định giá trị
tài sản trên đất như sau: Đối với phần tài sản gắn trên thửa đất số 1536 do bà Nhờ
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Nhà ở cấp 4 loại II tường xây
gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính, ốp lát
gạch men có trần diện tích 144,6m
2
do ông T xây dựng được định giá bằng tổng số
tiền 368.730.000 đồng. Phần xây dựng mới của ông L gồm 3 trụ cột cổng: 645.000
đồng; sân lát gạch men: 4.536.000 đồng; một giếng khoan: 1.875.000 đồng; bức
tường xây ngoài sân: 3.750.000 đồng; sân xi măng bên hông nhà: 3.456.000 đồng;
Nên buộc ông L, bà O và bà Nhờ có trách nhiệm liên đới trả cho hộ gia đình ông T
số tiền 368.730.000 đồng. Giao cho bà Nhờ được quyền sở hữu Nhà ở cấp 4 loại II
tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt
kính, ốp lát gạch men có trần diện tích 144,6m
2
: 3 trụ cột cổng; sân lát gạch men;
một giếng khoan; bức tường xây ngoài sân; sân xi măng bên hông nhà; hàng rào lưới
B40 gắn trên thửa đất 1536 hiện do bà Nhờ đang quản lý sử dụng là đúng quy định
của pháp luật; Đối với phần tài sản gắn trên thửa đất số 16 do ông Th đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất gồm nhà và các công trình phụ, vật kiến trúc khác do
ông T xây dựng được định giá gồm: Phần Nhà ở cấp 4 loại III tường xây gạch, mái
lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính, có trần diện
tích 81,5m
2
: 145.000.000 đồng; sân lát gạch tàu: 967.000 đồng; nhà tắm: 560.000
đồng; chuồng heo: 2.520.000 đồng; một giếng khoan: 1.875.000 đồng. Tổng cộng:
149.047.000 đồng. Nên Buộc ông L, bà O và ông Th có trách nhiệm liên đới trả cho
hộ gia đình ông T số tiền 149.047.000 đồng bà buộc hộ gia đình ông T có trách
nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Văn Th được quyền sử dụng thửa đất số 16 và giao
cho ông Th được quyền sở hữu các tài sản gắn trên đất gồm căn nhà cấp 4 loại III
tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt
kính, có trần diện tích 81,5m
2
; sân lát gạch tàu; nhà tắm; chuồng heo; một giếng
khoan gắn trên thửa đất là có căn cứ.
[4] Từ những nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của ông L, bà O, bà Nhờ
và ông Th, sửa bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu vô hiệu các hợp đồng: hợp đồng ủy quyền giữa
ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn L, ông
Nguyễn Tùng L3 với bà Nguyễn Thị L1 chứng thực ngày 30/7/2010; hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L1 với ông Nguyễn Huy L
chứng thực ngày 14/3/2011; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O với ông Nguyễn Văn Th chứng thực ngày
22/5/2014; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Huy L, bà
16
Nguyễn Lạc O với bà Nguyễn Thị N chứng thực ngày 11/3/2014; không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu hủy các Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Thị N, ông
Nguyễn Văn Th; Buộc ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O và Nguyễn Thị N
cùng có trách nhiệm liên đới trả cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T phần giá trị căn
nhà gắn trên thửa đất số 1536 tờ bản đồ số 90 tại khu phố L, phường A, thị xã T,
tỉnh Bình Dương bằng tổng số tiền là 368.730.000 đồng. Giao cho bà Nguyễn Thị
N được quyền sở hữu căn nhà ở cấp 4 loại II tường xây gạch, mái lợp tonle, khung
bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính, ốp lát gạch men có trần diện
tích 144,6m
2
và các tài sản vật kiến trúc khác gồm 3 trụ cột cổng; sân lát gạch men;
một giếng khoan; bức tường xây ngoài sân; sân xi măng bên hông nhà; hàng rào
lưới B40 gắn trên thửa đất 1536; Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P, ông
Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Tùng L3, bà Nguyễn Thị L1 có trách nhiệm di dời để
giao trả cho ông Nguyễn Văn Th diện tích 295,2m
2
theo đo đạc thực tế có diện tích
278,2m
2
và các tài sản gồm căn nhà cấp 4 loại III tường xây gạch, mái lợp tonle,
khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính, có trần diện tích 81,5m
2
và các công trình vật kiến trúc khác gồm sân lát gạch tàu; nhà tắm; chuồng heo;
một giếng khoan gắn trên thửa đất 16, tờ bản đồ số 90 tại khu phố L, phường A, thị
xã T, tỉnh Bình Dương. Buộc ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O và ông
Nguyễn Văn Th có trách nhiệm liên đới trả cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T giá
trị căn nhà và các công trình phụ, vật kiến trúc khác trên thửa đất 16 gồm: Phần
Nhà ở cấp 4 loại III tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát
gạch ceramic, cửa sắt kính, có trần diện tích 81,5m
2
; sân lát gạch tàu; nhà tắm;
chuồng heo; một giếng khoan bằng tổng số tiền là 149.047.000 đồng. Giao cho ông
Th được quyền sử dụng diện tích 295,2m
2
theo đo đạc thực tế có diện tích 278,2m
2
đất thuộc thửa 16 tờ bản đồ số 90 và được quyền sở hữu căn nhà cấp 4 loại III
tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa
sắt kính, có trần diện tích 81,5m
2
và các công trình phụ, vật kiến trúc khác gồm sân
lát gạch tàu; nhà tắm; chuồng heo; một giếng khoan gắn trên đất.
[5] Do sửa án sơ thẩm nên án phí sơ thẩm được xác định lại:
- Ông T phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận. Nhưng xét
ông T là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí nên được miễn án phí cho
ông T theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Ông L và bà O, ông Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần giá trị
tài sản phải trả cho gia đình ông T theo luật định.
- Bà Nhờ là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định điểm đ khoản
1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
17
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
[7] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông L, bà O, bà Nhờ, ông Th
được chấp nhận nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lạc O, ông
Nguyễn Văn Th mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) số tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm đã nộp.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đề
nghị không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên án sơ thẩm là chưa phù hợp với nhận
định trên.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về việc buộc hộ gia đình ông T trả
tiền cho ông Nguyễn Văn C; về chi phí tố tụng không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Huy L, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lạc O, ông Nguyễn Văn Th.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương.
2. Áp dụng các Điều 144, 144, 298, 689, 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Điều 105, 106 Luật đất đai năm 2003; các Điều 35, 39, 41 của Luật Công chứng
năm 2006; các Điều 12, 27, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T
yêu cầu vô hiệu các hợp đồng:
- Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn
Thị P, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Tùng L3 với bà Nguyễn Thị L1 được
chứng thực ngày 30/7/2010;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L1 với
ông Nguyễn Huy L được chứng thực ngày 14/3/2011;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Huy L, bà
Nguyễn Lạc O với ông Nguyễn Văn Th chứng thực ngày 22/5/2014;
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn
Lạc O với bà Nguyễn Thị N chứng thực ngày 11/3/2014.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T
yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02193/AT cấp ngày 22/6/2012 cho
ông Nguyễn Huy L;
18
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03437 cấp ngày 02/4/2014 cho
bà Nguyễn Thị N;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03662 cấp ngày 17/6/2014 cho
ông Nguyễn Văn Th.
2.3. Buộc Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O và bà Nguyễn Thị N cùng có
trách nhiệm liên đới trả cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T phần giá trị căn nhà gắn
trên thửa đất số 1536 tờ bản đồ số 90 tại khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình
Dương bằng tổng số tiền là 368.730.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám triệu bảy
trăm ba mươi ngàn đồng).
- Giao cho bà Nguyễn Thị N được quyền sở hữu căn nhà ở cấp 4 loại II tường
xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính,
ốp lát gạch men có trần diện tích 144,6m
2
; 3 trụ cột cổng; sân lát gạch men; một
giếng khoan; bức tường xây ngoài sân; sân xi măng bên hông nhà; hàng rào lưới
B40 gắn trên thửa đất số 1536 tờ bản đồ số 90 tại khu phố L, phường A, thị xã T,
tỉnh Bình Dương hiện do bà Nhờ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đang quản lý sử dụng đất (Kèm theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số
193-2018).
2.4. Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn L, ông
Nguyễn Tùng L3, bà Nguyễn Thị L1 có trách nhiệm di dời để giao trả cho ông
Nguyễn Văn Th diện tích 295,2m
2
theo đo đạc thực tế có diện tích 278,2m
2
và các
tài sản gồm căn nhà cấp 4 loại III tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt
thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính, có trần diện tích 81,5m
2
; sân lát gạch tàu;
nhà tắm; chuồng heo; một giếng khoan gắn trên thửa đất 16, tờ bản đồ số 90 tại khu
phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương hiện do ông Th đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (Kèm theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh
lý số 193-2018).
- Buộc Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Lạc O và ông Nguyễn Văn Th có trách
nhiệm liên đới trả cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T giá trị căn nhà và các công
trình phụ, vật kiến trúc khác trên thửa đất 16 gồm phần Nhà ở cấp 4 loại III tường
xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính,
có trần diện tích 81,5m
2
; sân lát gạch tàu; nhà tắm; chuồng heo; một giếng khoan
bằng tổng số tiền là 149.047.000 đồng. (Một trăm bốn mươi chín triệu không trăm
bốn mươi bảy ngàn đồng).
- Giao cho ông Nguyễn Văn Th được quyền sở hữu căn nhà cấp 4 loại III
tường xây gạch, mái lợp tonle, khung bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, cửa
sắt kính, có trần diện tích 81,5m
2
và các công trình vật kiến trúc khác gồm sân lát
gạch tàu; nhà tắm; chuồng heo; một giếng khoan gắn trên thửa đất 16 tờ bản đồ số
90 tại khu phố L, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
3.Về án phí:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn T. Hoàn trả cho ông T số
tiền nộp tạm ứng án phí gồm: Số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) theo
biên lai thu số 00824 ngày 06/02/2015, số tiền 4.375.000 đồng (Bốn triệu ba trăm
bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 08488 ngày 26/5/2015 và số tiền
19
600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0019388 ngày 07/7/2016
của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N. Hoàn trả cho bà Nhờ số
tiền nộp tạm ứng án phí 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số
0016937 ngày 12/01/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T nay là thành
phố T, tỉnh Bình Dương.
- Buộc Nguyễn Huy L và bà Nguyễn Lạc O phải nộp 17.259.000 đồng (Mười
bảy triệu hai trăm năm mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc ông Nguyễn Văn Th phải nộp 2.484.000 đồng (Hai triệu bốn trăm tám
mươi bốn ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 200.000
đồng (Hai trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo các biên lai thu số
0016936 ngày 12/01/2016 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã T nay là thành
phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Văn Th còn phải nộp 2.284.000 đồng (Hai
triệu hai trăm tám mươi bốn ngàn đồng) án phí.
- Ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lạc O, ông Nguyễn Văn
Th không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Huy L, bà Nguyễn
Thị N, bà Nguyễn Lạc O, ông Nguyễn Văn Th mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm
ngàn đồng) nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai thu số 0044782,
0044783, 0044784, 0044785 ngày 12/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Bình Dương.
4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về việc buộc hộ gia đình ông
Nguyễn Văn T trả tiền cho ông Nguyễn Văn C; về chi phí tố tụng không có kháng
cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng