Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST ngày 23/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 35/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST ngày 23/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 35/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lù Xuân Tờ;
2. Bà Triệu Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Là Cáo – Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu
vực 6 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 23/9/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2026/TLST-HNGĐ ngày
10/04/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 33/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/8/2026, Quyết định hoãn
phiên toà số 23/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07/9/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Triệu Mùi Nh, sinh năm: 2004; Địa chỉ: Thôn T, xã T1,
tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
2. Bị đơn: Anh Min Sử L, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Thôn T, xã T1, tỉnh Tuyên
Quang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 01/04/2026, bản tự khai ngày 15/04/2026 và quá
trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Triệu Mùi Nh trình bày:
Chị Triệu Mùi Nh và anh Min Sử L tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau
và đăng ký kết hôn ngày 11/10/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện H, tỉnh
Hà Giang (nay là Uỷ ban nhân dân xã T1, tỉnh Tuyên Quang). Sau khi kết hôn
anh chị về chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn sau đó vợ
chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày. Nguyên nhân
dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày là do mỗi người có quan điểm
sống, cách sống khác nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống không
hoà thuận thường xuyên xảy ra tranh cãi rất nhiều. Việc mâu thuẫn ngày một
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – TUYÊN QUANG
Bản án số: 35/2026/HNGĐ-ST
Ngày 23/9/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
trầm trọng, không thể hằn gắn, vợ chồng anh chị đã ly thân được một thời gian.
Sự mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được thôn hòa giải và gia đình khuyên bảo
nhưng không giải quyết được. Nay chị Nh cảm thấy cuộc sống hôn nhân không
được hạnh phúc tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được, vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Min Sử L.
Về con chung: Chị Triệu Mùi Nh và anh Min Sử L có hai đứa con chung tên
là: Cháu Min Thu H, sinh ngày 16/8/2021 và cháu Min Thu Tr, sinh ngày
12/11/2023. Vợ chồng ly hôn, chị Nh đề nghị giao cháu Min Thu H, sinh ngày
16/8/2021 cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến
khi cháu H đủ 18 tuổi. Cháu Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 giao cho anh Min
Sử L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu Tr
đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại đơn trình bày ý kiến
ngày 21/8/2026 của chị Nh, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về hôn
nhân, con chung và về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp.
Về tài sản chung, về công nợ chung, công sức đóng góp: Vợ chồng tự thỏa
thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên tòa xét xử vụ án Hôn
nhân gia đình giữa chị và anh Min Sử L được nên chị Nh có gửi đơn xin xét xử
vắng mặt đến Tòa án với nội dung giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
bổ sung trong đơn trình bày ý kiến.
* Tại bản tự khai ngày 18/5/2026 bị đơn anh Min Sử L trình bày: Anh Min
Sử L và chị Triệu Mùi Nh tự nguyện tìm hiểu nhau, hai bên đồng ý kết hôn và
thực hiện đăng ký kết hôn ngày 11/10/2023 tại UBND xã T2, huyện Hoàng Su
Phì, tỉnh Hà Giang (nay là Uỷ ban nhân dân xã T1, tỉnh Tuyên Quang). Sau khi
kết hôn vợ chồng anh chị chung sống với nhau tại Thôn 2 Phìn Sư, xã T2, huyện
H, tỉnh Hà Giang. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân tương đối hoà thuận, tuy
nhiên sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không
tìm được tiếng nói chung. Mặc dù chúng tôi có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức
trầm trọng chỉ là cãi vã trong cuộc sống hằng ngày. Nên anh L vẫn còn tình cảm
với chị Nh nên không đồng ý ly hôn với chị Triệu Mùi Nh.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung:
Cháu Min Thu H, sinh ngày 16/8/2021 và cháu Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023.
Do anh L không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu chia con chung. Trường hợp ly
hôn, anh L có yêu cầu giao cháu Min Thu H, sinh ngày 16/08/2021 cho chị Nh
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Cháu
Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 sẽ do anh L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng
nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Vợ chồng anh chị tự
thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang
tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử
3
(HĐXX), Thư ký Tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, khoản 4
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia
đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết
vụ việc về hôn nhân và gia đình: Đề nghị Toà án tuyên xử: Về hôn nhân: Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Mùi Nh. Đề nghị xử cho chị Triệu Mùi Nh được ly
hôn với anh Min Sử L. Về con chung: Giao cháu Min Thu H, sinh ngày 16/8/2021
cho chị Triệu Mùi Nh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu
cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Giao cháu Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 cho
anh Min Sử L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến
khi cháu Tr đủ 18 tuổi. Chị Nh và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị
Nh, anh L có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung,
công nợ chung: Không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Căn cứ
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội: Chị Triệu Mùi Nh được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn
và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Triệu Mùi Nh có
đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với bị đơn anh Min Sử
L, anh L có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã T1, tỉnh Tuyên Quang, theo quy định
tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Triệu
Mùi Nh có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do đang bận công việc không xin nghỉ
để về tham gia phiên tòa được, nên chị Nh có đơn xin được giải quyết vắng mặt
tại phiên toà.
[3] Bị đơn anh Min Sử L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng
vắng mặt tại phiên toà không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng
dân sự Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và tống đạt hợp lệ thông báo hoãn phiên toà
cho các đương sự. Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Tuyên Quang triệu tập hợp lệ lần
thứ hai, đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự cho các đương sự và tiến hành giải quyết, xét xử vụ án
theo thủ tục chung, bị đơn anh Min Sử L vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản
1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên
đơn chị Triệu Mùi Nh và bị đơn anh Min Sử L là có căn cứ.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai của
nguyên đơn chị Triệu Mùi Nh, bị đơn anh Min Sử L, các biên bản xác minh với đại
4
diện quản lý thôn, người thân hai bên gia đình chị Nh, anh L thấy rằng: Sau khi vợ
chồng đăng ký kết hôn vào ngày 11/10/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện H,
tỉnh Hà Giang (nay là xã T1, tỉnh Tuyên Quang), chị Nh và anh L chung sống với
nhau tại nhà bố đẻ của anh L là ông Min Phà Th và bà Pờ Thị Th1. Đến đầu năm
2024 thì anh chị đi làm ăn xa nhà đến nay, quá trình chung sống giữa anh chị với
ông bà rất ít vì anh chị chủ yếu đi làm ăn xa nên ông bà không nắm rõ được những
mâu thuẫn của hai vợ chồng, thời gian đầu anh chị đi làm xa thường xuyên gọi điện
về hỏi thăm gia đình con cái, hàng tháng đều gửi tiền về đều đặn cho ông bà chăm
lo cho các con, tuy nhiên được một thời gian sau anh chị có nói với ông bà về việc
mâu thuẫn của anh chị còn nguyên nhân thì ông bà không nắm được, dần dần chị
Nh ít trở về nhà để thăm các con và ông bà, anh chị có gọi điện về hỏi thăm gia
đình và con cái nhưng không thấy nhắc đến nhau, không thấy hỏi thăm gì về nhau.
Đến tháng 3/2026 chị Nh quay về nhà và báo với ông bà về việc mâu thuẫn của anh
chị đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên chị muốn ly
hôn với anh L, ông bà có khuyên bảo nhưng chị Nh quyết ly hôn nên ông Th và bà
Th1 không thể ngăn cản để mặc chị tự quyết định. Hiện tại cả hai anh chị đều đi
làm ăn xa nhà, mỗi người một nơi không ăn ở cùng nhau, không cùng nhau đi làm,
không quan tâm đến cuộc sống của nhau, còn làm gì, ở đâu thì ông bà không nắm
được. Qua xác minh với trưởng thôn, công an xã và bố mẹ anh L là ông Th và bà
Th1, từ thời điểm chị Nh đi làm ăn xa thi thoảng chị vẫn quay trở về địa phương,
về nhà bố mẹ đẻ chị để ở nhưng không quay về chung sống với anh L. Hiện nay,
chị Nh và anh L không ở với nhau, mỗi người một nơi, không ai quan tâm, hỏi han
đến nhau và không biết nhau đang làm công việc gì. Chị Nh và anh L đi làm ăn xa
không có mặt tại địa phương, thi thoảng anh chị vẫn trở về nhà trên địa bàn Thôn
T, xã T1, tỉnh Tuyên Quang một thời gian ngắn rồi lại đi làm thuê. Thời gian xa
nhà anh chị có gọi điện về hỏi thăm tình hình sức khỏe của bố, mẹ và các con,
nhưng không có hỏi về tình hình của nhau. Xét thấy vợ chồng chị Nh, anh L đã
sống ly thân nhau mà không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau;
người nào biết bổn phận của người đó, không có sự liên lạc, vun đắp, chia sẻ cùng
nhau. Như vậy là cả hai vợ chồng đều vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của
vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị
quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Triệu Mùi Nh được ly hôn với anh Min
Sử L là có cơ sở.
[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Nh, anh L có 02
(Hai) con chung là cháu Min Thu H, sinh ngày 16/8/2021 và cháu Min Thu Tr,
sinh ngày 12/11/2023. Trường hợp ly hôn chị Nh và anh L đều có nguyện vọng
giao cháu Min Thu H, sinh ngày 16/8/2021 cho chị Nh là người trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Giao cháu Min
Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 cho anh L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục cháu cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi. Hiện nay cháu Min Thu H, sinh
5
ngày 16/8/2021 đang ở với chị Nh tại nhà bố mẹ đẻ chị từ tháng 3/2026 đến nay
do chị Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có sự giúp đỡ từ bố mẹ chị là ông
bà ngoại của các cháu, còn cháu Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 hiện đang ở
với anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có sự giúp đỡ từ ông Th và bà Th1
là ông bà nội của các cháu. Tại biên bản xác minh đối với ông Th và bà Th1
cùng đồng ý nguyện vọng của chị Nh và anh L về con chung sau khi ly hôn. Hội
đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, đảm bảo sự ổn định, hạn chế
sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của
Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải
quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Min Thu H, sinh ngày
16/8/2021 cho chị Nh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu
cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Giao cháu Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 cho
anh L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu
Tr đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Triệu Mùi Nh và anh Min Sử L được quyền đi lại,
thăm nom con chung không ai được cản trở.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
chị Triệu Mùi Nh và bị đơn anh Min Sử L đều không yêu cầu bên nào phải cấp
dưỡng nuôi con chung. Xét thấy ý kiến đề nghị của các bên là hoàn toàn tự
nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần
được Hội đồng xét xử ghi nhận. Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không
cố định. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu
cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
[7] Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Các bên không
yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần đề
cập xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Ý kiến, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 -
Tuyên Quang tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.
[9] Về án phí: Chị Triệu Mùi Nh thuộc trường hợp đồng bào dân tộc thiểu
số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án
phí do đó được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định điểm đ khoản
1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Triệu Mùi Nh, bị đơn anh Min
Sử L có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều
147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản
6
3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và
gia đình; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm đ
khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1414 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Mùi Nh, xử cho
chị Triệu Mùi Nh được ly hôn với anh Min Sử L.
2. Về con chung: Giao cháu Min Thu H, sinh ngày 16/8/2021 cho chị Triệu
Mùi Nh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi
cháu H đủ 18 tuổi. Giao cháu Min Thu Tr, sinh ngày 12/11/2023 cho anh Min Sử
L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu Tr
đủ 18 tuổi. Chị Nh và anh L không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, vì quyền lợi
của con chung sau này một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định.
3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không
xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Triệu Mùi Nh được miễn nộp toàn bộ tiền án
phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn anh Min Sử L không phải chịu án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Triệu Mùi Nh, bị đơn anh Min
Sử L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6, 7 và
36 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại điều 34 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND Khu vực 6 – Tuyên Quang;
- UBND xã T1, tỉnh Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất