Bản án số 35/2022/DS-PT ngày 28/09/2022 của TAND tỉnh Ninh Thuận
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 35/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 35/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 35/2022/DS-PT ngày 28/09/2022 của TAND tỉnh Ninh Thuận |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Ninh Thuận |
| Số hiệu: | 35/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Nguyễn Cảnh P, bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị L tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH NINH THUN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm c:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu
- Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Anh Trang
Ông Hàng Lâm Viên
- Thư ký phiên tòa: B V Thị Hi Thu - Thư k Ta n nhân dân tnh Ninh
Thun.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Ninh Thun tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại Ta n nhân dân tnh Ninh Thun xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2022/TLPT-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022
về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bn án dân sự sơ thẩm số 01/2022/DS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2022 của
Tòa án nhân dân huyện B, tnh Ninh Thun bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2022/QĐ-PT ngày 31
tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2022/QĐ-PT ngày 16 tháng
9 năm 2022, giữa cc đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Cnh P - Sinh năm: 1965;
Bà Nguyễn Thị M - Sinh năm: 1965;
Địa ch: Khu A, Phường C, thành phố R, tnh Khánh H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, bà M: NBV1 - Lut sư
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH NINH THUN
Bn án số: 35/2022/DS-PT
Ngày: 28-9-2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
thuộc văn phng lut sư H - Đoàn lut sư tnh Khánh Hòa.
Địa ch: Số X đường T, KĐT Y, phường U, thành phố N, tnh Khánh Hòa.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1965.
Địa ch: Thôn Đ, xã N, huyện B, tnh Ninh Thun.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà NLQ1 - Sinh năm: 1990;
Địa ch: Thôn D, xã Th, thành phố R, tnh Khánh Hòa.
3.2. Ông NLQ2 - Sinh năm: 1987;
3.3. Ông NLQ3 - Sinh năm: 1994.
Cùng địa ch: Thôn Đ, xã N, huyện B, tnh Ninh Thun.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L, bà NLQ1, ông NLQ2, ông
NLQ3: NBV2 - Lut sư thuộc Văn phòng lut sư N - Đoàn lut sư tnh Khánh Hòa.
Địa ch: Số Z đường G, thành phố N, tnh Khánh Hòa.
4. Người khng co: Ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M là nguyên đơn.
(Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v người bo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có mặt tại phiên tòa. Riêng bà NLQ1
vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 26/11/2021, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và
tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Cảnh P, bà Nguyễn Thị M trình bày:
Ông P và bà M là vợ chồng. Tháng 7/2019, vợ chồng ông P có nhn chuyển
nhượng của bà Nguyễn Thị L 5000m
2
đất (50m x 100m) thuộc một phần thửa đất
số 01, tờ bn đồ 00 xã N với gi 600.000.000đ (phần đất 5000m
2
ny sau đó đã
được bà L tách ra thành thửa 89, tờ bn đồ số 11 xã N, huyện B). Phần đất nhn
chuyển nhượng có vị trí tứ cn: Đông giáp quốc lộ 273, Tây giáp đất trống (vô
chủ); Nam giáp đất bà L; Bắc giáp đất ông Nguyễn Châu. Việc thỏa thun chuyển
nhượng đất và giá c của phần diện tích 5000m
2
này có vợ chồng ông P, bà L và
con trai bà L là ông NLQ3 tham gia.
Sau khi thỏa thun giá chuyển nhượng xong, vợ chồng ông P đã giao cho bà
L 200.000.000đ, phần tiền 200.000.000đ ny được giao lm hai đợt: đợt 1 ngày
3
28/7/2019 giao 50.000.000đ, đợt 2 ngày 30/7/2019 giao 150.000.000đ. Khi giao số
tiền lần đầu 50.000.000đ giữa vợ chồng ông P và bà L có làm một tờ giấy viết tay
với tiêu đề “Giấy đặt cọc” - nội dung là tr trước 50.000.000đ v tạm giao thêm
150.000.000đ, tuy nhiên theo ông P trình by thì đây không phi l đặt cọc mà là
số tiền thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, trong giấy đặt cọc này, các bên còn thỏa
thun sau khi vợ chồng ông P giao đủ 200.000.000đ tiền cọc thì bà L sẽ rút giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) của thửa 01 đang
thế chấp ở Ngân hàng về để làm thủ tục tách thửa và sang tên cho vợ chồng ông P
đối với diện tích đất 5000m
2
mà vợ chồng ông P nhn chuyển nhượng. Giấy đặt
cọc này ch có một mình bà L ký.
Ngày 25/12/2019, vợ chồng ông P giao thêm cho bà L 200.000.000đ. Tại
buổi giao tiền, có mặt bà L và con gái bà L là NLQ1.
Ngày 05/3/2020, vợ chồng ông P tiếp tục giao thêm cho bà L 150.000.000đ.
Lần giao tiền này có các con bà L là NLQ2, NLQ1 chứng kiến và ký vào giấy giao
tiền.
Như vy, tổng cộng số tiền vợ chồng ông P đã giao cho bà L là
550.000.000đ.
Ngày 07/3/2020, bà L cùng ông NLQ3 tiến hành xc định ranh giới của phần
đất 5000m
2
bằng cọc gỗ và giao phần đất này cho vợ chồng ông P. Sau đó, vợ
chồng ông P đã thuê ông Ân ủi đất, tuy nhiên mới ủi được 02 ngày thì bà L không
cho ủi nữa.
Sau khi nghe ông Ân thông báo, vợ chồng ông P có đến gặp bà L, lúc này bà
L yêu cầu vợ chồng ông P phi giao cho bà 50.000.000đ là số tiền còn lại của hợp
đồng bà mới cho ủi đất, vợ chồng ông P không đồng ý với yêu cầu trên của bà L
mà yêu cầu bà L phi cùng vợ chồng ông P đi k hợp đồng chuyển nhượng và làm
thủ tục sang tên thì mới giao 50.000.000đ, do không thống nhất được về việc giao
50.000.000đ cn lại của hợp đồng nên hai bên đã xy ra tranh chấp.
Nay ông P, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà L tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã k kết ngy 28/7/2019 đối với diện tích
5.000m
2
thuộc thửa 89.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông P, bà M trình bày: Trường hợp Tòa án không
chấp nhn yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông/bà về việc buộc bà L tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông/bà đề nghị Tòa
án gii quyết hu qu của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
4
theo giá thị trường hiện nay l 428.000đ/m
2
v xc định lỗi làm cho hợp đồng vô
hiệu hoàn toàn thuộc về bà L.
Đối với việc vợ chồng ông P đã thuê ông Ân ủi đất thì do vợ chồng ông P
không biết họ tên v địa ch cụ thể của ông Ân như thế nào nên ông P, bà M không
yêu cầu Tòa án gii quyết số tiền công ủi đất giữa vợ chồng ông P và ông Ân trong
vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị L trình
bày:
Phần diện tích đất 5000m
2
đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 01, tờ
bn đồ số 00 xã N, huyện B có nguồn gốc là do bà và chồng là ông X (đã chết năm
2007) khai hoang năm 1998.
Bà và ông X kết hôn năm 1987 có 03 người con chung là NLQ3, NLQ2 và
NLQ1. Vào thời điểm vợ chồng bà khai hoang thửa 01 thì các con bà còn nhỏ nên
không có đóng góp gì.
Năm 2019, b chuyển nhượng phần diện tích 5000m
2
đất nói trên cho vợ
chồng ông P với gi 600.000.000đ (12.000.000đ/01m ngang), diện tích các bên
thỏa thun chuyển nhượng được tính từ hướng bắc của thửa 01 (giáp đất ông
Nguyễn Châu và ông Thạch Linh) có chiều ngang 50m và chiều dài kéo dài hết đất
là 100m.
Khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông P thì thửa 01 đã có GCNQSDĐ cấp
2011 mang tên Hộ bà Nguyễn Thị L. Tại thời điểm năm 2011, hộ gia đình bà gồm
bà - Nguyễn Thị L, các con - NLQ2, NLQ3, NLQ1.
Tại thời điểm chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông P thì GCNQSDĐ thửa
01 đang thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B và
bà có thông báo cho vợ chồng ông P biết về sự việc ny. Khi đó, bà và ông P thống
nhất thỏa thun: vợ chồng ông P phi đặt cọc trước cho bà 200.000.000đ để bà tr
nợ ngân hàng và lấy GCNQSDĐ về. Thực tế, số tiền 200.000.000đ ny được vợ
chồng ông P giao làm 02 lần, lần thứ 1 giao 50.000.000đ vo ngày 28/7/2019; lần
thứ 2 giao 150.000.000đ vào ngày 30/7/2019. C hai lần giao nhn số tiền đặt cọc
nói trên đều làm giấy tay, trong đó: giấy nhn cọc lần 1 do bà giữ và đã nộp lại cho
Tòa án; giấy nhn cọc lần 2 thì giao cho phía bên bà M - ông P giữ.
Sau khi nhn đủ 200.000.000đ tiền cọc từ vợ chồng ông P, bà đã tr nợ cho
ngân hàng và lấy GCNQSDĐ thửa 01 về, sau đó bà đi làm thủ tục tách phần đất
5
5000m
2
chuyển nhượng cho ông P v được cấp GCNQSDĐ mới là thửa 89, tờ bn
đồ số 11, diện tích 4.903,1m
2
.
Ngày 26/12/2019, ông P tiếp tục giao cho b 150.000.000đ tiền chuyển
nhượng đất, khi giao số tiền này giữa bà và ông P có làm giấy tờ, giấy này được
lp thành 01 bn, còn ai viết thì bà không nhớ.
Đến ngày 05/3/2020, ông P tiếp tục giao thêm 200.000.000đ, hai bên có lm
giấy giao tiền lp thành 01 bn, bà l người trực tiếp viết giấy và giao cho phía ông
P giữ.
Tổng cộng số tiền bà đã nhn của vợ chồng ông P l 550.000.000đ (Gồm c
tiền đặt cọc và tiền thực hiện hợp đồng). Việc giao nhn số tiền 550.000.000đ ny
giữa bà và vợ chồng ông P thì các con bà không biết, ch có lần giao tiền cuối cùng
ngày 05/3/2020 là có con bà - NLQ2 và NLQ1 biết và cùng ký tên vào giấy giao
nhn tiền.
Toàn bộ số tiền chuyển nhượng thửa 89 bà dùng để tr nợ riêng của bà với
ngân hàng theo hợp đồng tín dụng năm 2016 và mua cây giống, phần còn lại thì bà
đang giữ. Hiện nay GCNQSDĐ thửa 89, bà không thế chấp ở ngân hàng nào c.
Nay, ông P, bà M khởi kiện yêu cầu bà phi tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng nói trên thì b không đồng ý, vì khi bà chuyển nhượng thửa 89 cho
vợ chồng ông P, bà không thông báo cho các con bà biết và việc chuyển nhượng
đất giữa hai bên ch là thỏa thun miệng, chưa lp hợp đồng, b cng chưa tiến
hành giao đất trên thực tế cho vợ chồng ông P như ông P đã trình by, vì vy b đề
nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà và vợ chồng ông P là vô
hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan với bên bị đơn ông NLQ3, ông NLQ2, bà NLQ1 trình bày:
Các ông/bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của mẹ các ông/bà là bà
Nguyễn Thị L về nguồn gốc đất, cng như quá trình chuyển nhượng đất cho vợ
chồng ông P, bà M.
Các ông/bà xác nhn khi mẹ các ông/bà chuyển nhượng 5000m
2
đất của
thửa 89 thì không thông báo cho các ông/bà biết, riêng đối với giấy nhn tiền ngày
05/3/2020 có chữ ký của ông NLQ2 và bà NLQ1 thì ông NLQ2, bà NLQ1 thừa
nhn có ký tên vào tờ giấy này, tuy nhiên ông NLQ2, bà NLQ1 cho rằng ch ký mà
không đọc lại nội dung. Vì vy, các ông/bà NLQ2, NLQ3, NLQ1 không đồng ý
với việc mẹ các ông/bà chuyển nhượng thửa 89 cho vợ chồng ông P v đề nghị
6
Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa mẹ các ông/bà và vợ chồng ông P
là vô hiệu.
Tại cấp phúc thẩm, các ông/bà NLQ2, NLQ3, NLQ1 trình bày ý kiến đối với
đơn yêu cầu độc lp m cc ông/b đã nộp tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau:
Các ông/bà yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem đơn yêu cầu độc lp của các
ông/bà đã nộp tại giai đoạn sơ thẩm như l bn trình bày ý kiến, các ông/bà không
yêu cầu Tòa án gii quyết yêu cầu độc lp này và cng không có khiếu nại gì về
việc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu độc lp của các ông/bà vì các
ông/b đồng ý với bn n sơ thẩm và không kháng cáo.
Tại bn án dân sự sơ thẩm số 01/2022/DS-ST ngày 27/4/2022 của Tòa án
nhân dân huyện B quyết định:
Căn cứ vào khon 9 Điều 26, điểm a khon 1 Điều 35, điểm c khon 1 Điều
39, khon 1 Điều 147, Điều 165, Điều 228 Bộ lut tố tụng dân sự; Điều 26, 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội; điểm a khon 1 Điều 167, khon 3 Điều 188 Lut đất đai năm 2013,
khon 2 Điều 117, khon 2 Điều 119, Điều 131, Điều 502, Điều 503 Bộ lut dân sự
năm 2015.
Không chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn
Thị M về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 89
tờ bn đồ số 11 diện tích 4.903m
2
.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy đặt cọc tiền mua
đất ngày 28/7/2019 giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị L và bên nhn
chuyển nhượng là ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M vô hiệu.
Buộc bà Nguyễn Thị L phi hoàn tr cho ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn
Thị M số tiền 1.227.333.000đ.
Ngoài ra bn án còn tuyên về án phí, lãi suất chm thi hành án và quyền
kháng cáo của cc bên đương sự.
Ngày 06/5/2022, ông Nguyễn Cnh P và bà Nguyễn Thị M kháng cáo toàn
bộ bn n sơ thẩm số 01/2022/DS-ST ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện
B. Nội dung kháng cáo: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ n theo hướng
chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông P, bà M; buộc bà Nguyễn Thị L tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 89, tờ bn đồ số 11 xã N
theo như nội dung đã cam kết tại giấy đặt tiền cọc mua đất.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn tranh lun yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhn toàn bộ kháng cáo của
ông P, bà M, sửa bn án sơ thẩm theo hướng công nhn hợp đồng chuyển nhượng
5000m
2
đất thuộc thửa 89 giữa vợ chồng ông P và bà L, buộc bà L tiếp tục thực
hiện hợp đồng như đã cam kết. Trường hợp Ta n xc định hợp đồng này là vô
hiệu thì đề nghị buộc bà L phi hoàn tr số tiền chuyển nhượng do hợp đồng vô
hiệu theo giá thị trường l 428.000đ/m
2
với lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu hoàn
toàn thuộc về bà L (100% lỗi).
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với bên bị đơn đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhn toàn bộ kháng cáo của ông P, bà M, giữ nguyên bn n sơ
thẩm.
Tại phiên ta, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Ninh Thun phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư k v những người tham gia tố
tụng đã thực hiện đúng cc quy định của Bộ lut tố tụng dân sự từ khi Tòa án cấp
phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử tại phiên tòa hôm nay.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n, đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhn một phần kháng cáo của ông P, bà M. Sửa bn n sơ
thẩm theo hướng tăng số tiền bồi thường cho ông P, bà M.
NHN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không
rút hay thay đổi, bổ sung nội dung kháng cáo. Cc đương sự không thỏa thun
được với nhau về việc gii quyết vụ án. Đơn khng co của nguyên đơn hợp lệ nên
được xem xét, gii quyết. Tại biên bn lấy lời khai ngày 21/6/2022 và tại phiên tòa
hôm nay, ông P, bà M trình bày rõ nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét công nhn hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông P, bà M với bà L và
buộc bà L tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, trường hợp không thể tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng do hợp đồng bị vô hiệu thì đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng theo giá thị trường v xc định lỗi của phía bà L là toàn bộ.
[1.2] Tại giai đoạn sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông
NLQ2, ông NLQ3, bà NLQ1 có đơn yêu cầu độc lp - đề nghị hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L với ông P, bà M nhưng Tòa án cấp sơ
8
thẩm đã không thụ lý, gii quyết yêu cầu này là vi phạm thủ tục tố tụng, tuy nhiên
tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, ông NLQ3, ông NLQ2, bà NLQ1
đều xc định các ông/b đã nhn được bn n sơ thẩm, đồng ý với bn n sơ thẩm
và không kháng cáo, đồng thời đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét, gii
quyết đơn yêu cầu độc lp này của các ông/bà mà ch coi đây là bn trình bày ý
kiến. Xét, đây l sự tự nguyện của các ông/bà NLQ2, NLQ3, NLQ1 nên Hội đồng
xét xử chấp nhn lời trình bày này.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xc định quan hệ pháp lut cần gii quyết “Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn
Thị M có nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhn hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất số 89, tờ bn đồ số 11 xã N giữa ông P, bà M và
bà L, buộc bà L tiếp tục thực hiện hợp đồng; trường hợp không thể công nhn hợp
đồng chuyển nhượng thì đề nghị Tòa án xem xét giá trị chuyển nhượng thực tế là
428.000đ/m
2
theo chứng thư thẩm định giá v đề nghị Ta n xc định bà L có lỗi
toàn bộ trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình gii quyết vụ án và tại phiên tòa
phúc thẩm, nguyên đơn v bị đơn đều thừa nhn, tháng 7/2019 bà L có chuyển
nhượng cho ông P, bà M 5000m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 01 - nay là thửa
89, tờ bn đồ số 11 xã N, việc chuyển nhượng giữa hai bên chưa lp hợp đồng
bằng văn bn theo quy định pháp lut mà ch thỏa thun bằng lời nói v hai bên đã
tiến hành giao nhn số tiền chuyển nhượng l 550.000.000đ trong tổng giá trị
chuyển nhượng 600.000.000đ. Căn cứ Điều 92 Bộ lut tố tụng dân sự, đây l sự
kiện được các bên thừa nhn nên không phi chứng minh v được xem là chứng cứ
của vụ án. Như vy, có cơ sở xc định giữa bà L với ông P, bà M có tồn tại hợp
đồng chuyển nhượng 5000m
2
đất thuộc thửa 89 v cc bên đã thực hiện được hơn
2/3 (91,66%) nghĩa vụ của hợp đồng.
Xét kháng cáo của ông P, bà M đề nghị cấp phúc thẩm công nhn hợp đồng
chuyển nhượng thửa 89 giữa hai bên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù ông P, bà
M đã thực hiện việc giao tiền được 2/3 nghĩa vụ của hợp đồng nhưng việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên chưa được lp thnh văn bn và chưa đăng
ký với cơ quan Nh nước có thẩm quyền nên hợp đồng chuyển nhượng này chưa
phát sinh hiệu lực theo quy định tại Điều 188 Lut đất đai năm 2013. Mặt khác,
theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thửa 89 là tài sn chung của bà
9
L và chồng là ông X, ông X chết năm 2007, không để lại di chúc, vì vy việc
chuyển nhượng thửa 89 phi có sự đồng ý của các con ông X là những người được
hưởng thừa kế của ông X, tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ nào trong hồ sơ
thể hiện ông NLQ3 (con ông X) biết và tham gia vào việc chuyển nhượng thửa đất
này, vì vy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất bằng lời nói giữa bà L với ông P, bà M vô hiệu l có căn cứ v đúng php lut.
Do đó, yêu cầu kháng cáo về việc công nhn hợp đồng chuyển nhượng và buộc bà
L tiếp tục thực hiện hợp đồng của ông P, bà M là không có cơ sở để chấp nhn.
[4] Xét yêu cầu của ông P, bà M về việc áp giá trị đất theo chứng thư thẩm
định là 428.000đ/m
2
và xc định lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu hoàn toàn thuộc về
bà L, Hội đồng xét xử nhn thấy:
[4.1] Tại giai đoạn phúc thẩm, bà M có đơn yêu cầu định gi độc lp tại
Công ty Trung Hi Ban Mê và theo chứng thư thẩm định giá do công ty này cung
cấp thì giá chuyển nhượng thực tế của thửa 89 là 428.000đ/m
2
. Phía bị đơn mặc dù
không chấp nhn giá của tổ chức định gi độc lp đưa ra nhưng không nêu được lý
do, cng không cung cấp được chứng cứ chứng minh mức gi 428.000đ/m
2
là
không phù hợp với giá thị trường, vì vy Hội đồng xét xử chấp nhn mức giá mà tổ
chức định gi độc lp đã định theo như yêu cầu của phía nguyên đơn.
[4.2] Đối với việc xc định lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu, xét thấy:
Trong vụ án này, bà L là bên chuyển nhượng biết rõ thửa đất số 01 là tài sn
chung do vợ chồng bà tạo lp v được Nh nước công nhn quyền sử dụng cho hộ
gia đình; trước khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông P, bà L đã từng chuyển
nhượng một phần diện tích đất của thửa 01 cho người khc, như vy bà L phi biết
rõ việc chuyển nhượng đất của hộ gia đình phi được lp thnh văn bn và phi có
sự đồng ý của các thành viên trong hộ, tuy nhiên bà L đã không thông bo cho phía
vợ chồng ông P biết số thành viên trong hộ gia đình b, cng không thông bo cho
các thành viên trong hộ biết về việc bà chuyển nhượng đất là cố tình che giấu
thông tin và có lỗi phần lớn trong việc khiến cho hợp đồng chuyển nhượng đất
giữa hai bên bị vô hiệu. Về phía vợ chồng ông P, mặc dù vợ chồng ông P cho rằng
các con bà L, trong đó có ông NLQ3 đều biết và tham gia vào việc chuyển nhượng
5000m
2
đất thuộc thửa 01 nhưng không xuất trình được chứng cứ rõ ràng nào
chứng minh vấn đề ny nên không có cơ sở xc định ông NLQ3 có biết v đồng ý
chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông P; hơn nữa, khi nhn chuyển nhượng, vợ
chồng ông P không yêu cầu bà L và các con bà L cùng làm hợp đồng chuyển
nhượng là cng có một phần lỗi. Vì vy, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm xác
10
định lỗi của mỗi bên: 2/3 lỗi thuộc về bà L và 1/3 lỗi thuộc về vợ chồng ông P là
phù hợp. Do đó, không chấp nhn yêu cầu của ông P, bà M về việc xc định 100%
lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thuộc về bà L.
[4.3] Tại giai đoạn sơ thẩm, vợ chồng ông P và bà L đã xc định ranh giới
phần diện tích đất mà các bên chuyển nhượng cho nhau, phần diện tích này thuộc
thửa 89 và có diện tích đo đạc thực tế là 4.903,1m
2
.
Do giá trị quyền sử dụng đất của hợp đồng chuyển nhượng thửa 89 giữa bà
L với ông P, bà M có sự thay đổi về giá so với cấp sơ thẩm nên hu qu hợp đồng
vô hiệu được gii quyết lại như sau:
Giá trị chênh lệch hiện nay so với thời điểm chuyển nhượng năm 2019 của
thửa 89 (diện tích đo đạc thực tế 4.903,1m
2
) là: (4.903,1m
2
x 428.000đ/m
2
) –
550.000.000đ = 1.548.527.000đ.
Căn cứ vào mức độ lỗi của cc bên, xc định số tiền bồi thường thiệt hại mà
bà L phi hoàn tr cho vợ chồng ông P, bà M do hợp đồng bị vô hiệu là:
1.548.527.000đ x 2/3 = 1.032.351.333đ.
Như vy, tổng cộng bà L phi tr cho vợ chồng ông P, bà M số tiền
1.032.351.333đ + 550.000.000đ = 1.582.351.333đ.
Do ông NLQ2, bà NLQ1 cùng ký tên vào giấy nhn tiền chuyển nhượng
thửa 89 ngày 05/3/2020 nên ông NLQ2, bà NLQ1 phi có trách nhiệm liên đới
cùng bà L tr cho vợ chồng ông P, bà M số tiền 1.582.351.333đ.
Đối với việc san ủi đất giữa vợ chồng ông P, bà M và ông Ân, do không ai
yêu cầu gii quyết nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét, cc đương sự
có quyền khởi kiện thành một vụ kiện riêng khi có yêu cầu.
Đối với diện tích đất 4.903,1m
2
thuộc thửa 89 hiện nay vẫn do bà L trực tiếp
qun lý nên Hội đồng xét xử giao cho bà L toàn bộ diện tích đất này.
Từ những phân tích, đnh gi chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhn
một phần kháng cáo của bà M, ông P, chấp nhn đề nghị của đại diện viện kiểm
sát, chấp nhn một phần ý kiến của lut sư bo vệ phía nguyên đơn, không chấp
nhn ý kiến của lut sư bo vệ phía bị đơn.
[5] Về án phí:
[5.1] Do sửa bn n sơ thẩm nên ông P, bà M không phi chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
[5.2] Án phí sơ thẩm được xc định lại như sau:
11
Ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M mỗi người phi chịu 300.000đ n
phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị L phi tiếp tục thực hiện
hợp đồng không được chấp nhn.
Bà Nguyễn Thị L, ông NLQ2, bà NLQ1 phi liên đới chịu 59.470.540đ n
phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phi hoàn tr cho vợ chồng ông Nguyễn Cnh P,
bà Nguyễn Thị M do hợp đồng bị vô hiệu [cch tính: 36.000.000đ + 3% x
(1.582.351.333đ – 800.000.000đ)]
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khon 2 Điều 308 Bộ lut tố tụng dân sự;
Sửa bn án dân sự sơ thẩm số 01/2022/DS-ST ngày 27/4/2022 của Tòa án
nhân dân huyện B, tnh Ninh Thun.
Căn cứ vào khon 9 Điều 26, điểm a khon 1 Điều 35, điểm c khon 1 Điều
39, Điều 147, Điều 148, Điều 228, Điều 296 Bộ lut tố tụng dân sự; điểm a khon
1 Điều 167, khon 3 Điều 188 Lut đất đai năm 2013; khon 2 Điều 117, khon 2
Điều 119, Điều 131, Điều 502, Điều 503 Bộ lut dân sự năm 2015; Cc điều 26,
27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn
Thị M về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 89,
tờ bn đồ số 11 xã N, huyện B, diện tích 4903,1m
2
.
Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng lời nói giữa bà
Nguyễn Thị L và vợ chồng ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M đối với thửa đất
số 89, tờ bn đồ số 11 xã N, huyện B vô hiệu.
Buộc bà Nguyễn Thị L, ông NLQ2, bà NLQ1 có nghĩa vụ liên đới tr cho vợ
chồng ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M số tiền 1.582.351.333đ.
Bà Nguyễn Thị L, ông NLQ2, bà NLQ1 và ông NLQ3 được quyền tiếp tục
qun lý, sử dụng thửa đất số 89, tờ bn đồ số 11 xã N, huyện B, tnh Ninh Thun.
Về chi phí định giá:
Buộc bà Nguyễn Thị L, ông NLQ2, bà NLQ1 phi liên đới hoàn tr cho bà
Nguyễn Thị M số tiền 3.116.000đ chi phí thẩm định, định gi v đo đạc trích lục
thửa đất.
12
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành n (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành n) cho đến khi thi hành xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật
dân sự năm 2015.
Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M mỗi người phi chịu 300.000đ n
phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhn nhưng được
khấu trừ vo 300.000đ tạm ứng n phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000067 ngày
08/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Ông P, bà M còn phi nộp
300.000đ n phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị L, ông NLQ2, bà NLQ1 phi liên đới chịu 59.470.540đ n
phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm:
Ông Nguyễn Cnh P, bà Nguyễn Thị M không phi chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn tr cho ông P, bà M 300.000đ tạm ứng n phí đã nộp theo Biên lai thu
số 0000089 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
Người được thi hành n và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại cc điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp lut kể từ ngày tuyên án (ngày
28/9/2022).
Nơi nhn:
- Đương sự (6);
- VKSND tnh Ninh Thun (1);
- TAND huyện B (1);
- Chi cục THADS huyện B (1);
- Phòng KTNV&THA (1);
- Lưu hồ sơ, n văn, HC-TP (3).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đng dấu)
Trần Thị Dịu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm