Bản án số 334/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 334/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 334/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 334/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông H đề nghị phân chia di sản của cha mẹ theo pháp luật, đề nghị xem xét phần công sức đóng góp, tôn tạo, quản lý di sản của ông đồng thời yêu cầu Toà án trích một phần di sản (05m chiều ngang thửa đất) để thờ cúng. Ông H đồng ý nhận phần di sản mà ông Trần Đình N nhường cho mình
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 334/2026/DS - PT
Ngày: 15 – 9 - 2026
V/v “Tranh chấp về thừa kế quyền
sử dụng đất theo pháp luật”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thọ
Ông Trương Chí Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Phạm Thị
Ngọc Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 218/2026/TLPT-DS ngày 19
tháng 8 năm 2026 về việc “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp
luật”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 361/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Đình T, sinh năm 1971, CCCD số
04907102xxxx; Địa chỉ: Số 4x H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đinh Ngọc T, sinh năm
1982, CCCD số 04908201xxxx; Địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã V, thành phố Đà Nẵng
là người đại diện theo uỷ quyền (Theo Hợp đồng uỷ quyền số công chứng: 1xxx,
quyển số 0x/2024.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/5/2024 tại Văn phòng Công chứng
Đ). Có mặt.
2
2. Bị đơn: Ông Trần Đình H, sinh năm 1956, CCCD số 04905600xxxx; Địa
chỉ: Thôn G, xã V, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950, CCCD số 04815000xxxx; Địa chỉ:
Tổ 3x, phường A, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Bà Trần Thị Hiền H, sinh năm 1980, CCCD số 04918002XXXX; Địa
chỉ: Tổ 3x, phường A, thành phố Đà Nẵng.
3.3. Bà Trần Uyên T, sinh năm 1982, CCCD số ************; Địa chỉ: Tổ
3x, phường A, thành phố Đà Nẵng.
3.4. Bà Trần Thị H, sinh năm 1984, CCCD số 04818400xxxx; Địa chỉ: Tổ
3x, phường A, thành phố Đà Nẵng.
3.5. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1988, CCCD số 04808800xxxx; Địa chỉ:
Tổ 3x, phường A, thành phố Đà Nẵng.
3.6. Bà Trần Thị A, sinh năm 1950, CCCD số 04915000xxxx; Địa chỉ:
Thôn B, xã G, thành phố Đà Nẵng.
3.7. Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1965, CCCD số 04816500xxxx; Địa chỉ:
xã H, thành phố Đà Nẵng.
3.8. Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1968, CCCD số 04916800xxxx; Địa chỉ:
Tổ dân phố T, phường X, tỉnh L.
Người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
bà Nguyễn Thị N, Trần Thị Hiền H, bà Trần Uyên T, bà Trần Thị H, ông Trần
Ngọc T, bà Trần Thị A, bà Trần Thị Thu T, bà Trần Thị Thu Thuỷ: Ông Đinh
Ngọc T, sinh năm 1982, CCCD số 04908201xxxx; Địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã V,
thành phố Đà Nẵng là người đại diện theo uỷ quyền (Theo các Hợp đồng uỷ quyền
số công chứng: 31xx/2025/CCGD; 31xx/2025/CCGD; 31xx/2025/CCGD cùng
ngày 26/9/2025 lập tại Văn phòng Công chứng P; Hợp đồng uỷ quyền số:
2xx/2025/CCGD ngày 30/9/2025 lập tại Văn phòng Công chứng P và Giấy uỷ
quyền số công chứng: 64xx/2025/CCGD ngày 09/10/2025 lập tại Văn phòng Công
chứng H). Có mặt.
+ Ông Trần Đình N, sinh năm 1950, địa chỉ: Ấp B, phường B, tỉnh Đồng
Nai. Vắng mặt.
3. Do có kháng cáo của bị đơn - ông Trần Đình H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên
đơn ông Trần Đình T và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Đinh
Ngọc T thống nhất trình bày:
3
Cha mẹ ông T là cụ Trần Đình G (sinh năm 1920, chết ngày 08/12/2003) và
cụ Nguyễn Thị T (sinh năm 1926, chết ngày 02/01/1985). Cụ G và cụ T sinh được
07 người con gồm: bà Trần Thị A, ông Trần Đình N, ông Trần Đình H, bà Trần Thị
Thu T, bà Trần Thị Thu T, ông Trần Đình T và ông Trần Ngọc A (sinh năm 1949,
chết ngày 30/5/2022).
Ông Trần Ngọc A có 01 vợ là bà Nguyễn Thị N và 04 người con là: bà Trần
Thị Hiền H, bà Trần Uyên T, bà Trần Thị H và ông Trần Ngọc T. Cụ Trần Đình G
và cụ Nguyễn Thị T không có con nuôi, không có con ngoài giá thú.
Di sản cụ G và cụ T để lại là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1XX, tờ
bản đồ số 1X (752XXX-7) (thửa đất cũ trên Giấy chứng nhận là thửa đất số 1XXX,
tờ bản đổ số 5), diện tích trên giấy chứng nhận là: 1005m², diện tích đo đạc thực tế
theo hiện trạng sử dụng là 915m² (gồm 300m² đất ở nông thôn và 615m² đất trồng
cây lâu năm có nguồn gốc từ đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở) tại Thôn
G, xã V, thành phố Đà Nẵng. Ngày 28/4/1997, UBND huyện Đ đã cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số: I 84XXXX, số vào số cấp Giấy chứng nhận số: 01xxx
cho “hộ T" làm chủ sử dụng. Nguồn gốc đất do cụ G, cụ T khai hoang sử dụng từ
sau giải phóng, sử dụng ổn định từ năm 1975 đến nay.
Theo Văn bản xác nhận của công an huyện Đ số 1XX/XN-CAH ngày
17/4/2023, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên Hộ cụ T
chỉ có duy nhất 01 thành viên là cụ T.
Cụ Trần Đình G và cụ Nguyễn Thị T chết không để lại di chúc. Từ khi cụ G
chết, đất do ông Trần Đình H quản lý, canh tác và hưởng toàn bộ hoa lợi trên đất.
Ngôi nhà gỗ của cụ G và cụ T trên đất đã xuống cấp và bị tháo dỡ, hiện không có
công trình xây dựng, vật kiến trúc gì.
Đến nay, do không thống nhất được việc phân chia di sản thừa kế trong gia
đình nên giữa các bên phát sinh tranh chấp. Vì vậy, ông T khởi kiện đề nghị Tòa án
phân chia theo pháp luật phần di sản của cụ Trần Đình G và Nguyễn Thị T để lại là
quyền sử dụng thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 12 (752534-7), diện tích theo hiện
trạng 915m² nêu trên cho 07 người con trong hàng thừa kế thứ nhất của cụ G, cụ
Tsau khi đã trích trừ công sức quản lý di sản của ông Hbằng 01 suất thừa kế theo
quy định pháp luật. Đồng thời yêu cầu ưu tiên nhận di sản bằng hiện vật.
Tại phiên toà, ông T đồng ý nhận các kỷ phần thừa kế do các chị gái Trần
Thị A, Trần Thị Thu Thuỷ, Trần Thị Thu T và của cháu gái Trần Thị Hiền H tặng
cho cho mình, đồng thời thống nhất thoả thuận chia đôi theo chiều ngang cả mặt
tiền và mặt hậu của thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 1X (75XXXX-7) nêu trên cho
ông Trần Đình T và ông Trần Đình H được hưởng; trong đó ông T nhận phần diện
tích phía Đông còn ông H nhận phần diện tích phía Tây thửa đất, hạn mức đất ở
4
mỗi bên nhận 150m². Ông T và ông H mỗi người được sở hữu số cây cau do ông
Htrồng trên phần đất mà mình được nhận.
Nguyên đơn thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả
định giá tài sản ngày 15/5/2026 của Tòa án, không yêu cầu định giá quyền sử dụng
đất theo giả thị trường.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và tại phiên toà bị đơn
ông Trần Đình H trình bày:
Ông H thống nhất về quan hệ nhân thân trong gia đình cụ G, cụ T như ông T
trình bày. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Đình G
(sinh năm 1920, chết năm 2003) và cụ Nguyễn Thị T (sinh năm 1926, chết năm
1985) là: là bà A, ông N, ông H, bà T, bà T, ông T và những người thừa kế lại phần
di sản của ông A là bà N, bà H, bà T, bà H, ông T.
Thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 1x (75xxxx-7), diện tích đo đạc thực tế theo
hiện trạng sử dụng là 915m² tại Thôn G, xã V, thành phố Đà Nẵng có nguồn gốc do
cha mẹ ông là cụ G và cụ T khai phá từ năm 1975 và sử dụng ổn định cho đến khi
cụ Gia chết nên đây là di sản của hai cụ để lại.
Cụ G và cụ T chết không để lại di chúc. Từ khi cụ G chết, đất do ông Trần
Đình H quản lý, đổ đất, rào ranh giới như hiện trạng, ông H hưởng toàn bộ hoa lợi
trên đất. Trên đất hiện nay không có công trình xây dựng, vật kiến trúc gì.
Quá trình tố tụng ông H đề nghị phân chia di sản của cha mẹ theo pháp luật,
đề nghị xem xét phần công sức đóng góp, tôn tạo, quản lý di sản của ông đồng thời
yêu cầu Toà án trích một phần di sản (05m chiều ngang thửa đất) để thờ cúng. Ông
H đồng ý nhận phần di sản mà ông Trần Đình N nhường cho mình.
Tại phiên toà, ông H thống nhất thoả thuận đề nghị chia đôi theo chiều ngang
cả mặt tiền và mặt hậu của thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 1X (75XXXX-7) nêu trên
cho ông Trần Đình T và ông Trần Đình H được hưởng, trong đó ông T nhận phần
diện tích phía Đông còn ông H nhận phần diện tích phía Tây thửa đất, hạn mức đất
ở mỗi bên nhận 150m². Ông T và ông Hmỗi người được sở hữu số cây cau do ông
Htrồng trên phần đất mà mình được nhận.
Bị đơn thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá
tài sản ngày 15/5/2026 của Tòa án, không yêu cầu định giá quyền sử dụng đất theo
giá thị trường.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo uỷ quyền của những người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị A, bà Trần Thị Thu T, bà Trần Thị Thu
T, bà Nguyễn Thị N, bà Trần Thị Hiền H, bà Trần Uyên T, bà Trần Thị H và ông
Trần Ngọc T là ông Định Ngọc T trình bày:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất lời trình bày của
các bên về hàng và diện thừa kế của cụ G, cụ T; xác định di sản cụ G và cụ T lại là
5
thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 12 (752534-7), diện tích đo đạc thực tế theo hiện
trạng sử dụng là 915m² tại Thôn G, xã V, thành phố Đà Nẵng. Đất có nguồn gốc do
cụ G và cụ T khai phá từ năm 1975 và sử dụng ổn định cho đến khi cụ G chết.
Cụ Trần Đình G và cụ Nguyễn Thị T chết không để lại di chúc. Ông H là
người quản lý di sản cho đến nay nên đồng ý trích trừ công sức quản lý di sản cho
ông Hbằng 01 suất thừa kế.
Đối với kỷ phần thừa kế của ông A được hưởng từ di sản của cụ G và cụ T:
bà H có nguyện vọng giao cho ông T được hưởng; còn bà N, bà T, bà H, ông T từ
chối nhận di sản và đề nghị nhập vào khối đi sản chung để phân chia cho các đồng
thừa kế còn lại.
Tại phiên toà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị A, Trần
Thị Thu T, Trần Thị Thu T và đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị N, bà
Trần Thị Hiền H, bà Trần Uyên T, bà Trần Thị H và ông Trần Ngọc T thống nhất
với thoả thuận phần chia di sản của ông T và ông H.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần
Đình N trình bày: Thống nhất với ý kiến của các đương sự trong vụ án về hàng và
diện thừa kế cũng như di sản của cụ G, cụ T để lại. Ông N tự nguyện nhường lại
phần di sản của mình được hưởng cho ông H và đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2026/DS-ST
ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng quyết định:
- Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều
92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 612, 613, 620, 650, 651, 660, 688 Bộ luật Dân sự năm
2015;
- Căn cứ Điều 37, Điều 45 Luật đất đai năm 2024 và Quyết định số
75/2026/QĐ- UBND ngày 30/5/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng Ban hành một
số quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;
- Căn cứ các Điều 12, 14, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đình T
đối với bị đơn ông Trần Đình H về việc chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ
Trần Đình G và cụ Nguyễn Thị T để lại là quyền sử dụng quyền sử dụng đất thuộc
thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 1X (75XXXX-7) (thửa đất cũ trên Giấy chứng nhận
là thửa đất số 12xx, tờ bản đồ số x), diện tích (đã được cập nhật biến động điều
chỉnh giảm) là 915m² (gồm 300m² đất ở nông thôn và 615m² đất trồng cây lâu năm
có nguồn gốc từ đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở) tại Thôn G, xã V, thành
6
phố Đà Nẵng, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng I
84XXXX, số vào số cấp Giấy chứng nhận số 01xxx ngày 28/4/1997 cho "Hộ T"
làm chủ sử sụng
2. Ghi nhận sự tự nguyện từ chối nhận di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị N,
bà Trần Uyên T, bà Trần Thị H và ông Trần Ngọc T.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của các bà Trần Thị A, Trần Thị Thu T, Trần Thị
Thu Thuỷ, Trần Thị Hiền H nhường lại phần di sản mình được hưởng cho ông Trần
Đình T nhận và toàn quyền định đoạt, ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đình
Nhâm nhường lại phần di sản mình được hưởng cho ông Trần Đình H nhận và toàn
quyền định đoạt.
4. Công nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Trần Đình T và ông Trần
Đinh H tại phiên toà về việc phân chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Trần
Đình G và cụ Nguyễn Thị T nêu trên như sau:
4.1. Phân chia cho ông Trần Đình T được nhận tổng diện tích 435,8m² ở phía
Đông thửa đất, gồm 150m² đất ở và 285,8m² đất cây lâu năm, tứ cận được nối bằng
các điểm toạ độ (2-4-5-6-2) trên sơ đồ thửa đất, tổng giá trị di sản là 109.003.000
(Một trăm lẻ chín triệu không trăm lẻ ba ngàn) đồng;
4.2. Phân chia cho ông Trần Đình H được nhận tổng diện tích 479,2m² ở phía
Tây thửa đất, gồm 150m² đất ở và 329,2m² đất cây lâu năm, tử cận được nối bằng
các điểm toạ độ (1-2-6-7-8-9-10-1) trên sơ đồ thửa đất, tổng giá trị di sản là
110.522.000 đồng.
4.3. Giao cho ông Trần Đình T và ông Trần Đình H mỗi người được sỡ hữu
số cây cau 1,5 năm tuổi do ông H trồng trên phần diện tích mỗi bên được phân chia.
(Diện tích, hình thể, kích thước tứ cận các phần đất được phân chia theo
Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Khu vực
VI - Đà Nằng đính kèm bản án).
4.4. Các bên chịu trách nhiệm lập các thủ tục đăng ký biến động, tách thửa,
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật và phải chịu các khoản nghĩa vụ
tài chính về đất đai tương ứng trên phần diện tích mỗi bên được phân chia.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần chi phí tố tụng, phần án phí,
quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án dân sự của các bên đương sự.
* Ngày 07 tháng 7 năm 2026, Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đà Nẵng nhận
được đơn kháng cáo của bị đơn là ông Trần Đình H. Theo đơn kháng cáo ông Trần
Đình H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng sửa bản án sơ thẩm theo hướng xem xét, chấp nhận hoán đổi vị trí đất,
giao cho ông Trần Đình H phần đất nằm ở vị trí phía Đông, ông Trần Đình T nhận
phần đất nằm ở vị trí phía Tây.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
7
Bị đơn là ông Trần Đình H giữ nguyên nội dung đã kháng cáo. Yêu cầu
HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi
cho ông.
Nguyên đơn ông Trần Đình T không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề
nghị HĐXX bác toàn bộ kháng cáo của ông Trần Đình H. Các bên đương sự không
thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị
HĐXX phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là ông Trần Đình
H; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thời hạn, nội dung và thủ tục kháng cáo của bị đơn là ông Trần Đình H:
Ngày 07 tháng 7 năm 2026, Tòa án nhân dân quận Khu vực 11 - Đà Nẵng nhận
được đơn kháng cáo của ông Trần Đình H đối với Bản án sơ thẩm số: 52/2026/DS-
ST, nội dung kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm theo hướng xem xét, chấp nhận hoán đổi vị trí đất, giao cho ông
Trần Đình H phần đất nằm ở vị trí phía Đông, ông Trần Đình T nhận phần đất nằm
ở vị trí phía Tây. Như vậy, về thời hạn và nội dung kháng cáo của ông Trần Đình H
là đảm bảo theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân
sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Trần Đình H:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, các tài liệu chứng cứ có tại
hồ sơ vụ án, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, kết quả đo đạc do cấp sơ thẩm
thực hiện đều thể hiện nguồn gốc thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 1X (75XXXX-7)
do cụ Trần Đình G và cụ Nguyễn Thị T khai phá từ năm 1975 và sử dụng ổn định
cho đến khi cụ G chết, được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số I 84XXXX, vào số cấp Giấy chứng nhận số 01xxx ngày 28/4/1997 cho chủ
sử dụng đất là Hộ T, là di sản thừa kế do cụ G, cụ T để lại. Hiện trạng diện tích thửa
đất là 915m
2
, giảm 90m
2
, đã được UBND huyện Đ cập nhật biến động giảm diện
tích và xác định hạn mức 300m
2
đất ở và 615m
2
đất cây lâu năm vào ngày
20/02/2023.
[2.2] Về việc phân chia di sản thừa kế: Bị đơn ông Trần Đình H kháng cáo
yêu cầu hoán đổi vị trí thửa đất, tuy nhiên xét thấy cấp sơ thẩm giao cho ông Trần
Đình T được nhận tổng diện tích 435,8m² ở phía Đông thửa đất, gồm 150m² đất ở
và 285,8m² đất cây lâu năm, tứ cận được nối bằng các điểm toạ độ (2-4-5-6-2) trên
8
sơ đồ thửa đất, tổng giá trị di sản là 109.003.000 (Một trăm lẻ chín triệu không trăm
lẻ ba ngàn) đồng; Và giao cho ông Trần Đình H được nhận tổng diện tích 479,2m²
ở phía Tây thửa đất, gồm 150m² đất ở và 329,2m² đất cây lâu năm, tứ cận được nối
bằng các điểm toạ độ (1-2-6-7-8-9-10-1) trên sơ đồ thửa đất, tổng giá trị di sản là
110.522.000 đồng, đồng thời, giao cho ông Trần Đình T và ông Trần Đình H mỗi
người được sỡ hữu số cây cau 1,5 năm tuổi do ông H trồng trên phần diện tích mỗi
bên được phân chia là phù hợp với ý chí của các bên đương sự, trên cơ sở ghi nhận
sự tự nguyện thoả thuận của chính ông Trần Đình H và ông Trần Đình T tại phiên
toà sơ thẩm, cũng phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, đảm bảo điều kiện tách thửa
để phân chia theo quyết định số 7x/2026/QĐ-UBND ngày 30/5/2026 của UBND
thành phố Đà Nẵng Ban hành một số quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng,
[2.3] Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, ngoài những tài liệu đã cung
cấp và nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm ông Trần Đình H không cung cấp được
tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình là có cơ
sở. Do đó, HĐXX chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Đà Nẵng tại phiên tòa, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Trần Đình H.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Đình H là người cao tuổi được miễn án
phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số:
326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Đình H;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng.
- Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều
92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 612, 613, 620, 650, 651, 660, 688 Bộ luật Dân sự năm
2015;
- Căn cứ Điều 37, Điều 45 Luật đất đai năm 2024 và Quyết định số
75/2026/QĐ- UBND ngày 30/5/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng Ban hành một
số quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;
- Căn cứ các Điều 12, 14, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
9
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đình T
đối với bị đơn ông Trần Đình H về việc chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ
Trần Đình G và cụ Nguyễn Thị T để lại là quyền sử dụng quyền sử dụng đất thuộc
thửa đất số 1XX, tờ bản đồ số 1X (75XXXX-7) (thửa đất cũ trên Giấy chứng nhận
là thửa đất số 1xxx, tờ bản đồ số x), diện tích (đã được cập nhật biến động điều
chỉnh giảm) là 915m² (gồm 300m² đất ở nông thôn và 615m² đất trồng cây lâu năm
có nguồn gốc từ đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở) tại Thôn G, xã V, thành
phố Đà Nẵng, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng I
84XXXX, số vào số cấp Giấy chứng nhận số 01xxx ngày 28/4/1997 cho "Hộ T"
làm chủ sử sụng
2. Ghi nhận sự tự nguyện từ chối nhận di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị N,
bà Trần Uyên T, bà Trần Thị H và ông Trần Ngọc T.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của các bà Trần Thị A, Trần Thị Thu T, Trần Thị
Thu Thuỷ, Trần Thị Hiền H nhường lại phần di sản mình được hưởng cho ông Trần
Đình T nhận và toàn quyền định đoạt, ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đình
Nhâm nhường lại phần di sản mình được hưởng cho ông Trần Đình H nhận và toàn
quyền định đoạt.
4. Công nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Trần Đình T và ông Trần
Đinh H tại phiên toà về việc phân chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Trần
Đình G và cụ Nguyễn Thị T nêu trên như sau:
4.1. Phân chia cho ông Trần Đình T được nhận tổng diện tích 435,8m² ở phía
Đông thửa đất, gồm 150m² đất ở và 285,8m² đất cây lâu năm, tứ cận được nối bằng
các điểm toạ độ (2-4-5-6-2) trên sơ đồ thửa đất, tổng giá trị di sản là 109.003.000
(Một trăm lẻ chín triệu không trăm lẻ ba ngàn) đồng;
4.2. Phân chia cho ông Trần Đình H được nhận tổng diện tích 479,2m² ở phía
Tây thửa đất, gồm 150m² đất ở và 329,2m² đất cây lâu năm, tử cận được nối bằng
các điểm toạ độ (1-2-6-7-8-9-10-1) trên sơ đồ thửa đất, tổng giá trị di sản là
110.522.000 đồng.
4.3. Giao cho ông Trần Đình T và ông Trần Đình H mỗi người được sỡ hữu
số cây cau 1,5 năm tuổi do ông Htrồng trên phần diện tích mỗi bên được phân chia.
(Diện tích, hình thể, kích thước tứ cận các phần đất được phân chia theo
Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Khu vực
VI - Đà Nằng đính kèm bản án).
4.4. Các bên chịu trách nhiệm lập các thủ tục đăng ký biến động, tách thửa,
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật và phải chịu các khoản nghĩa vụ
tài chính về đất đai tương ứng trên phần diện tích mỗi bên được phân chia.
5. Án phí dân sự:
10
- Ông Trần Đình T phải chịu 5.450.000 (Năm triệu bốn trăm năm mươi ngàn)
đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 16.000.000
(Mười sáu triệu) đồng ông T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án
số 0017xxx ngày 02/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Hoàn trả cho
ông T số tiền 10.550.000 (Mười triệu năm trăm năm mươi ngàn) đồng.
- Ông Trần Đình H được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi
hánh án theo quy định tại Điều 6,7,7a,7b,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực
11 – Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đà
Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Hiếu
11
12
13
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất