Bản án số 13/2026/HC-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2026/HC-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 13/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bà M khởi kiện yêu cầu buộc UBND phường T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với diện tích đất 135,1m², tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị Ánh M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng quy định của pháp luật là không có cơ sở chấp nhận
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 13/2026/HC-PT
Ngày: 15 - 9 - 2026
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính về lĩnh
vực quản lý đất đai.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Cao Văn Hiếu
Ông Nguyễn Văn Thọ
Bà Mai Vương Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm - Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Võ Hồng
Thắng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 9, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 10/2026/TLPT-HC ngày 28
tháng 7 năm 2026 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành
chính về lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 16/2026/HC-ST ngày 17/6/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/20265/QĐXX-PT ngày 27
tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 27/2026/QĐPT-HC ngày
10/9/2026, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Ánh M, sinh năm 1959, CCCD số
04915900xxxx; địa chỉ: khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Bà Đỗ Thị L, sinh năm
1984, CCCD số 03418401xxxx là người đại diện theo uỷ quyền (Theo Hợp
đồng uỷ quyền lập ngày 07/8/2023, số công chứng: 02223 quyển số 01/2023
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đà Nẵng;
- Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo
pháp luật: Ông Đỗ Văn M1 – Chức vụ: Chủ tịch.
2
Cùng địa chỉ: Số G H, phường T, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố
Đà Nẵng: Ông Nguyễn Quang T – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường T.
Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND phường T, thành phố
Đà Nẵng: Ông Lê Quang Đ – Chức vụ: Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô
thị phường T. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chi nhánh Văn phòng Đ1; Địa chỉ: Số A đường T, phường B, thành phố
Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T1 – Chức vụ: Phó Giám
đốc. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khối phố M, phường T,
thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Vũ Thị Ánh M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền
của người khởi kiện bà Vũ Thị Ánh M – bà Đỗ Thị L trình bày:
Ngày 20/8/2024, bà Vũ Thị Ánh M nhận được Công văn số 144/VP-
TTHCC ngày 19/8/2024 của Văn phòng Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban
nhân dân (UBND) thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) về việc bổ sung, hoàn
thiện hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) của bà M.
Ngày 01/9/2024, thông qua tiếp cận tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án
hành chính giữa người khởi kiện là bà M và người bị kiện là UBND thành phố T,
tỉnh Quảng Nam (cũ) do Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam (cũ) thụ lý, giải
quyết bà M đã được tiếp cận các văn bản: Công văn số 108/UBND ngày
06/8/2024 của UBND phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) về cung
cấp tài liệu, chứng cứ; Công văn số 163/UBND ngày 25/12/2023 của UBND
phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) về bổ sung, hoàn thiện hồ sơ;
Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng
Đ2. Nội dung Công văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024, Công văn số
108/UBND ngày 06/8/2024, Công văn số 163/UBND ngày 25/12/2023 và Phiếu
hướng dẫn giải quyết hồ sơ ngày 19/12/2023 là không đúng quy định của pháp
luật; xâm phạm trực tiếp, nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M
đối với quyền sử dụng diện tích đất 135,1m² thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số
11 tại khối M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là phường T, thành
phố Đà Nẵng).
Vì vậy, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Công văn số
144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024 của Văn phòng HĐND và UBND thành phố T,
tỉnh Quảng Nam (cũ); Công văn số 163/UBND ngày 25/12/2023 của UBND
3
phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ
ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ); buộc UBND phường T,
thành phố Đà Nẵng nhận lại hồ sơ, tiến hành các thủ tục để xem xét, giải quyết
cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với diện tích đất 135,1m², thuộc thửa đất số 16,
tờ bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị
Ánh M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
ngày 04/5/2026 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi
kiện thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy Công văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024 của Văn phòng
HĐND và UBND thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Công văn số 25/12/2023
của UBND phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Phiếu hướng dẫn giải
quyết hồ sơ ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ); buộc UBND
phường T, thành phố Đ tiếp tục tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp
luật để xem xét, giải quyết cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với diện tích đất
135.1m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành
phố Đ cho bà Vũ Thị Ánh M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng quy dịnh của
pháp luật.
* Theo nội dung văn bản số 1471/UBND-KTHTĐT ngày 09/6/2026 của
UBND phường T, thành phố Đà Nẵng và tại phiên tòa người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:
Căn cứ nội dung bản án hành chính sơ thẩm số 146/2024/HCST ngày
10/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam (cũ) (đã có hiệu lực thi hành)
thì nội dung bà Vũ Thị Ánh M khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Công văn số
144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024 của Văn phòng HĐND và UBND thành phố T,
tỉnh Quảng Nam (cũ); Công văn số 163/UBND ngày 25/12/2023 của UBND
phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ
ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ) là không có căn cứ để chấp
nhận.
Ngày 20/8/2024, bà M nhận được Công văn số 144/VP-TTHCC ngày
19/8/2024 và bản án số 146/2024/HCST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Nam (cũ) đã có hiệu lực pháp luật nhưng đến thời điểm hiện nay bà
M vẫn không phối hợp với các cơ quan chức năng để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ
theo hướng dẫn. UBND phường T đã tổ chức tiếp hộ bà M ngày 20/11/2025 và
ban hành Thông báo số 211/TB-UBND ngày 24/11/2025 giao Trung tâm phục
vụ Hành chính công mời công dân làm việc, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo
đúng quy định.
Ngày 26/11/2025, Trung tâm phục vụ Hành chính công mời bà Đỗ Thị L
(là người đại diện theo ủy quyền của bà M) để nhận lại hồ sơ đã nộp nhưng bà L
4
không đến nhận lại hồ sơ nhưng không có lý do. Kể từ thời điểm ban hành Công
văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024 đến nay bà M không có nộp hồ sơ đăng
ký, cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu theo đúng trình tự thủ tục tại Văn phòng HĐND
và UBND thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) (trước ngày 01/7/2025) và Trung
tâm phục vụ Hành chính công phường T (sau ngày 01/7/2025).
Do đó, nội dung bà M khởi kiện yêu cầu buộc UBND phường T, thành
phố Đà Nẵng tiếp tục tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để xem
xét, giải quyết cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với diện tích đất 135,1m², tại
thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng
cho bà Vũ Thị Ánh M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng quy định của pháp luật
là không có cơ sở chấp nhận.
* Đối với Chi nhánh Văn phòng Đ1 và ông Nguyễn Văn T2 quá trình
giải quyết vụ án đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng
không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của người
khởi kiện.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số
16/2026/HC-ST ngày 17/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng đã
căn cứ:
- Các Điều 3, 30, 31, 115, 116, 157, 158, điểm a khoản 1 Điều 123, điểm
h khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật
tố tụng hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
- Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà
Vũ Thị Ánh M về việc yêu cầu hủy: Công văn số 144/VP-TTHCC ngày
19/8/2024 của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố T,
tỉnh Quảng Nam (cũ) về việc bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Công văn số
163/UBND ngày 25/12/2023 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh
Quảng Nam (cũ) về việc bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Phiếu hướng dẫn giải quyết
hồ sơ ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ).
2. Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Vũ Thị Ánh M về việc
buộc Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tiến hành các thủ
tục theo quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lần đầu đối với diện tích đất 135,1m
2
, thuộc thửa đất số 16, tờ
bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị Ánh
M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng quy định của pháp luật.
5
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 23/6/2026, bà Vũ Thị Ánh M có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án
hành chính sơ thẩm số 16/2026/HC-ST ngày 17/6/2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực 5 – Đà Nẵng, yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc
thẩm.
Ngày 10/9/2026, người đại diện hợp pháp của bà Vũ Thị Ánh M là bà Đỗ
Thị L có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Ngày 15/9/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T và Ủy ban nhân
dân phường T có Văn bản số: 2504/UBND-VP có nội dung không đồng ý với
việc người khởi kiện rút đơn khởi kiện về việc “Khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”. Đề nghị Toà án nhân dân
thành phố Đà Nẵng tiếp tục xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 15/9/2026, người khởi kiện bà Vũ Thị Ánh M không đồng ý
với việc bà Đỗ Thị L là người đại diện theo ủy quyền của bà rút đơn yêu cầu
khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà, đề nghị Toà án tiếp tục giải quyết vụ án
theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà
Nẵng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã
thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải
quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham
gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng
trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự đã
thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều
241 Luật Tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện
bà Vũ Thị Ánh M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của người khởi kiện được thụ lý trong
thời hạn, đủ điều kiện, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật
Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Nên kháng cáo của
người khởi kiện là hợp lệ. Người khởi kiện; người bị kiện và những người có
quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt,
6
Toà án xét xử vắng mặt người khởi kiện; người bị kiện và những người có
quyền, lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 225 Luật Tố tụng hành
chính. Tại phiên tòa phúc thẩm mở lần 1 ngày 10/9/2026, bà Đỗ Thị L là người
đại diện theo uỷ quyền của khởi kiện có đơn rút yêu cầu khởi kiện, rút đơn
kháng cáo; Tại văn bản số: 2504/UBND-VP ngày 15/9/2026 Chủ tịch UBND
phường T và UBND phường T là người bị kiện có ý kiến: Không đồng ý với
việc rút đơn khởi kiện người khởi kiện bà Võ Thị Ánh M2, đồng thời tại Đơn
yêu cầu ngày 15/9/2026, bà Vũ thị Ánh M là người khởi kiện không đồng ý với
việc rút yêu cầu khởi kiện, rút đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền
của của người khởi kiện. Do đó, HĐXX xét kháng cáo của người khởi kiện.
[2] Xét kháng cáo của người khởi kiện thì thấy:
[2.1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/7/2025, người khởi kiện bà Vũ Thị Ánh M
khởi kiện yêu cầu Toà án: Hủy Công văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024
của Văn phòng HĐND và UBND thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Công văn
số 163/UBND ngày 25/12/2023 của UBND phường A, thành phố T, tỉnh Quảng
Nam (cũ); Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ ngày 19/12/2023 của Chi nhánh
Văn phòng Đ2 (cũ); buộc UBND phường T, thành phố Đà Nẵng nhận lại hồ sơ,
tiến hành các thủ tục để xem xét, giải quyết cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với
diện tích đất 135, 1m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M,
phường T, thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị Ánh M và ông Nguyễn Văn T2
theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ ngày 04/5/2026 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy
quyền của người khởi kiện thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, yêu
cầu Tòa án giải quyết: Hủy Công văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024 của
Văn phòng HĐND và UBND thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Công văn số
25/12/2023 của UBND phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ); Phiếu
hướng dẫn giải quyết hồ sơ ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ);
buộc UBND phường T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tiến hành các thủ tục theo
quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối
với diện tích đất 135.1m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M,
phường T, thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị Ánh M và ông Nguyễn Văn T2
theo đúng quy định của pháp luật nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật
tranh chấp là “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai” là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
[2.2] Về nội dung kháng cáo của người khởi kiện:
[2.2.1] Xét, Công văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024 của Văn
phòng HĐND và UBND thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) về việc hướng dẫn
bổ sung, hoàn thiện hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu của các cá nhân sử dụng
7
đất tại phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ), trong có có hồ sơ của bà
M, ông T2; Công văn số 163/UBND ngày 25/12/2023 của UBND phường A,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) về việc bổ sung, hoàn thiện hồ sơ gửi Trung
tâm hành chính công thành phố T chuyển trả để bổ sung đối với hồ sơ đăng ký
cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu của bà M, ông T2; Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ
ngày 19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ) có nội dung thông tin,
hướng dẫn giải quyết hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu của các cá nhân sử dụng
đất tại phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) là các văn bản mang tính
nội bộ của cơ quan, tổ chức; không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, không phải là quyết định hành chính. Do đó,
người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 123 Luật tố tụng hành chính. Nên Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định
tại điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết đối với
yêu cầu khởi kiện này là phù hợp.
[2.2.2] Sau khi Bản án hành chính sơ thẩm số: 146/2024/HCST ngày
10/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam (cũ) và Bản án hành chính
phúc thẩm số: 36/2025/HC-PT ngày 07/8/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao tại Đà Nẵng (cũ) có hiệu lực thi hành và tính từ thời điểm ban hành
Công văn số: 144/VP-TTHCC đến nay bà Vũ Thị Ánh M chưa nhận lại hồ sơ
đăng ký cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với diện tích đất 135,1m
2
, thuộc thửa
đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng; chưa
bổ sung hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo nội dung hướng dẫn, bổ sung, hoàn thiện
hồ sơ tại Công văn số: 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024, Công văn số:
163/UBND ngày 25/12/2023 và Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ ngày
19/12/2023; hiện tại bà M chưa nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu
theo các nội dung hướng dẫn bổ sung theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Do
đó, yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ánh M về việc yêu cầu Tòa án buộc UBND
phường T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tiến hành các thủ tục theo quy định của
pháp luật để xem xét, giải quyết cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với diện tích
đất 135,1m
2
, thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T,
thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị Ánh M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng
quy định của pháp luật là không có cơ sở.
[2.3] Tại cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết mới có giá trị làm thay
đổi kết quả xét xử sơ thẩm.
Vì vậy, Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của người khởi kiện bà
Vũ Thị Ánh M, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 16/2026/HC-ST ngày 17/6/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng, như quan điểm đề xuất của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên toà.
[2.4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
8
kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm không xem xét, có hiệu lực thi hành kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
[3] Về án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Vũ Thị Ánh M là
người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên thuộc
trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 241; các Điều 3, 30, 31, 115, 116, 157, 158, điểm a khoản
1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 173, điểm a khoản 2 Điều
193, Điều 348 Luật tố tụng hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
- Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Ánh M; Giữ nguyên Bản
án sơ thẩm số 16/2026/HC-ST ngày 17/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5
– Đà Nẵng.
1.1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Vũ
Thị Ánh M về việc yêu cầu hủy: Công văn số 144/VP-TTHCC ngày 19/8/2024
của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Quảng
Nam (cũ) về việc bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Công văn số 163/UBND ngày
25/12/2023 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ)
về việc bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Phiếu hướng dẫn giải quyết hồ sơ ngày
19/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 (cũ).
1.2. Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Vũ Thị Ánh M về việc
buộc Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tiến hành các thủ
tục theo quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lần đầu đối với diện tích đất 135,1m
2
, thuộc thửa đất số 16, tờ
bản đồ số 11 tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng cho bà Vũ Thị Ánh
M và ông Nguyễn Văn T2 theo đúng quy định của pháp luật.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Vũ Thị Ánh M thuộc
trường hợp được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- TAND Khu vực 5 – Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 5 – Đà
Nẵng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Hiếu
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất