Bản án số 332/2019/DS-PT ngày 31/10/2019 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 332/2019/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 332/2019/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 332/2019/DS-PT ngày 31/10/2019 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 332/2019/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/10/2019 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn B - Bị đơn V |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 332/2019/DS-PT
Ngày: 31/10/2019
V/v Tranh chấp ngõ đi chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các thẩm phán:
Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Liên Anh
Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến
Ông Mai Tiến Dũng
Bà Nguyễn Lưu Ly, Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị
Thúy Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2019/TLPT-DS ngày 09/5/2019
về việc "Tranh chấp ngõ đi chung".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2019/DS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Thanh Trì bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 259/2019/QĐ-PT ngày
21/8/2019; Thông báo mở lại phiên tòa số 1052/2019/TB-TA ngày 21/10/2019
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thanh Bình, sinh năm 1981
Trú tại: Xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền: Anh Bùi Xuân Hiếu, sinh năm 1978; trú tại: Số 2,
ngõ 42, Triều Khúc, Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1946
Trú tại: Xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Hữu Hải, sinh năm 1977.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Hữu Hải, sinh năm 1977
2. Chị Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1977
3. Cháu Nguyễn Minh Quang, sinh năm 1998
Cùng trú tại: Xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
4. Bà Nguyễn Thị Khơi, sinh năm 1939
5. Ông Nguyễn Hữu Thọ, sinh năm 1952
6. Ông Nguyễn Hữu Khang, sinh năm 1957
7. Ông Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm 1966
8. Chị Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1971
2
9. Chị Nguyễn Thanh Thuỷ, sinh năm 1974
10. Anh Nguyễn Hữu Sơn, sinh năm 1981
Cùng trú tại: Xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền của chị Hiền, cháu Quang, bà Khơi, ông Thọ, ông
Khang, ông Dũng, chị Hương, chị Thuỷ, anh Sơn là anh Nguyễn Hữu Hải.
11. Ông Nguyễn Hữu Tuấn, sinh năm 1961
12. Bà Đỗ Thị Kim Hoa, sinh năm 1969
Cùng trú tại: Xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Tuấn, bà Hoa là chị Nguyễn Thị Mai
Hương, sinh năm 1996 và anh Phạm Đức Phi, sinh năm 1993; cùng địa chỉ:
Phòng 202, số 27 ngõ 28 Nguyên Hồng, quận Đống Đa, Hà Nội.
13. UBND xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Trụ sở: Xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy Lưu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tuấn: Luật sư Đỗ Văn
Minh, Văn phòng luật sư Đỗ Minh, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của bà Nguyễn Thị Vinh là bị đơn và anh Nguyễn Hữu Hải
là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn bà Dương Thị Thanh Bình do ông Bùi Xuân Hiếu làm đại
diện ủy quyền trình bày: Tháng 5/2016, bà Dương Thị Thanh Bình nhận chuyển
nhượng thửa đất 106 tờ bản đồ 05 tại xóm Đình, thôn Triều Khúc, Tân Triều,
huyện Thanh Trì, Hà Nội của ông Nguyễn Hữu Tuấn và bà Đỗ Thị Kim Hoa. Sau
khi nhận chuyển nhượng đất, chị Bình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CD 682974 ngày
25/5/2016. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, lối ngõ đi chung vào thửa đất của
bà có chiều rộng khoảng 2m, đầu ngõ là hộ gia đình bà Nguyễn Thị Vinh. Tuy
nhiên từ khi bà tiếp nhận sử dụng thửa đất này, bà Vinh đòi 1/2 chiều rộng ngõ đi
vì cho rằng là của bà và đã tự ý cho xây tường, quây sắt, lợp tôn chiếm một nửa
ngõ đi, làm cho việc đi lại của gia đình chị Bình vào thửa đất trở nên khó khăn.
Chị Bình và ông Tuấn đã nhiều lần trao đổi, thỏa thuận với bà Vinh nhưng bà
Vinh không nghe. Trước đó vào năm 2007, gia đình ông Tuấn và bà Vinh đã lập
biên bản thỏa thuận ngõ đi chung có sự chứng kiến và xác nhận của Uỷ ban nhân
dân xã Tân Triều với chiều rộng ngõ đi là 2m. Nay chị Bình khởi kiện yêu cầu
tòa án xác nhận ngõ đi chung từ đầu ngõ nhà bà Vinh đến thửa đất của chị Bình
có chiều rộng là 2m và buộc gia đình nhà bà Vinh tháo rỡ toàn bộ các công trình
xây dựng trên ngõ đi này.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Vinh trình bày: Ngày 02/1/1990, vợ chồng bà là
Nguyễn Thị Vinh và Nguyễn Hữu Hiền có mua thửa đất số 941 tờ bản đồ 01 tại
xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội với diện tích 91,6 m
2
của ông Triệu Khắc Quân.
3
Ngày 5/5/1992, ông Nguyễn Hữu Hiền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất với diện tích là 92m
2
. Thời điểm vợ chồng bà Vinh mua đất,
trên đất có nhà tranh tre, đến năm 1996, vợ chồng bà Vinh đã phá bỏ ngôi nhà
tranh và xây dựng một ngôi nhà mái bằng trên thửa đất để ở. Vợ chồng ông Hiền
bà Vinh mua đất của ông Quân trước ông Nguyễn Hữu Tuấn mấy năm. Năm
2005, do nhà xây lâu xuống cấp, gia đình bà Vinh đã phá vỡ nhà cũ, vợ chồng
anh Nguyễn Hữu Hải ( con trai, con dâu bà) đã xây dựng nhà xưởng khung thép 2
tầng để ở và kinh doanh từ đó đến nay. Năm 2007, ông Nguyễn Hữu Tuấn có
tranh chấp ngõ đi chung với bà, bà và ông Tuấn đã thỏa thuận là ông Tuấn được
đi ngõ đi chung trên một phần thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của chồng bà. Việc thảo thuận này chưa được sự đồng ý của những
người thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn Hữu Hiền vì ngày 30/10/2000, ông
Hiền chết ( Trước khi chết, ông Hiền không để lại di chúc. Bà Vinh và ông Hiền
có 5 người con là Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thanh Thủy,
Nguyễn Hữu Hải và Nguyễn Hữu Sơn. Bố mẹ ông Nguyễn Hữu Hiền là cụ
Nguyễn Hữu Điểm (chết 1968 ) và cụ Triệu Thị Hom (chết 2016)). Năm 2016,
chị Bình mua một phần đất của ông Tuấn như thế nào thì bà Vinh không biết. Sau
khi chị Bình mua đất, giữa chị Bình và gia đình bà Vinh phát sinh tranh chấp ngõ
đi chung. Hai bên đã hòa giải nhưng không thành. Ngày 10/02/2018, bà Vinh và
tất cả những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn Hữu Hiền
đã tặng cho anh Nguyễn Hữu Hải quyền sử dụng thửa đất 941 tờ bản đồ 01 xã
Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội theo hợp đồng tặng cho số 679/2018. Nay
chị Bình khởi kiện xác định ngõ đi chung có chiều rộng 2m và buộc gia đình bà
Vinh rỡ bỏ các công trình xây dựng trên ngõ đi là không đúng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Hữu Tuấn, bà Đỗ
Thị Kim Hoa, do anh Nguyễn Văn Đoàn làm đại diện ủy quyền trình bày xác
nhận lời trình bày của đại diện ủy quyền nguyên đơn về việc chị Bình nhận
chuyển nhượng đất của ông Tuấn, bà Hoa, cũng như thời điểm ông Tuấn bà Hoa
chuyển nhượng đất cho chị Bình ngõ đi có chiều rộng 2m. Tuy nhiên sau này,
không biết vì lí do gì, khi chị Bình sử dụng phần đất nhận chuyển nhượng của
ông bà, bà Vinh lại đòi 1/2 ngõ đi này là đất riêng của gia đình trong khi vào năm
2007, ông Tuấn và bà Vinh đã thỏa thuận xác định ngõ đi chung có chiều rộng
2m có xác nhận của chính quyền địa phương. Nay chị Bình khởi kiện tranh chấp
ngõ đi chung với bà Vinh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị
Bình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hữu Hải, chị
Nguyễn Thị Hiền, cháu Nguyễn Minh Quang thống nhất trình bày: Các anh
chị là con trai, con dâu và cháu nội của bà Nguyễn Thị Vinh. Hiện nay các anh
chị đang ở tại thửa đất số 941 tờ bản đồ 01 tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà
Nội. Các anh chị xác nhận toàn bộ lời trình bày của bà Nguyễn Thị Vinh về
nguồn gốc thửa đất, ngõ đi gia gia đình đang sử dụng và quá trình quản lí thửa
đất cũng như quan hệ của các anh chị và cháu với bà Vinh và ông Hiền. Thời
4
điểm bà Vinh thỏa thuận với ông Nguyễn Hữu Tuấn về ngõ đi chung không được
sự đồng ý của những người thừa kế theo pháp luật của ông Hiền. Vì ông Hiền
mất năm 2000, trước khi mất không để lại di chúc phân chia tài sản gì. Do vậy,
văn bản thỏa thuận này không có giá trị pháp lí. Ngày 10/2/2018, bà Vinh cùng
tất cả những người hưởng thừa kế theo pháp luật của ông Hiền đã tặng cho anh
Nguyễn Hữu Hải toàn bộ quyền sử dụng thửa đất trên. Nay chị Bình kiện gia
đình bà Vinh xây lấn ngõ đi chung là không đúng vì gia đình bà Vinh chỉ xây các
công trình và tường rào trên mảnh đất của mình.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Khơi,
ông Nguyễn Hữu Thọ, ông Nguyễn Hữu Khang, anh Nguyễn Tiến Dũng, chị
Nguyễn Thị Hương, anh Nguyễn Hữu Sơn thống nhất trình bày: Cụ Nguyễn
Hữu Điểm (đã chết năm 1968) và cụ Triệu Thị Hom (đã chết năm 2016) có 4
người con là Nguyễn Thị Khơi, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Hữu Khang và
Nguyễn Hữu Hiền (đã chết năm 2000, có vợ là bà Nguyễn Thị Vinh có 5 người
con chung là Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn
Thanh Thủy và Nguyễn Hữu Hải). Các ông bà và các anh chị xác nhận lời trình
bày của bà Vinh về nguồn gốc thửa đất và ngõ đi hiện nay gia đình bà Vinh đang
quản lý, sử dụng. Các anh chị và ông bà đã chuyển nhượng kỷ phần thừa kế di
sản của ông Hiền mà mình được hưởng cho anh Nguyễn Hữu Hải bằng văn bản
công chứng vì vậy các anh chị và ông bà vẫn giữ nguyên quan điểm này. Nay chị
Bình khởi kiện đối với bà Vinh về tranh chấp ngõ đi chung là không đúng vì gia
đình bà Vinh chỉ xây dựng trên phần đất của gia đình.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2019/DS-ST ngày 22/02/201 của Tòa án
nhân dân huyện Thanh Trì đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thanh Bình.
Xác nhận ngõ đi chung của gia đình bà Dương Thị Thanh Bình và gia đình
bà Nguyễn Thị Vinh tại Xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội có
chiều rộng 1,7m, chiều dài ngõ đi cạnh phía Nam bắt đầu từ thửa đất của gia đình
bà Nguyễn Thị Vinh kéo dài đến thửa đất của gia đình chị Dương Thị Thanh
Bình.
Buộc gia đình bà Nguyễn Thị Vinh, anh Nguyễn Hữu Hải (anh Hải là người
được thừa kế, tặng cho lại thửa đất) phải dỡ bỏ 2 cánh cổng sắt rộng 2,45m,
tường rào và lợp bán mái phần diện tích xây dựng trên ngõ đi chung có diện tích
3,29m2 (chiều rộng đầu ngõ 0,6m; chiều rộng cuối ngõ là 0,8m2 để trả lại diện
tích ngõ đi chung).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Vinh là bị
đơn và anh Nguyễn Hữu Hải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án kháng cáo toàn bộ nội dung bản án.
Tại phiên tòa:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan anh Hải trình bày:
5
Phần diện tích ngõ đi đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình
anh. Thời điểm mẹ anh là bà Vinh ký thỏa thuận về ngõ đi chung với ông Tuấn
thì bố anh đã chết nên một mình mẹ anh ký thỏa thuận là không phù hợp với quy
định của pháp luật. Việc ký thỏa thuận về ngõ đi chung là tự nguyện, nhưng gia
đình chỉ đồng ý cho hộ ông Tuấn được sử dụng vì ông Tuấn là người trong họ,
gia đình không nhất trí cho hộ chị Bình sử dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Dương Thị Thanh Bình trình
bày: Kết quả đo đạc tại cấp phúc thẩm phù hợp với văn bản chuyển nhượng
quyền sở hữu nhà đất giữa ông Quân và ông Hiền. UBND xã Tân Triều xác định
phần diện tích đất tranh chấp là đất công do UBND xã quản lý. Đề nghị Hội đồng
xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện theo ủy quyền của ông Tuấn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp thống nhất với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của chị Bình và
trình bày: Năm 2007 bà Vinh đại diện hộ gia đình đã ký thỏa thuận về ngõ đi
chung với hộ gia đình ông Tuấn. Anh Hải có mặt tại buổi hòa giải và cũng xác
định việc ký thỏa thuận là tự nguyện. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ
thẩm.
UBND xã Tân Triều xin vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố ý
kiến của UBND xã Tân Triều: UBND xã Tân Triều vẫn giữ nguyên ý kiến như đã
cung cấp cho Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định
của BLTTDS.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Vinh là bị đơn và anh
Nguyễn Hữu Hải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp trong hạn luật
định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.
Về tố tụng: Nguyên đơn không có yêu cầu hủy quyết định hành chính cá
biệt nên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện Thanh Trì vào tham gia tố
tụng là phù hợp với quy định. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc đưa
UBND huyện Thanh Trì vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan.
Tại cấp phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa UBND xã Tân
Triều vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan. UBND xã Tân Triều đã có văn bản gửi Tòa án.
Về nội dung:
6
Về nguồn gốc, UBND xã Tân Triều cung cấp:
“Theo bản đồ đo vẽ năm 1986 theo Chỉ thị 299/TTg thể hiện:
+ Ông Nguyễn Hữu Tuấn là chủ sử dụng thửa đất số 358 tờ bản đồ số 01
diện tích 196m
2
(diện tích 196m
2
bao gồm cả một phần diện tích ngõ đi chung hộ
gia đình chị Bình, bà Vinh đang tranh chấp)
+ Ông Nguyễn Hữu Hiền(đã chết) là chồng bà Nguyễn Thị Vinh, là chủ sử
dụng thửa đất số 941 tờ bản đồ số 01 diện tích 92m
2
(diện tích 92m
2
bao gồm cả 1
phần diện tích ngõ đi chung hộ gia đình chị Bình, bà Vinh đang tranh chấp)
Năm 2007, ông Nguyễn Hữu Tuấn, hộ bà Vinh có tranh chấp về ngõ đi.
UBND xã đã tiến hành hòa giải, lập biên bản thỏa thuận về ngõ đi chung ngày
23/5/2007. Theo biên bản này, bà Vinh, ông Tuấn thỏa thuận chiều rộng ngõ đi
giữa hai gia đình là 1,7m.
Theo bản đồ đo đạc năm 1994, phần ngõ đang tranh chấp giữa hai hộ gia
đình được thể hiện là ngõ đi công do UBND xã quản lý, có chiều rộng khoảng
1,7m...”.
Ông Triệu Khắc Quân là chủ sử dụng của hai thửa đất trước đây có lời khai:
“Khoảng năm 1988, tôi bán đất cho ông Hiền bà Vinh. Khoảng năm 1990
tôi bán đất cho ông Triệu Khắc Vinh. Khi đó ngõ đi vào nhà ông Vinh có chiều
rộng 2m. Tôi cũng xác định với ông Hiền và ông Vinh về việc hai nhà sử dụng
ngõ đi chung rộng 02m.
Khi tôi bán đất cho ông Hiền, ông Vinh tôi chỉ tính giá đất là phần đất các
nhà ở, phần ngõ không được tính vào giá chuyển nhượng đất mà tôi để làm ngõ
đi chung.
Sau này ông Vinh bán lại đất cho người khác, tôi không biết, sau người này
lại bán đất cho ông Tuấn. Bà Vinh và ông Tuấn tranh chấp ngõ đi năm 2007, tôi
đã giải thích với hai nhà về việc ngõ đi chung rộng 02m, hai nhà đã thỏa thuận
với nhau nhưng sau đó ông Tuấn bán đất cho chị Bình thì bà Vinh lại tiếp tục
tranh chấp”.
Lời khai của ông Quân phù hợp với tài liệu địa chính là hệ bản đồ năm
1986.
Tại GCNQSDĐ số A 173191 do UBND huyện Thanh Trì cấp cho ông Hiền
ngày 05/5/1992 chỉ thể hiện số thửa, tờ bản đồ, diện tích, không có sơ đồ thửa
đất. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có công văn yêu cầu Văn phòng đăng
ký đất đai huyện Thanh Trì cung cấp hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ ông Hiền.
Văn phòng đăng ký đất đai huyện Thanh Trì có công văn trả lời, văn phòng
không lưu giữ hồ sơ xét cấp GCN trước năm 1993 nên Tòa án không thu thập
được. Qua đo đạc thực tế tại cấp phúc thẩm, nếu tính cả phần diện tích đang có
tranh chấp thì diện tích nhà ông Hiền, nay là anh Hải đang quản lý sử dụng có
diện tích 85,6m
2
; phần giáp ranh với thửa đất phía sau có diện tích 2,3m
2
; ngõ đi
6,6m
2
. Kết quả đo đạc này phù hợp với Văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Quân và ông Hiền.
7
Qua xác minh UBND xã cung cấp: “Hồ sơ xét cấp GCN quyền sử dụng đất
của gia đình ông Hiền hiện UBND xã không còn lưu giữ. Nếu có Đơn xin cấp
GCN thì trong đơn không thể hiện hình thể của thửa đất. Theo GCN cấp cho hai
gia đình ông Hiền, chị Bình và sổ sánh địa chính thì diện tích ngõ đi đang tranh
chấp là đất công do UBND xã đang quản lý”.
“Bản đồ năm 1994 chỉ ghi nhận hiện trạng sử dụng đất, (chưa được nghiệm
thu). Theo GCN cấp cho hộ ông Hiền, chị Bình và hồ sơ địa chính thì diện tích
ngõ đi đang tranh chấp vẫn là đất công do UBND xã quản lý”.
Mặc dù bản đồ năm 1994 chưa được nghiệm thu nhưng bản đồ 1994 đã ghi
nhận hiện trạng sử dụng đất của hai hộ gia đình. Mặt khác, ngày 23/5/2007 tại
UBND xã Tân Triều đại diện hộ ông Tuấn và hộ bà Vinh có ký thỏa thuận về ngõ
đi chung, có xác nhận của UBND xã. Theo đó ngõ đi chung có cạnh sát đất nhà
ông Tuấn dài 1,7m; sát đất bà Vinh dài 7,8m; cạnh đối diện là 5,5m; từ cửa nhà
bà Vinh ra đường, một cạnh có chiều dài 7,1m, một cạnh có chiều dài 5,3m; cạnh
sát đường 2,5m.
Bà Vinh, anh Hải kháng cáo cho rằng năm 2000 ông Hiền chết nên việc bà
Vinh đại diện gia đình ký thỏa thuận về ngõ đi chung là không phù hợp với quy
định của pháp luật về thừa kế, thỏa thuận này không có giá trị.
Xét thấy, kể từ khi nhận chuyển nhượng đất và sau khi có thỏa thuận về ngõ
đi chung năm 2007, hai gia đình vẫn sử dụng diện tích tranh chấp làm ngõ đi
chung. Các con của ông Hiền, bà Vinh cũng sinh sống tại địa phương nhưng
không có ý kiến phản đối thỏa thuận này. Anh Hải là người sinh sống trực tiếp
trên đất tranh chấp và là người có mặt tại UBND xã khi bà Vinh đại diện hộ gia
đình ký thỏa thuận về ngõ đi chung với ông Tuấn cũng không có ý kiến phản đối
từ sau khi bà Vinh ký thỏa thuận nên được coi như đã đồng ý với thỏa thuận này.
Tại phiên tòa anh Hải cũng xác định việc ký thỏa thuận về ngõ đi chung là tự
nguyện nhưng gia đình anh chỉ đồng ý cho hộ anh Tuấn sử dụng, không đồng ý
cho hộ chị Bình sử dụng.
Theo Biên bản hòa giải ngày 23/5/2007 hai gia đình đã thỏa thuận ngõ đi
chung cho chiều rộng là 1,7m. Theo bản đồ địa chính thể hiện ngõ đi có chiều
rộng 1,7m nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác nhận ngõ đi chung
là có cơ sở. Xác nhận ngõ đi chung của hai gia đình có chiều rộng 1,7m cạnh phía
Nam (đầu ngõ) bắt đầu từ thửa đất của gia đình bà Vinh kéo dài đến thửa đất của
gia đình chị Bình. Trong quá trình sử dụng ngõ đi, gia đình bà Vinh đã làm 2
cổng sắt rộng 2,45m, tường rào và lợp bán mái phần diện tích xây dựng trên ngõ
đi chung có diện tích 3,29m
2
(chiều rộng đầu ngõ 0,6m; chiều rộng cuối ngõ là
0,8m
2
) cản trở việc đi lại của gia đình chị Bình nên buộc gia đình bà Vinh, anh
Hải (anh Hải là người được thừa kế, tặng cho lại thửa đất) phải dỡ bỏ những công
trình trên trả lại diện tích ngõ đi chung.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
8
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vinh và người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan anh Hải.
Về án phí:
Án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận anh Hải
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bình không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm,
được nhận lại dự phí đã nộp.
Do bà Vinh là người cao tuổi nên áp dụng Nghị quyết 326 sửa án sơ thẩm về
án phí theo hướng miễn án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho bà
Vinh. Bà Vinh được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp.
Vì các lẽ trên áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án dân sự sơ
thẩm số 03/2019/DS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 163, Điều 164, khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự.
- Điều 4, Điều 22, Điều 30, Điều 34, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm
2013.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thanh Bình.
Xác nhận ngõ đi chung của gia đình chị Dương Thị Thanh Bình và gia đình
bà Nguyễn Thị Vinh tại xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội có
chiều rộng 1,7m, chiều dài ngõ đi cạnh phía Nam bắt đầu từ thửa đất của gia đình
bà Nguyễn Thị Vinh kéo dài đến thửa đất của gia đình chị Dương Thị Thanh
Bình.
Buộc gia đình bà Nguyễn Thị Vinh, anh Nguyễn Hữu Hải (anh Hải là người
được thừa kế, tặng cho lại thửa đất) phải dỡ bỏ 2 cánh cổng sắt rộng 2,45m,
tường rào và lợp bán mái phần diện tích xây dựng trên ngõ đi chung có diện tích
3,29m
2
(chiều rộng đầu ngõ 0,6m; chiều rộng cuối ngõ là 0,8m2 để trả lại diện
tích ngõ đi chung.
Về án phí:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Vinh, bà Vinh được nhận lại dự phí đã
nộp tại Biên lai thu số 0008541 ngày 28/2/2019 tại Chi cục thi hành án huyện
Thanh trì, thành phố Hà Nội.
Anh Hải phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm đối trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0008540 ngày 28/2/2019 tại Chi cục thi
hành án huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội.
- Án phí dân sự sơ thẩm:

9
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh không phải
nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Dương Thị Thanh Bình không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được
nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 8705 ngày
16/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND huyện Thanh Trì;
- Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
- Các đương sự;
- Lưu văn phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Liên Anh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm