Bản án số 326/2025/KDTM-PT ngày 25/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 326/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 326/2025/KDTM-PT ngày 25/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 326/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Công ty TNHH V yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng nội dung sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 326/2025/KDTM-PT
Ngày: 25 - 9 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền khai thác mỏ đá
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị - Thư Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HChí Minh: Nguyễn Thị
Mai - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sTòa án nhân dân Thành
phố HChí Minh (cơ sA) xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại
thụ số 05/2025/TLPT-KDTM ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc: Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền khai thác mỏ đá”.
Do bản án kinh doanh thương mại thẩm số 18/2024/KDTM-ST ngày 02
tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay
là Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2025/QĐ-PT ngày
13/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 09/2025/QĐ-PT ngày 23/6/2025;
Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 15424/2025/TB-TA ngày 28/8/2025; Quyết
định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 16599/2025/QĐ-PT ngày 10/9/2025, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH V; Địa chỉ trụ sở: 27/13, đường Đ, phường A,
quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh);
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T Giám đốc. (Có mặt).
2. Bị đơn: Công ty TNHH H4; Địa chỉ trụ sở: B, ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã C, Thành phố Hồ Chí Minh);
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T1 - Giám đốc. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hạnh P, sinh năm 1976; cư trú tại: Tổ
F, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà Nội). (Có
mặt).
2
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. ng ty Cổ phần K1; Địa chỉ Trụ sở: Mỏ đá Puzolan N, L, huyện Đ,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông i Minh H, Chức vụ: Giám đốc. (Có mặt).
3.2. Công ty TNHH D; Địa chỉ Trụ sở: Số B, đường số B, khu đô thị M, phường
T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Hồng H1 - Giám đốc. (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1978; cư trú tại:
Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay C, Thành phHồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
3.3. Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1936 (đã chết ngày 26/7/2021).
Người kế thừa quyn và nghĩa v t tng ca ông N: Ông Hoàng H2, sinh năm
1984; Cư trú tại: Số C B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Công ty TNHH V là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khi kin và quá trình t tng gii quyết v án, nguyên đơn Công
ty TNHH V trình bày:
Ngày 09 tháng 8 năm 2007, Công ty TNHH H4 (gi tt là Công ty H4, do ông
Hoàng Văn N làm Giám đốc và Công ty TNHH V (gi tt Công ty V), do Nguyn
Th T làm Giám đốc, tiến hành kết tha thun việc sang nhượng Hợp đồng s 14
ký kết ngày 02/3/2007 gia Công ty H4 và Công ty TNHH Một thành viên Đ (nay là
Công ty c phn K1), Công ty V kh năng khai thác sản xut chế biến các loi
đá xây dựng.
Theo tha thun Công ty H4 sang nhượng cho Công ty V bao gm các hng
mục như: Đường điện, trm biến thế; Nhà xưởng b máy nghin; Diện tích nhà xưởng,
sân công nghip, bãi thi vi diện tích 3,615ha; Đưng ra vào khu m. Vi tng
giá tr sang nhượng là 8.500.000.000đ (tám tỷ năm trăm triệu đồng).
Công ty V đã thực hiện xong nghĩa v tài chính đối vi Công ty H4. Công ty
V đã tiến hành khai thác và sn xut t năm 2007 đến năm 2015.
Quá trình mua bán trên Công ty H4 đã chứng minh quyn s hữu đối vi các
tài sn nêu trên c th như sau:
Ngày 02/3/2000, Công ty c phn K1 Công ty X kết vi nhau Hp
đồng 14/HĐKT qua đó Công ty X phải đảm bảo đầy đủ, kp thi tin vn chu toàn
b chi phí cho quá trình sn xut t khai thác, chế biến đến kinh doanh sn phm bao
gm: Tiền đền bù gii ta, tiền chi phí thăm , lập đề án, tiền đo vẽ bản đồ gii tha,
cm mc, thiết kế m. L phí th tc cấp đất địa phương chính ph, chi phí m
móng, m tng, xây dựng bản m, xây dng bo quản kho mìn, đường điện, đường
c…
Đến ngày 02/3/2007, Công ty c phn K1 Công ty X Công ty H4
kết Hợp đồng s 14, qua đó Công ty H4 đã mua lại phn vn ca Công ty X đã đu
3
tư hp tác vi Công ty c phn K1 c th như: Vốn đn bù gii phóng mt bng sân
công nghip, bãi thải, đường dn vào m, trạm điện nhà xưởng, h thiết kế
mỏ…
Căn cứ theo giy phép khai thác m s 1481/QĐ/QLTN ngày 03/6/1996, của
B C1 thì din tích khu vc khai thác là 8,9ha (T2 phy chín hecta) s tọa độ đưc
xác định trên bản đồ khu vc khai thác m kèm theo, cho Công ty c phn K1.
Đến ngày 02/3/2000, Công ty c phn K1 ký kết vi Công ty X v việc đầu tư
chế biến và xây dng vt liu xây dng.
Đến ngày 02/3/2007, Công ty X chuyn giao toàn b quyn khai thác tài sn
cho Công ty H4 theo Hợp đồng s 14 ngày 02/3/2007.
Đến ngày 09/8/2007, gia Công ty H4 Công ty V ký tha thun s 11 ký kết
ngày 09/8/2007 để chuyển nhượng toàn b vốn đầu cho Hoàng H2 đi vi khu khai
thác tng diện tích 11,375ha trong đó 7,6 ha khu vực khai thác đá, din ch nhà
ng, sân công nghip, bãi thi là 3,615ha. Ti biên bn tha thun ngày 17/8/2007,
bên Công ty H4 bàn giao xác nhn ph lc diện tích tăng thêm so vi biên bn tha
thun ngày 09/8/2007 là 10.000m
2
đất khai thác. T căn cứ nêu trên cho thy Công
ty X và Công ty H4 đã đầu tư đền gii phóng m rng din tích so vi giy phép
đưc cấp phép 3,475 ha để làm sân công nghiệp, nhà xưởng, bãi thải và đường vào
m. Công ty V đã vào khai thác đến năm 2015 (khi Giấy phép hết hiu lc).
Qua đó tất c nhng tài sn không thuc giy phép khai thác m s
1481QĐ/QLTN ngày 03/6/1996, của B C1 là tài sn thuc vng ty V.
Năm 2015, thời hn khai thác theo Quyết định phê duyt D án đầu số
251/QĐ-UBT ngày 03/02/1996 đã hết và Công ty c phn K1 đưc y ban nhân dân
tnh C2 phép mới sau khi mua đấu giá t Trung tâm đấu giá tnh B.
Sau khi được Th ng chính ph ch đo v vic gii quyết mâu thun gia
các Công ty trong việc đầu hợp tác khai thác m, ngày 02/10/2017 Công ty c phn
K1 và Công ty H4 có biên bn tha thun tiếp tc hợp tác đầu tư khai thác m.
Ngày 08 tháng 01 năm 2018, tại Văn phòng Công ty V, đại din theo pháp lut
của hai Công ty đã thống nhất đi đến kết Hợp đồng tha thun không hy ngang
ngày 02/7/2018, qua đó Công ty c phn K1 đồng sang nhượng thng nht cho Công
ty H4 ng ty V cng li với giá: 20.000.000.000đ (hai mươi t đồng). Vi t l
Công ty H4 chiếm 60%, Công ty V 40%. T l trên được hiu chia theo din tích
m (mi bên khai thác theo t l trên nhưng Vũ Hồng L đồng ý cho Hoàng H2 đưc
quyn s dụng đối với các cơ sở h tầng đã được đầu tư vào khu mỏ).
Đầu năm 2019, ngay sau khi đưc cp phép mi Công ty c phn K1 đã sang
nhưng quyn khai thác cho Công ty H4.
Cũng từ cuối năm 2018 đến nay Công ty H4 do ông Hoàng Văn N làm giám
đốc vn trc tiếp khai thác m hai Công ty đã nhận chuyển nhượng t Công ty c
phn K1, đồng thời đang sử dng cơ sở h tng k thut thuc s hu ca Công ty V
phc v cho khai thác c th như: Đường đin, trm biến thế 760KVA; Nhà xưởng
b máy nghin; Din tích nhà xưởng, sân công nghip, bãi thi vi din tích là 3,615
ha; Đường ra vào khu m.
4
Công ty H4 không cho Công ty V thc hin quyền khai thác đi vi 40% khu
m như đã cam kết, cũng như không chia lợi tc cho Công ty V như đã tha thun
li tc t vic s dụng cơ s h tng thuc vào sn xut.
T những căn cứ nêu trên, đ bo v quyn và li ích hp pháp ca mình, phía
nguyên đơn (Công ty V) kính đề ngh Tòa án nhân dân th xã Phú M, tnh Bà Ra
Vũng Tàu xem xét giải quyết tranh chp theo yêu cu c th sau:
- ng nhn Hợp đồng tha thun không hy ngang kết ngày 02/07/2018
gia Công ty V và Công ty H4 có hiu lc pháp lut. Buc Công ty H4 để Công ty V
đưc quyền khai thác đối vi 40% din tích m đá tại Lô B, p T, xã C, huyn T (th
xã P), tnh Bà Ra - Vũng Tàu, đã nhận sang nhượng Công ty c phn K1.
- Công nhn Hợp đồng s 11 (Biên bn tho thun) ngày 09/8/2007 gia Công
ty V và Công ty H4 có hiu lc pháp luật. Qua đó công nhận quyn s hu hp pháp
ca Công ty V đối với sở h tng k thuật sau: đường điện, trm biến thế; Nhà
ng b máy nghin; Diện ch nhà xưởng, sân công nghip, bãi thi vi din tích
3,615ha; Đường ra vào khu m
- Buc Công ty H4 thanh toán cho Công ty V s tin li nhuận đem lại t vic
Công ty H4 khai thác m t đầu năm 2018 (đã sử dụng sở h tng k thut ca
Hng L) đến nay khoảng 1.000.000.000đ (Một t đồng).
* Quá trình t tng gii quyết v án, b đơn Công ty TNHH H4 trình bày:
sở pháp cho hoạt đng khai thác ti m đá lô 2A, C ca Công ty H4
là hợp đồng kinh tế vi ch Giy phép khai thác là Công ty K1.
Ngày 06/9/2007, Công ty TNHH Một Thành Viên Đ (Nay là Công ty C phn
K1) kết Hợp đồng kinh tế số: 23/2007/HĐKT.KSV. ĐTKD với Công ty H4
(“Công ty H4”) về vic hợp tác đầu tư để khai thác m đá xây dựng Lô IIA thuc Xã
C, Huyn T (nay Th P), Tnh Ra - Vũng Tàu. Thi hn thc hin Hợp đồng
k t ngày 06/9/2007 đến hết ngày 10/8/2014.
Ngày 22/9/2014, Công ty TNHH MTV K1 (được chuyển đổi t Công ty TNHH
Một Thành Viên Đ) Công ty H4 đã tiến hành đi chiếu công n thanh hp
đồng kinh tế số: 23/2007/HĐKT.KSV. ĐTKD ký ngày 06/9/2007.
Như vậy, đến thời điểm tháng 8/2014, giấy phép khai thác đã hết hn, hợp đồng
kinh tế s 23/2007/H ĐKT.KSV.ĐTKD ng đã thanh lý. Mi hoạt động khai thác
trên m đã chấm dt, toàn b máy móc thiết b đã được Công ty H4 thu hi bàn giao
li mt bng, sân công nghip cho Công ty K1 qun lý. Công ty H4 không còn bt k
quyn lợi nghĩa vụ gì đối vi m đá lô 2 A.
Hợp đồng hp tác khai thác m s 11 ngày 9/8/2007 gia Công ty V Công
ty H4 không còn giá tr pháp bi l đối tượng ca hợp đng khai thác m đá
2 A, trong khi m 2 A đã hết hn t năm 2014, hợp đồng ca C3 vi Công ty K1
đã thanh lý tháng 9/2014. Toàn b máy móc thiết b của đối tác đã được thu hi, bàn
giao mt bng m sân công nghip cho Công ty c phn K1 là ch m. Sân công
nghiệp văn phòng nhà ng, b máy nghiền, đường ra vào m hin nay không
liên quan gì ti Công ty V.
5
Ngày 08/01/2018, Công ty H4 Công ty V kết Hợp đồng tha thun không
hy ngang v việc sang nhượng bán m đá IIA. Theo đó, Công ty H4 đồng ý cho
Công ty V do Bà Nguyn Th T làm Giám đốc được giao dịch sang nhượng m đá lô
IIA. Sau đó, hai bên lại hợp đồng tha thun không hy ngang ngày 02/7/2018.
Tuy nhiên, ti thời điểm ký kết Hợp đồng tha thun không hy ngang này thì giy
phép khai thác s 1481 QĐ/QLTN do B C1 cp ngày 03/6/1996 cho Công ty c phn
K1 đã hết hiu lc (Theo giy phép khai thác m s 1481 QĐ/QLTN tthời hn khai
thác 19 năm k t ngày 03/6/1996, tc ngày hết hiu lc ca giy phép khai thác
m là ngày 03/6/2015).
Vic kết Hợp đồng tha thun không hủy ngang ngày 02/07/2018 căn cứ
trên sở biên bn tha thuận ngày 02/10/2017 đưc ký kết gia công ty H4 Công
ty c phn K1, theo đó Công ty H4 mong muốn được nhn chuyển nhượng quyn
khai thác m đá, ng ty c phn K1 đồng ý s chuyển nhượng quyn khai thác m
đá sau khi được cơ quan Nhà nước có thm quyn chp thun gia hn giy phép khai
thác m đá. Do Biên bn tha thun ch là cơ sở ban đầu th hin s tha thun gia
các bên, không giá tr ràng buộc đối với nghĩa vụ ca Công ty c phn K1 phi
thc hin vic chuyển nhượng quyn khai thác m đá cho Công ty H4. Mt khác, ti
thời điểm ký kết biên bn này thì giy phép khai thác m s 1481 QĐ/QLTN mà B
C1 cp cho Công ty c phn K1 cũng đã hết hiu lc nên biên bn này không có giá
tr áp dng giữa các Bên. Đối vi hợp đồng tha thun không hy ngang gia Công
ty H4 Công ty V v việc sang nhượng m đá nhưng Công ty H4 li không quyn
khai thác m đá theo quy đnh ca pháp lut ti thời điểm kết, do vy, Hợp đồng
tha thun không hy ngang gia công ty H4 công ty V cũng không phát sinh hiệu
lực do đối tượng ca hợp đồng không tn tại căn c theo khoản 5 Điều 432 B lut
dân s năm 2015 “chấm dt hp đồng trong trường hp Hợp đồng không th thc
hiện được do đối ng ca hợp đồng không còn”; Thực cht ni dung hợp đồng này
là hợp đồng dch v môi gii quyn khai thác m đá. Điều này được th hin ti hp
đồng ký ngày 02/7/2018 khi công ty H4 công ty V đều tha thun phân chia t l
phần trăm được hưởng t khon tin chênh lch gia giá s nhn chuyển nhượng li
quyn khai thác m đá của Công ty c phn K1 vi giá s chuyển nhượng cho bên
th 3. Vic công ty V và công ty H4 tiếp tc kết hợp đồng vi Công ty D khi Công
ty H4 chưa trở thành ch th có quyn khai thác m đá nên việc chuyển nhượng này
cũng không có giá trị pháp lý. Đồng thi, tt c mi giao dịch liên quan đều do Công
ty V trc tiếp đứng ra giao dch vi Công ty D. Công ty H4 không tham d và cũng
không đàm phán với ng ty D.
Mt khác vào thời điểm 02/7/2018, ông Hoàng Văn N- nguyên Giám đc Công
ty H4 (hiện nay đã mất) nhn tin t Nguyn Th T-Giám đốc Công ty V
500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) T đưa cho ông N ký giy nhn tin
cc bán m đá IIA. Việc thanh toán giao nhn tin giy nhn tin cc ngày
02/7/2018. (Giy nhn tin do bên T lp đưa ông N nhn, s tin này không lp
phiếu thu không vào s sách kế toán Công ty H4, không được nhp qu công ty
H4). Sau đó, nhận thy giao dch trên không có gtr pháp đối tượng ca hp
đồng không ti thời điểm kết, ông N đã trả li cho T ln 1 s tin
100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) theo giy nhn tin do T ngày
01/10/2018. Tiếp sau đó, ông N gi tr li cho bà T tiếp ln 2 s tin là 30.000.000
đồng (Ba mươi triệu đồng) theo giy nhn tin ngày 14/11/2018 (Ni dung ghi là
6
T n li tin ca ông N). Như vậy, tng cng s tin ông N đã gửi tr li T
130.000.000 đồng (Mt trăm ba mươi triệu đồng). Vy s tin ông N còn gi
370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đng). Ông N đã nhiều ln ch động liên
h (c đin thoi gp trc tiếp) vi T để tr li T nhưng T không chu nhn
li. Tuy nhiên vic ông N nhn s tin trên không phiếu thu ca kế toán, không
đưc hch toán vào h thng s sách công ty, mà do cá nhân ông N nhn t bà T. S
tin này hin nm trong tài khon cá nhân ông N ( hin nay ông N đã mất). Vic này,
Công ty H4 không công nhận đã nhận tiền đặt cc ca bà T.
Do đó, bị đơn đề ngh Tòa án không chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên
đơn.
Đồng thi b đơn có yêu cầu phn t như sau:
Yêu cu tuyên Hợp đồng s 11 ngày 9/8/2007 gia Công ty V Công ty H4
b hiệu. Đề ngh người tha kế ca ông Hoàng Văn N phi hoàn tr cho Công ty
V s tiền 370.000.000 đồng.
Buc Công ty V tháo d Đường điện, trm biến thế 760KVA ra khi m đá tại
Lô B, p T, xã C, huyn T (th xã P), tnh Bà Ra - ng Tàu.
Tại phiên toà sơ thẩm, người đại din hp pháp của nguyên đơn xác định hin
đường điện, trm biến thế 760KVA không nằm trong ranh đất ca Giy chng nhn
quyn s dụng đất đã cấp cho Công ty H4 nên xin rút mt phn yêu cu phn t v
vic buc Công ty V tháo d Đường điện, trm biến thế 760KVA ra khi m đá ti
Lô B, p T, xã C, huyn T (th xã P), tnh Bà Ra - ng Tàu.
* Quá trình t tụng, người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan, Công ty C phn
K1 trình bày:
V h sơ Pháp lý: M đá Lô IIA Công ty Khoáng sn tnh K1 (nay là Công ty
c phn K1) được B C1 cp Giy phép khai thác số: 1481 QĐ/QLTN ngày
03/06/1996 để khai thác đá xây dng ti m IIA, th xã P tnh Bà Ra - Vũng Tàu.
Thi hn giấy phép: 19 năm k t ngày cấp phép. Đến ngày 03/06/2015, Giy phép
khai thác số: 1481 QĐ/QLTN ngày 03/06/1996 hết hiu lc.
Phn quan h hợp đồng kinh tế: Ngày 06/09/2007, Công ty TNHH Mt thành
viên Đ (nay Công ty c phn K1) đã Hợp đồng kinh tế s:
23/2007/HĐKT.KSV.DTKD vi Công ty TNHH H4, v vic hợp tác đầu đ khai
thác m xây dng Lô IIA thuc xã C, th xã P, tnh Bà Rịa Vũng Tàu. Thi hn thc
hin Hp đồng đến hết ngày 10/08/2014.
Ngày 22/9/2014, Hai bên tiến hành đối chiếu công n thanh lý Hợp đng
kinh tế số: 23/2007/HĐKT.KSV.ĐTKD ngày 06/9/2007.
Ngày 02/10/2017, Công ty c phn K1 Công ty TNHH H4 Biên bn tha
thun, v việc KSVT đồng ý chuyển nhượng quyn khai thác khoáng sn ti m
IIA cho Công ty H4, nếu Công ty c phn K1 được quan thm quyn cp gia
hn Giy phép khai thác.
Đối vi yêu cu khi kin của nguyên đơn thì phía Công ty c phn K1 ý
kiến như sau:
7
Công ty c phn K1 không biết vic Công ty H4 ký hợp đồng vi Công ty
TNHH V;
Công ty c phn K1 không biết vic giao dch chuyển nhượng quyn khai thác
khoáng sn ti m Lô IIA gia Công ty TNHH V vi Công ty TNHH D.
Công ty c phn K1 đề ngh Toà án gii quyết v án theo quy định pháp lut.
* Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan, Công ty TNHH D trình bày: Công
ty TNHH D (sau đây gọi tt là Công ty D) xác định đã giao cho Công ty H4 và Công
ty V s tiền 1.000.000.000đ (một t đồng) để đặt cc chuyển nhượng quyn khai thác
khoáng sn ti m IIA. Quá trình t tng, Công ty D không ý kiến đề ngh
Toà án gii quyết theo quy định pháp lut.
* Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn N, do người kế
tha quyền và nghĩa vụ t tng ca ông Hoàng Văn N là ông Hoàng H2 trình bày:
Ông Hoàng Văn N trước đây là giám đốc Công ty H4. Vào năm 2021, sau khi
ông Hoàng Văn N chết thì ông Hoàng H2 mi biết v vic tranh chp gia Công ty
H4 và Công ty V liên quan đến m đá tại xã C, thP. Ông Hoàng H2 xác định ông
N nhn ca Nguyn Th T s tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đng). Tuy
nhiên sau này ông N nhn thc vic kết hợp đồng không đúng quy đnh pháp
luật nên đã xin tr li s tin trên. Ông N đã trả trước cho Công ty V s tin
130.000.000 đồng (Một trăm ba ơi triệu đng) do T đại din Công ty V nhn
tin. Tuy nhiên sau này phía bà T không đồng ý nhn s tin còn lại 370.000.000đ (ba
trăm bảy mươi triệu đồng) nên sau khi ông N chết đã giao cho ông Hoàng H2 qun
lý.
Nay đi vi tranh chp ca v án trên thì ông Hoàng H2 ý kiến như sau:
Hợp đồng tha thun không hy ngang gia Công ty V và Công ty H4 đối vi m đá
ti xã C, th P ch nhm mục đích ha mua, ha bán, thời điểm kết cũng
không có giá tr pháp do Giy phép khai thác m đã hết giá tr. Vì vậy đề ngh T
án xem xét gii quyết hu hợp đồng trên. Ông Hoàng H2 đồng ý tr s tin
370.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi triệu đồng) và đã bàn giao cho ông Vũ Văn T1
vào ngày 10/10/2024.
* Tại bản án Kinh doanh thương mại thẩm số 18/2024/KDTM-ST ngày 02
tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Rịa – Vũng u (nay
là Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V đối với Công ty
TNHH H4 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyn khai thác m đá”.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH H4 đối với Công
ty TNHH V về việc “Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyn khai thác m đá
vô hiệu”.
3. Tuyên Hợp đồng thoả thuận không huỷ ngang số 01/HĐKT-VHL-2011 ngày
02/7/2018 giữa Công ty TNHH H4 đối với Công ty TNHH V bị vô hiệu.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc Công ty TNHH H4 phải hoàn trả cho
Công ty TNHH V số tiền 370.000.000 đồng.
8
4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH V điện, trạm biến thế
760KVA ra khỏi mỏ đá tại B, ấp T, xã C, huyện T (thịP), tỉnh Rịa - Vũng
Tàu trả lại diện tích đất nguyên hiện trạng ban đầu cho Công ty TNHH H4.
5. Đối với giao dịch giữa Công ty D, Công ty V, Công ty H4 thì do hiện nay
Công ty D không yêu cầu trong vụ án nên Toà án không xem xét giải quyết.
Trường hợp sau này tranh chấp các đương sự được quyền khởi kiện trong vụ án
kinh doanh thương mại khác.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ do chậm thi hành
án, án phí và quyền kháng cáo.
* Ngày 17/12/2024 nguyên đơn Công ty TNHH V kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
- Yêu cầu công ty H4 và công ty Đ bồi thường 40% đất khai mỏ trên diện tích
lô 2A - Ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Yêu cầu Công ty H4 Công ty Đ trả lại một mẫu đất khai trường trong đó
có mt trạm điện cao thế trên đất lô 2A - ấp T, C, thị xã P, tỉnh Rịa - Vũng Tàu.
- Phần chi phí tố tụng trong vụ án bên thua chịu hoàn toàn chi p
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, các đương sự
không tthỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không cung cấp tài
liệu, chứng cứ mới.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Không căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH
V. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Công ty TNHH V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[1.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[1.1.1] Đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng thỏa thuận không hủy ngang ngày
02/7/2018 giữa Công ty TNHH V và Công ty TNHH H4 có hiệu lực pháp luật. Buộc
Công ty TNHH H4 để Công ty TNHH V được quyền khai thác đối với 40% diện tích
mỏ đá tại Lô B, ấp T, xã C, huyện T (thị xã P), tỉnh Bà Rịa - ng Tàu, đã nhận sang
nhượng Công ty cổ phần K1:
Hợp đồng thỏa thuận không hủy ngang số 01/HĐKT-VHL-2011 ngày
02/7/2018 giữa Công ty TNHH V Công ty TNHH H4 được giao kết trên cơ sở t
nguyện, vì mục đích lợi nhuận được lập thành văn bản, chữ của người đại
diện đóng dấu của hai công ty, các bên giao kết hợp đồng thừa nhận nên việc
kết hợp đồng này thật. Tại thời điểm thỏa thuận ngày 08/01/2018 và ngày kết
9
hợp đồng 02/7/2018, Công ty TNHH H4 đã thanh Hợp đồng kinh tế số
23/2007/HĐKT.KSV.ĐTKD với Công ty TNHH Một Thành Viên Đ (nay là Công ty
cổ phần K1) về việc hợp tác đầu tư để khai thác mỏ đá xây dựng 2A thuộc C,
huyện T (nay C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 22/9/2014. Cũng tại thời
điểm này, Giấy phép khai thác m số 1481QĐ/QLTN ngày 03/6/1996 có thời hạn 19
năm kể từ ngày cấp phép cho Công ty cổ phần K1 đã hết thời hạn (hết hạn vào ngày
03/6/2015). Tại khoản 2 Điều 54 Luật Khoáng sản năm 2010 quy định: “...Trường
hợp chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản cho tổ chức, nhân khác thì thời
hạn khai thác thời gian còn lại của Giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp trước
đó.” Do đó có căn cứ xác định thời điểm thỏa thuận ngày 08/01/2018 và ngày ký kết
hợp đồng không hủy ngang ngày 02/7/2018 thì Công ty TNHH H4 không quyền
chuyển nhượng đối với quyền khai thác mỏ đá tại Lô B, ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu (nay C, Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng thời tại khoản 1 Điều
66 Luật Khoáng sản 2010 quy định về chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản
như sau: “Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản đã hoàn thành
công tác xây dựng cơ bản đưa mỏ vào khai thác thì được chuyển nhượng quyền khai
thác khoáng sản”. Tại thời điểm này, Công ty cổ phần K1 chưa được cấp gia hạn giấy
phép khai thác khoáng sản nên cũng không quyền chuyển nhượng quyền khai thác
khoáng sản cho Công ty TNHH H4 hay Công ty TNHH V. Đồng thời trong Hợp đồng
thỏa thuận không hủy ngang ngày 02/7/2018 không sự tham gia của Công ty cổ
phần K1 nhưng Công ty TNHH H4 Công ty TNHH V lại ràng buộc trách nhiệm
của Công ty cổ phần K1 và Công ty TNHH H4 về việc không hủy ngang, không gây
áp lực, không sang nhượng cho bất kỳ đối tác nào khác không đúng về mặt chủ thể
giao kết và thực hiện hợp đồng. Do đó nội dung của Hợp đồng thỏa thuận không hủy
ngang ngày 02/7/2018 giữa Công ty TNHH V Công ty TNHH H4 không thể
thực hiện được do Công ty TNHH H4 không quyền chuyển nhượng quyền khai
thác khoáng sản đối với mỏ đá B, ấp T, C, huyện T, tỉnh Rịa - Vũng Tàu.
Như vậy, Hợp đồng không hủy ngang số 01/HĐKT-VHL-2011 ngày 02/7/2018
hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự “Trường hợp ngay từ khi
giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này vô hiệu”.
Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH H4 không đồng ý tiếp tục thực hiện Hợp
đồng thỏa thuận không hủy ngang ngày 02/7/2018, do đó không căn cứ để chấp
nhận yêu cầu này của Nguyên đơn.
[1.1.2] Đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng số 11 (Biên bản thỏa thuận) ngày
09/8/2007 giữa Công ty TNHH V Công ty TNHH H4 hiệu lực pháp luật. Qua
đó công nhận quyền sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH V đối với cơ sở hạ tầng kỹ
thuật sau: Đường điện, trạm biến thế 760KVA; Nhà xưởng bệ máy nghiền; Diện tích
nhà xưởng, sân công nghiệp, bãi thải với diện tích 3,615 ha; Đường ra vào khu mỏ:
Khoản 2 Điều 58 Luật Khoáng sản 2010 quy định về việc Giấy phép khai thác
khoáng sản chấm dứt hiệu lực pháp luật khi: “b) Giấy phép hết hạn.”. Giấy phép khai
thác mỏ số 1481QĐ/QLTN ngày 03/6/1996 có thời hạn 19 năm kể từ ngày cấp phép
(hết hạn ngày 03/6/2015). Tại khoản 3 Điều 58 Luật khoáng sản năm 2010 quy định:
“Khi giấy phép khai thác khoáng sản chấm dứt hiệu lực thì các công trình, thiết bị
đảm bảo an toàn m, bảo vệ môi trường ở khu vực khai thác khoáng sản thuộc sở hữu
nhà nước, không được tháo dỡ, phá hủy. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Giấy
phép khai thác khoáng sản chấm dứt hiệu lực, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản
10
phải di dời tài sản còn lại của các bên có liên quan ra khỏi khu vực khai thác khoáng
sản; Sau thời hạn này, i sản còn lại thuộc sở hữu của nhà nước.”. Như vậy đã hết
thời hạn 06 tháng kể từ ngày 03/6/2015, Công ty TNHH H4 Công ty TNHH V
không di dời tài sản của mình ra khỏi khu vực được cấp phép khai thác mỏ thì tài sản
này thuộc sở hữu của nnước. Do đó không căn cứ chấp nhận yêu cầu này của
Công ty TNHH V.
[1.1.3] Đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH H4 thanh toán cho Công ty TNHH
V số tiền lợi nhuận đem lại từ việc Công ty TNHH H4 khai thác mỏ từ đầu năm 2018
(đã sử dụng sở hạ tầng kỹ thuật của Hồng L) đến nay khoảng 1.000.000.000
đồng: Như nhận định phần trên, Hợp đồng không hủy ngang số 01/HĐKT-VHL-
2011 ngày 02/7/2018 vô hiệu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Bộ luật dân sự
2015 thì “Giao dịch dân sự hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập.”. Do đó
Công ty TNHH H4 không phải thanh toán cho Công ty TNHH V số tiền
1.000.000.000 đồng. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của Công ty TNHH V.
[1.2] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn:
[1.2.1] Đối với yêu cầu tuyên hiệu giao dịch chuyển nhượng quyền khai thác
mỏ đá giữa Công ty TNHH H4 Công ty TNHH V theo Hợp đồng thỏa thuận không
hủy ngang ngày 02/7/2018 giữa Công ty TNHH H4 Công ty TNHH V giải quyết
hậu quả hợp đồng vô hiệu: Do Công ty TNHH H4 chưa nhận được khoản tiền nào từ
các giao dịch chuyển nhượng nêu trên nên không yêu cầu giải quyết; Đối với số tiền
Công ty TNHH V chuyển vào tài khoản nhân ông N, đề nghị người kế thừa của
ông N có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà T:
Do Hợp đồng không hủy ngang số 01/HĐKT-VHL-2011 ngày 02/7/2018
hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được như nhận định ở phần trên, nên căn
cứ chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu giao dịch chuyển nhượng quyền khai thác mỏ đá
giữa Công ty TNHH H4 Công ty TNHH V theo Hợp đồng thỏa thuận không hủy
ngang ngày 02/7/2018 giữa Công ty TNHH H4 và ng ty TNHH V.
Đối với việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu: Tại khoản 2 Điều 131
Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự hiệu thì các bên khôi phục
lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những đã nhận.”. Ông Hoàng Văn N
đã nhận số tiền 500.000.000 đồng là tiền đặt cọc của Công ty TNHH V, mặc dù quá
trình tố tụng, ông N cho rằng chỉ nhận với cách cá nhân, không liên quan đến Công
ty TNHH H4 nhưng căn cứ Giấy nhận tiền cọc bán m đá lô 2A ấp T, xã C, huyện T,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 02/07/2018, có chữ ký và đóng dấu của đại diện 03
bên gồm Công ty TNHH V, Công ty TNHH H4 Công ty TNHH D thì căn cứ
xác định Công ty TNHH V Công ty TNHH H4 đã nhận tiền cọc 500.000.000 đồng
của Công ty TNHH D theo Giấy nhận tiền cọc giữa ông Hoàng Văn N bà
Nguyễn Thị Thanh K nhận ngày 02/10/2018 đối với số tiền 500.000.000 đồng, căn
cứ xác định ông N với cách đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH H4 đã
nhận tT đại diện Công ty TNHH V số tiền 500.000.000 đồng. Do đó Công ty
TNHH H4 trách nhiệm thanh toán lại số tiền cọc 500.000.000 đồng đã nhận của
Công ty TNHH V.
11
Đối với việc ông N đã trả lại cho bà T tổng stiền 130.000.000 đồng theo Giấy
nhận tiền ngày 01/10/2018 và giấy lập ngày 14/11/2018 với nội dung “T mượn lại
tiền của ông N”. Mặc dù bà T cho rằng số tiền này không liên quan đến số tiền Công
ty TNHH V đặt cọc cho Công ty TNHH H4 nhưng quá trình tố tụng giải quyết vụ án
ông N khẳng định đây khoản tiền cọc ông N trả lại cho bà T còn lại 370.000.000
đồng tiếp tục yêu cầu được trả lại nhưng T không đồng ý nhận. Hiện người kế thừa
quyền nghĩa vụ ttụng của ông N ông Hoàng H2 đã giao số tiền 370.000.000
đồng ông N để lại cho đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH H4 hiện tại là ông
Văn T1. Như vậy đủ căn cứ xác định ông N đã trả lại cho T với tư cách là
đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V số tiền 130.000.000 đồng. Do đó Công
ty TNHH H4 n phải trả lại cho Công ty TNHH V số tiền nhận cọc là 370.000.000
đồng.
Xét lỗi dẫn đến giao dịch dân sự hiệu: Khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự
2015 quy định: “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Tại khoản 2 Điều 408
Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp khi giao kết hợp đồng một bên biết
hoặc phải biết về việc hợp đồng đối tượng không thể thực hiện được nhưng không
thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt
hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng đối
tượng không thể thực hiện được.”. Khi giao kết Hợp đồng không hủy ngang số
01/HĐKT-VHL-2011 ngày 02/7/2018, Công ty TNHH H4 và Công ty TNHH V đều
biết Giấy phép khai thác mỏ s1481QĐ/QLTN ngày 03/6/1996 thời hạn 19 năm
kể tngày cấp phép, đã hết hạn vào ngày 03/6/2015 Công ty TNHH H4 không còn
quyền chuyển nhượng quyền khai thác mỏ nhưng vẫn giao kết hợp đồng. Do đó cả
hai bên đều có lỗi ngang nhau và không thuộc trường hợp phải bồi thường thiệt hại.
[1.2.2] Đối với yêu cầu Buộc Công ty TNHH V tháo dỡ đường điện, trạm biến
thế 760KVA ra khỏi mỏ đá 2A, trả lại diện tích đất nguyên trạng ban đầu cho Công
ty TNHH H4: Tại phiên toà sơ thẩm, Công ty TNHH H4 đã rút yêu cầu này, việc rút
yêu cầu này tnguyện, không trái pháp luật nên chấp nhận, án sơ thẩm đình chỉ xét
xử yêu cầu này là có căn cứ.
[2] Đối với việc Công ty TNHH D đã đặt cọc cho Công ty TNHH H4 và Công
ty TNHH V tổng số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy thỏa thuận nhận cọc ngày
06/11/2018. Trong Giấy nhận cọc này không có chữ ký của đại diện và mộc dấu của
Công ty TNHH H4. Quá trình tố tụng, Công ty TNHH D không yêu cầu độc lập
trong vụ án nên không xem xét. Trường hợp sau này yêu cầu tđương sđược
quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[3] Từ phân tích, nhận định tại mục [1] và [2] nêu trên. Không có căn cứ chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Công ty TNHH V không được chấp nhận nên Công ty TNHH V phải chịu 300.000
đồng án phí không giá ngạch 42.000.000 đồng án pgiá ngạch đối với số
tiền 1.000.000.000 đồng không được chấp nhận;
Yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH H4 được chấp nhận một phần nên
bị đơn Công ty TNHH H4 không phải chịu; nguyên đơn Công ty TNHH V phải chịu
300.000 đồng.
12
Tổng cộng, nguyên đơn Công ty TNHH V phải chịu 42.600.000 đồng án phí
sơ thẩm, được trừ 21.000.000 đồng tạm ứng án phí do Công ty TNHH V đã nộp theo
biên lai thu số 0006598 ngày 26/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị Phú
Mỹ. Công ty TNHH V còn phải nộp 21.600.000 đồng.
Án thẩm không trừ tiền tạm ứng án pthẩm 21.000.000 đồng do Công
ty TNHH V đã nộp thiếu sót, cấp phúc thẩm chỉnh bản án thẩm, trừ stiền
này vào tiền án phí Công ty TNHH V phải chịu trong vụ án bảo đảm, không
cần thiết phải sửa án sơ thẩm.
[5] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn
Công ty TNHH V không được chấp nhận nên nguyên đơn Công ty TNHH V phải chịu
2.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH V. Giữ nguyên
bản án Kinh doanh thương mại thẩm số 18/2024/KDTM-ST ngày 02 tháng 12 năm
2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh), như sau:
Căn cứ các Điều 147, 244, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các
Điều 123, 131, khoản 2 Điều 398, Điều 408 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 3, Điều
11 Luật Thương mại; khoản 2 Điều 54, các khoản 2, 3 Điều 58, khoản 4 Điều 59,
khoản 3 Điều 66 Luật Khoáng sản; điểm a khoản 1 Điều 37 Nghị định 158/NĐ- CP
ngày 29/11/2016; Các Điều 26, 27, 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V đối với Công ty
TNHH H4 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyn khai thác m đá”.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH H4 đối với Công
ty TNHH V về việc “Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyn khai thác m đá
vô hiệu”.
3. Tuyên Hợp đồng thoả thuận không huỷ ngang số 01/HĐKT-VHL-2011 ngày
02/7/2018 giữa Công ty TNHH H4 đối với Công ty TNHH V bị vô hiệu.
Về hậu quả của hợp đồng hiệu: ng ty TNHH H4 nghĩa vụ hoàn trả cho
Công ty TNHH V số tiền 370.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi triệu đồng).
4. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên
được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân stương ứng với thời gian chưa thi hành
án.
5. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bị đơn Công ty TNHH H4 về việc buộc
Công ty TNHH V điện, trạm biến thế 760KVA ra khỏi mđá tại B, ấp T, C,
13
huyện T (thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trả lại diện tích đất nguyên hiện trạng ban
đầu cho Công ty TNHH H4.
6. Về chi phí tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ, đo vẽ, thẩm định giá, định
giá tài sản 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng): Nguyên đơn Công ty TNHH V
phải chịu và đã nộp xong.
7. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
7.1. Công ty TNHH V phải chịu 42.600.000 đồng, được trừ 21.000.000 đồng
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006598 ngày 26/10/2022 của Chi cục thi
hành án dân sthị xã Phú Mỹ (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, Thành
phố Hồ Chí Minh). Công ty TNHH V còn phải nộp 21.600.000 đồng (hai mươi mốt
triệu sáu trăm nghìn đồng).
7.2. H3 lại cho Công ty TNHH H4 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006757 ngày 11/01/2023 của Chi cục thi hành án
dân sự thị Phú Mỹ (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, Thành phố Hồ
Chí Minh).
8. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH V phải chịu
2.000.000 đồng (hai triệu đồng), được trừ 2.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên
lai thu số 0002279 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú
Mỹ. Đã nộp đủ.
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
10. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TP . Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 12, TP . Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 12, TP . Hồ Chí Minh;
- THADS TP . Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (39). (đã ký)
Trương Văn Tâm
14
Tải về
Bản án số 326/2025/KDTM-PT Bản án số 326/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 326/2025/KDTM-PT Bản án số 326/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất