Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 15/08/2025 của TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 15/08/2025 của TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Tây Ninh (TAND tỉnh Tây Ninh)
Số hiệu: 31/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hữu K - Trần Thị Bạch N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 10 - N Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 31/2025/DS-ST
Ngày: 15-8-2025.
Về việc: “Tranh chấp chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Mai Trần Phúc;
2/ Bà Nguyễn Xuân Thủy.
- Thư phiên tòa: bà Đàm Nguyên Phượng - Thư Tòa án nhân dân khu
vực 10 - N.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - N tham gia phiên tòa:
bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - N xét xử
thẩm công khai vụ án thụ số: 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 07-02-2025 về
Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Huỳnh Hửu K, sinh năm 1968, căn cước công dân
072068011765; địa chỉ: số nhà 88 Đường T, khu phố 21, phường T, tỉnh N.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960;
địa chỉ: số nhà 8B, hẻm 31 đường Trần Hưng Đạo, khu phố 22, phường T, tỉnh N (
mặt).
2. Bị đơn: bà Trần Thị Bạch N, sinh năm 1976, căn cước công dân số
072176008637; địa chỉ: số nhà 88 Đường T, khu phố 21, phường T, tỉnh N, (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Lưu Ánh N Luật
Công ty Luật hợp danh T, Đoàn Luật sư tỉnh N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào khoảng tháng 10-2024 Trần Thị Bạch N nói với ông Huỳnh
Hửu K là có người giúp đỡ làm thủ tục đi định cư nước ngoài, nhưng với điều kiện là
phải tài sản riêng xác nhận độc thân, cho nên giữa ông K N sau khi n
bạc tiến hành làm thủ thục thuận tình ly hôn (giã cách) và phân chia tài sản chung
vào ngày 09-12-2024 tiến hành lập văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ
chồng, tiếp sau đó vào ngày 10-12-2024 tiến hành làm thủ tục thoả thuận chia tài sản
chung 01 chiếc xe Toyota biển đăng 70A- 265,67 một căn nhà, khu phố 21
phường T, tỉnh N căn nhà khu phố 20 phường T, tỉnh N. Tại thời điểm này tổng
giá trị tài sản làm thủ tục thoả thuận trên 7. 000.000.000 đồng. Do ly hôn giả nên
ông K vẫn tiếp tục sử dụng và tại căn nhà nói trên cho nên ông K đồng ý tiến hành
thực hiện các thủ tục liên quan. N nhờ chị Tâm gần nhà cán bộ phường 1
tiến hành làm tất cả các thủ tục liên quan để Nga nhận tặng tài sản các quyền sử
dụng đất và xe nêu trên. Vì ông K tin tưởng bà N và bà N cũng dặn ông K là khi đến
Ủy ban nhân dân phường 1 công chứng t chỉ ký tên thôi, không được hỏi gì hết
vì nếu hỏi người ta sẽ biết minh làm thủ tục giả cách, cho nên khi đến phường ký tên
ông K tin tưởng không đọc lại nội dung. Sau khi ký xong thủ tục công chứng bà N có
đưa cho ông K số tiền 600.000.000 đồng để tôi tiếp tục mua bán kinh doanh nuôi con
ăn học. Sau khi bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà N đuổi ông
K ra khỏi nhà và thách thức ông K khởi kiện
Ngoài 02 căn nhà nói trên hiện nay ông K hoàn toàn không còn nơi nào
ngụ khác mà phải đi thuê nhà ở. Ngoài ra trong thời kỳ hôn nhân ông K N còn
02 số tiết kiệm một gửi tại Ngân hàng Sacombank số tiền 1.100.000.000 đồng một
gửi tại Ngân hàng SHbank số tiền 1.100.000.000đồng do Trần Thị Bạch N chủ tài
khoản. Vào thời điểm phân chi tài sản ông K biết nhưng vì thủ tục ly hôn giả
nên không phân chia đối với hai quyển sổ tiết kiệm y. Toàn bộ tài sản được từ
trước đến nay hoàn toàn là do ông K tạo dựng, kinh doanh mua bán nhà đất, chạy xe
lôi, lao động phổ thông, bà N chỉ góp công gìn giữ.
Nay ông K khởi kiện yêu cầu yêu cầu huỷ Văn bản thoả thuận chia tài sản
chung của vợ chồng số: 152 quyển số: 01/2024 được xác lập tại UBND phường 01
Tp N ngày 09/12/2024 đối với các tài sản n đất tọa lạc tại số 88 đường
Đường T, khu phố 21 phường T, tỉnh N 01 căn nhà nằm xen kẽ giữa căn nhà số
79 căn nhà số 81 Hẻm số 1 đường Cách Mạng Tháng Tám tọa lạc tại khu phố 20
phường T, tỉnh N và yêu cầu chia ½ số tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Sacombank
và Ngân hàng SHbank tổng cộng là 2.200.000.000 đồng nay ông K yêu cầu Trần Thị
Bạch N chia ông Huỳnh Hửu K ½ số tiền trên tương đương 1.100.000.000 đồng (một
tỷ, một trăm triệu đồng chẵn). Đối với văn bản thỏa thuận công chứng số 153 ngày
10-12-2024 thỏa thuận phân chia 01 chiếc xe ô thì ông K không ý kiến yêu
cầu.
3
Theo đơn khởi kiện ông K yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất
thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 67 tọa lạc tại khu phố 2, phường 1, thành phố N, tỉnh
N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số CL 425860 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh N cấp ngày 24-10-
2017; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 529, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại khu phố 3,
phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10756
do Sở Tài nguyên i trường tỉnh N cấp ngày 13-5-2021. Tuy nhiên sau đó ông
K rút yêu cầu khởi kiện đối với việc chia các quyền sử dụng đất này.
Bị đơn Trần Thị Bạch N trình bày:
Ngày 09-12-2024 ông K có thoả thuận với bà về việc phân chia tài sản chung
của vợ chồng, ông K tnguyện làm bản cam kết giao toàn bộ tài sản là: 01 chiếc xe
ToYoTa hiệu Vios biền số 70A 265.67; 02 phần đất toạ lạc tại khu phố 2 và khu phố
3 cho bà N được toàn quyền quản lý, sử dụng, sang tên và định đoạt 02 phần đất nêu
trên đồng thời yêu cầu bà giao cho ông K stiền 600.000.000 đồng cam kết
sau khi nhận đủ số tiền trên ông K skhông gây cản trở, khó khăn tranh chấp bất kỳ
hình thức nào đối với toàn bộ tài sản chung. Ông K đã nhận xong vào ngày 09-12-
2024 ông K viết giấy nhận tiền cho N. Sau khi thống nhất xong N đã rút
600.000.000 đồng từ 02 quyển sổ tiết kiệm 2.200.000.000 đồng. Sau đó số tiền tiết
kiệm n lại 1.600.000.000 đồng bà đã rút ra chi phí cho con gái đóng tiền học
phí, thuê nhà, mua sách sở dụng cụ học tập ăn uống đi lại từ ngày nhập học (Đại
học từ tháng 9/2024 đến nay chi phí số tiền là 207.977.000 đồng, hiện tại tiền tiết
kiệm bà N chỉ còn lại 1.393.023.000 đồng. Do trong thời gian tới phải nuôi con ăn
học tốn kém nên nay đồng ý hỗ trợ thêm cho ông K 40% số tiền tiết kiệm còn lại
557.209.000 đồng, scòn lại 60% tương ứng số tiền 835.813.800 đồng trong đó
dự kiến 3 năm học đại học còn lại của cháu Vy là 720.000.000 đồng.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - N phát biểu ý kiến:
1/Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư
phiên tòa:
Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết
định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định, nội dung, thẩm quyền theo Bộ
luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2/Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3/Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần
yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, ghi nhận N đồng ý hỗ trợ cho ông K
số tiền 557.209.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân
4
chia tài sản số 152 quyển số: 01/2024 được xác lập tại UBND phường 01 Tp N ngày
09/12/2024 đối với các tài sản quyền sử dụng đất thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 67
tọa lạc tại khu phố 2, phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CL 425860 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 24-10-2017; quyền sử dụng đất thuộc thửa số
529, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại khu phố 3, phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sCS10756 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh N
cấp ngày 13-5-2021.
Về án phí: đề nghị tính án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được xem xét tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông K về việc yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận
phân chia tài sản chung vợ chồng công chứng chứng thực số 152 quyển số 01/2024-
SCT/HĐ,GD ngày 09-12-2024 tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố N, tỉnh N
thì thấy rằng: ngày 27-12-2024 N ông K ly hôn theo Quyết định công nhận sự
thỏa thuận số 376/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27-12-2024. Theo đó thì bà Khanh
ông Nga chỉ giải quyết về hôn nhân, còn tài sản chung thì hai vợ chồng tự thỏa thuận,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trước đó, ngày 10-12-2024 tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố N (cũ),
N ông K đã lập 02 văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung bao gồm: Văn
bản thỏa thuận số chứng thực 153, quyển số 01/2024 thỏa thuận giao cho N 01 xe
ô biển số 70A-265.67, hiệu Toyota; văn bản thỏa thuận số 152 quyển số 01/2024-
SCT/HĐ,GD thỏa thuận giao lại cho N được hưởng 02 quyền sử dụng đất như
sau: quyền sử dụng đất thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 67 tọa lạc tại khu phố 2,
phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CL 425860 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh N cấp ngày 24-10-2017; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 529, tờ bản đồ
số 20 tọa lạc tại khu phố 3, phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS10756 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 13-
5-2021. Các văn bản thỏa thuận này được chứng thực tại Ủy ban nhân dân Phường 1,
thành phố N, tỉnh N. N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu xe giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất xong. Ông K cho rằng giữa ông và bà N là thỏa thuận
ly hôn giả và thỏa thuận phân chia tài sản chung là giả, bà N không thừa nhận và ông
K cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Văn bản thỏa thuận 152 quyển
số 01/2024-SCT/HĐ,GD về việc phân chia tài sản chung giữa ông K và N phù
hợp với quy định của pháp luật về mặt nội dung cũng như hình thức. Do đó không có
căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận
số 152 quyển số 01/2024-SCT/HĐ,GD lập tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố
N, tỉnh N ngày 10-12-2024 giữa ông K và bà N là vô hiệu.
5
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông K yêu cầu chia ½ giá trị 02 quyển sổ tiết
kiệm trị giá 2.200.000.000 đồng tthấy rằng: ngày 09-12-2024 sau khi ông K
N xong văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung N đã giao cho ông K số
tiền 600.000.000 đồng thì ông K đã 01 tờ cam kết với nội dung “Tôi cam kết khi
nhận đủ số tiền nêu trên tôi không gây cản trở, khó khăn tranh chấp bất kỳ hình thức
nào đối với tài sản chung của 02 vợ chồng”. Số tiền tiết kiệm 2.200.000.000 đồng
ông K khởi kiện trong vụ án này thì các bên đều thừa nhận đây tài sản chung
của vợ chồng. Như vậy cùng với 02 văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của
vợ chồng nêu trên tờ cam kết thì N ông K đã thỏa thuận phân chia tài sản
chung của vợ chồng xong. Nay ông K khởi kiện yêu cầu N chia đôi số tiền tiết
kiệm 2.200.000.000 đồng không căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên tại phiên tòa,
N đồng ý hỗ trợ cho ông K số tiền 557.209.000 đồng nên ghi nhận.
[3] Theo đơn khởi kiện ông K yêu cầu chia tài sản chung các quyền sử
dụng đất thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 67 tọa lạc tại khu phố 2, phường 1, thành phố
N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác
gắn liền với đất sCL 425860 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh N cấp ngày 24-
10-2017; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 529, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại khu phố 3,
phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10756
do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh N cấp ngày 13-5-2021. Tuy nhiên sau đó ông
K rút yêu cầu khởi kiện đối với phần này, do đó đình chỉ giải quyết đối với phần yêu
cầu này.
[3] T nhng phân tích nêu trên xét thy cn chp nhn đề ngh ca Đại din
Vin kim sát nhân dân khu vc 10-N.
[4] V chi phí xem xét thm định ti ch: ông phi chu 1.500.000 đồng tin chi
phí xem xét thm định ti ch, ông K đã thi hành xong s tin này.
[5] V án phí dân s thm: do yêu cu khi kin ca ông K không đưc chp
nhn nên ông K phi chu tin án phí. N nghĩa v giao li cho ông K s tin
557.209.000 đồng tuy nhiên đây s tin N h tr thêm cho ông K do đó
N không phi chu án phí dân s thm đối vi phn này.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 33, 38, 39 của Luật Hôn nhân và gia đình, các Điều 27, 37
của Luật Đất Đai, Điều 213 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí,
lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hửu K đối với Trần
Thị Bạch N về “Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân”
6
Buộc bà Trần Thị Bạch N nghĩa vụ giao cho ông Huỳnh Hửu K số tiền
557.209.000 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu hai trăm lẻ chín nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hửu K về việc yêu cầu
tuyên bố hiệu các văn bản thỏa thuận số 152 quyển số 01/2024-SCT/HĐ,GD lập
tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố N, tỉnh N ngày 10-12-2024 giữa ông K
N về việc giao cho N được quyền quản lý, sdụng 02 quyền sử dụng đất
quyền sử dụng đất thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 67 tọa lạc tại khu phố 2, phường 1,
thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CL 425860 do Sở Tài nguyên i trường tỉnh N
cấp ngày 24-10-2017; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 529, tờ bản đồ số 20 tọa lạc
tại khu phố 3, phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CS10756 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 13-5-2021.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hửu K về việc yêu cầu
chia tài sản chung quyền sử dụng đất thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 67 tọa lạc tại
khu phố 2, phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CL 425860 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh N cấp ngày 24-10-2017; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 529, tờ
bản đồ số 20 tọa lạc tại khu phố 3, phường 1, thành phố N, tỉnh N theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sCS10756 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh N cấp
ngày 13-5-2021.
Ông K quyền khởi kiện lại vụ án đối với yêu cầu này theo quy định của bộ
luật Tố tụng dân sự.
4. Về chi phí xem t thẩm định tại chỗ: ông K phải chịu 1.500.000 đồng tiền
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, ông K đã thi hành xong.
5. Về án phí sơ thẩm dân sự:
Ông Huỳnh Hửu K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự thẩm, khấu
trừ số tiền tạm ứng án phí ông K đã nộp 22.800.000 đồng theo Biên lai thu số
0004000 ngày 07-02-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh N, ông
K được nhận lại 22.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Trường hp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7
6. Các đương sự mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh TN;
- VKSND tỉnh TN;
- VKSND khu vực 10-N;
- THADS tỉnh N;
- Các đương sự; Nguyễn Thị Cẩm Ly
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu trữ VP.
Tải về
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất