Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 17/05/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 17/05/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Mỹ Hào (TAND tỉnh Hưng Yên)
Số hiệu: 31/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/05/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ MH Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
TỈNH HƯNG YÊN –––––––––––––––––––––––––––––––
–––––––––––––––
Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày: 17 - 5 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN
NHÂN DÂN THỊ XÃ MH - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Hùng - Cán bộ hưu trí
Bà Nguyễn Thị Thìn - Giáo viên nghỉ hưu
Thư phiên toà: Ông Tiến Đạt - Thư Tòa án nhân dân thị MH,
tỉnh Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
Bà Đỗ Thị Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị MH, tỉnh Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số: 19/2022/TLST -
HS ngày 08/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
27/2022/QĐXXST - HS ngày 04/5/2022 đối với các bị cáo:
1. Đặng Văn T, sinh năm 1996 tại xã MQ, huyện TY, tỉnh YB.
Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trú: Thôn 9 HD,
xã MQ, huyện TY, tỉnh YB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12;
dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Đặng Văn N, sinh năm 1967 và bà Mễ Thị H, sinh năm 1972; vợ: Đặng
Thị D, sinh năm 1984; con: 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2022, tạm giam ngày 15/01/2022. Hiện bị cáo
đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo mặt tại
phiên tòa. 2. Lò Văn H, sinh năm 2001 tại xã PT, huyện ML, tỉnh SL.
Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Bản CL, xã
PT, huyện ML, tỉnh SL; nghề nghiệp: Lao động tdo; trình độ văn hóa: 12/12;
dân tộc: La Ha; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò
Văn S Thị S1; vợ, con: Chưa ; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm
giữ từ ngày 12/01/2022, tạm giam ngày 15/01/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam
tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn H: Vương Thị Thanh Nhàn - Trợ
giúp viên pháp thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Hưng Yên (Có
mặt). * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị Q, sinh năm: 1945 (Vắng mặt).
2
Địa chỉ: Thôn HN, xã MH1, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
* Người làm chứng:
- Ông Đặng Văn N, sinh năm: 1967 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn 9 HD, xã MQ, huyện TY, tỉnh YB.
- Anh Văn S, sinh năm: 1983 (Vắng mặt). Địa chỉ: Bản CL, PT,
huyện ML, tỉnh SL.
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1988 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Tổ dân phố YT, phường NH, thị MH, tỉnh Hưng Yên NỘI
DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v
án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn T Văn H đều là công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công Thương Tinh Nhuệ Hưng Yên đều đối tượng nghiện chất ma túy.
Chiều ngày 11/01/2022 sau khi hết giờ làm, T điều khiển xe mô tô biển số 21B1-
691.76 chở H về nhà trọ, trên đường vT rủ H góp tiền đi mua ma túy ng sử
dụng, H đồng ý rồi cả hai về phòng trọ. Do không có tiền nên T hỏi vay bà Trịnh
Thị Q 500.000 đồng mục đích góp tiền cùng với H mua ma túy nhưng nói với bà
Q là để đi mua đồ ăn. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày H đi sang phòng trọ
của T đưa cho T 500.000 đồng để mua ma túy, T cầm tiền cho vào túi quần rồi
điều khiển xe nói trên chở H đi xuống khu vực bờ ng thuộc khu Hạ, thị
trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Khi đến i, H đứng chờ ngoài,
còn T một mình đi bộ vào trong ngõ mua 06 gói ma túy (Heroine) với giá
1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cầm ra đưa cho H 06 gói ma y nêu
trên, H cầm 06 gói ma túy cho vào túi áo khoác bên trái, T tiếp tục điều khiển xe
tô chở H cùng số ma túy nêu trên để đi về phòng trọ. Trên đường về đến trước
cổng Công ty Enro Hause thuộc tổ dân phố YT, phường NH, thị MH lúc này
khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an thị xã MH phối hợp với
tổ tuần tra Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Hưng Yên kiểm tra phát hiện.
Vật chứng thu giữ: Tại túi áo khoác ngoài bên trái của H có 01 gói giấy bạc
05 gói nilon màu trắng, bên trong mỗi gói nilon 01 gói giấy bạc; trong 06
gói giấy bạc này bên trong đều chứa chất mầu trắng dạng cục, bột đã niêm phong
ghi ký hiệu "A1". Ngoài ra Cơ quan Công ann quản lý của T 01 chiếc xe mô tô
nhãn hiệu Honda Winner biển số 21B1-691.76; 01 đăng ký xe mô tô trên và kiểm
tra trong cốp xe không thu giữ đồ vật gì.
Cùng ngày 12/01/2022, quan Cảnh sát điều tra Công an thị MH tiến
hành khám xét khẩn cấp chỗ của T H thôn HN, MH1, huyện VL, kết
quả khám xét đều không thu giữ đồ vật gì thêm.
Tại bản thông báo kết luận bộ số 95/MT-PC09 ngày 12/01/2022 Bản
kết luận giám định số 95/MT-PC09 ngày 15/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự
3
Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm
phong ghi ký hiệu A1 có tổng khối lượng là 1,466g (Một phẩy bốn sáu sáu gam),
ma y, loại: Heroine. Hoàn lại trong niêm phong giao cho Công an thị xã
MH 01 phong ghi số 95/MT - PC09 bên trong có: 1,200g heroine trong niêm
phong hiệu A1; toàn bộ các mảnh nilon các mảnh giấy bạc bọc ma túy
01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra, T H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của
mình. T còn khai nhận: Nguồn gốc 06 gói ma túy T H tàng trữ ngày
11/01/2022 là do T mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ ở trong
ngõ khu vực bờ sông thuộc khu Hạ, thị trấn kSặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải
Dương với giá 1.000.000 đồng. Ngoài ra trước đó sáng ngày 11/01/2022 tại khu
vực bờ sông thuộc thị trấn Kẻ sặt, huyện Bình Giang, T cũng mua 01 gói ma túy
với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không tên, tuổi địa chỉ. Còn H
trưa ngày 11/01/2022 cũng mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng của một người
đàn ông không tên, tuổi địa chỉ sau đó đều mang về phòng trọ một mình sử
dụng hết.
Đối với việc người đàn ông không rõ họ tên, tuổi địa chỉ bán ma túy cho T,
H vào ngày 11/01/2022 tại khu vực bờ sông thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện
Bình Giang, tỉnh Hải Dương hành vi T, H khai sử dụng ma túy phòng trọ
thuộc thôn HN, MH1, huyện VL; quan Cảnh sát điều tra Công an thị
MH đã có công văn thông báo đến quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình
Giang, tỉnh Hải Dương quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VL để giải
quyết theo thầm quyền.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 21B1 - 691.76 quản lý của T qua điều tra xác
định là tài sản hợp pháp của T, T đề nghị xin lại chiếc xe và giấy đăng ký xe nêu
trên. Đối với số tiền 500.000 đồng Q cho T vay, Q không biết T sử dụng vào
việc mua ma túy nên không căn đxử lý, đến nay Q không yêu cầu đề
nghị giải quyết.
Tại bản cáo trạng số: 24/CT - VKSMH ngày 08/4/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân thị MH, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Đặng Văn T, Văn H về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình
sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH giữ nguyên quyết định truy tố
đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng n T, Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”.
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17;
Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo T, H. Khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự đối với bị cáo H. Xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng
tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ
4
12/01/2022. Xử phạt bị cáo H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12/01/2022. Không áp dụng hình
phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị o. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản
1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điểm a
khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiêu hủy: 01 phong niêm phong hoàn
lại sau giám định số 95/MT-PC09 có tên và chữ ký của ông Hoàng Quốc Khánh,
Nguyễn Văn Học dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên. Trả
lại bị cáo T 01 xe nhãn hiệu Winer, mầu trắng đen, biển kiểm soát 21B1-
691.76, số khung RLHKC2609GY090957, số máy KC26E1125497 01 giấy
chứng nhận đăng xe số 066219 của xe biển kiểm soát 21B1-691.76
mang tên Đặng Văn T. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật
Người bào chữa cho bị cáo H nhất trí với tội danh, điều luật các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH áp dụng
cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Các bị cáo nghe rõ, nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm
sát nhân dân thị xã MH; bị cáo H nhất trí nội dung bào chữa của người bào chữa
cho bị cáo. Các bị cáo không tranh luận đều đề nghị Hội đồng xét xcho các
bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bcáo sớm trở về gia đình hòa nhập
cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an
thị MH và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị MH kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo
không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành t
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận
thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị
cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại quan điều tra; lời khai
của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của những người làm chứng; biên bản
kiểm tra; kết luận giám định cùng các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ.
Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Chiều ngày 11/01/2022 trên đường đi làm về,
T rủ H góp tiền đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng thì H đồng ý. Sau đó T chở
H bằng xe mô tô biển số 21B1- 691.76 đi xuống khu vực bờ sông thuộc Khu Hạ,
thi trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; H đứng chờ ngoài còn T
5
một mình đi bộ vào trong ngõ mua 06 gói ma túy (heroine). Sau khi mua được ma
túy; T đưa cho H số ma túy để H cất giữ và tiếp tục chở H về phòng trọ. Khoảng
21 giờ 30 phút ngày 11/01/2022 tại trước cổng Công ty Enso House thuộc tổ dân
phố YT, phường NH, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên; T và H bị lực lượng Công an thị
MH phối hợp với tổ tuần tra Phòng cảnh sát động Công an tỉnh Hưng Yên
kiểm tra, phát hiện thu giữ: Tại túi áo khoác ngoài bên trái của H 01 gói giấy
bạc và 05 gói ni lon màu trắng bên trong mỗi gói nilon có 01 gói giấy bạc; trong
06 gói giấy bạc bên trong chứa 1,466g ma túy Heroine. Các bcáo khai nhận số
ma túy H tàng trữ trên người do T H góp tiền mua với mục đích để các b
cáo cùng nhau sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái
phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu
trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho hội, trực tiếp xâm phạm
đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho
hội. Các bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp
luật nhưng vẫn phạm tội. Việc sử dụng ma túy rất nguy hiểm cho sức khỏe
nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng tầng
lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, làm giảm sức lao động
là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an hội,
gây bất bình trong luận quần chúng nhân dân. Trong vụ án đồng phạm tham
gia, do vậy khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, hội đồng xét xử cần xem xét
đến vai trò, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình scác
bị cáo được hưởng, mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của các bị cáo để
ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với người đàn ông không rõ họ tên, tuổi địa chỉ bán ma túy cho T, H vào
ngày 11/01/2022 tại khu vực bờ sông thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình
Giang, tỉnh Hải Dương hành vi T, H khai sử dụng ma túy phòng trọ thuộc
thôn HN, xã MH1, huyện VL; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị MH đã
có công văn thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang,
tỉnh Hải Dương quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VL để giải quyết
theo thầm quyền là đúng quy định của pháp luật. Đối với bà Q là người cho T vay
500.000 đồng nhưng không biết T sử dụng đmua ma túy, bà Q không có yêu cầu
đề nghị gì nên Tòa án không đặt ra để xét.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và
hướng xử lý đối với bị cáo:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nh sự. Quá trình
điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của
mình, tỏ ra ăn năn hối hận thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên các bị
cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H là người dân tộc thiểu số trú ở vùng
có điều kiện kinh tế xã hội đặc biết khó khăn; gia đình thuộc hộ cận nghèo nên b
6
cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nh sự quy định tại khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo
được hưởng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo T giữ vai trò chính, trực tiếp rủ bị
cáo H góp tiền mua ma túy để các bị cáo cùng nhau sử dụng; bị cáo chở H đi mua
ma y người trực tiếp đứng ra giao dịch để mua ma túy. Bị cáo H giữ vai
trò đồng phạm tích cực; khi được T rgóp tiền và cùng T đi mua ma túy, bị cáo
cũng đồng tình; khi mua được ma túy bị cáo T giao cho bị cáo thì bị cáo cầm, trực
tiếp quản lý, cất giữ số ma túy đó. Mặc các bị cáo nhân thân tốt, chưa
tiền án, tiền sự; tuy nhiên hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm trực tiếp tiếp tay
cho hành vi mua bán trái phép trái phép chất ma y. vậy, khi cân nhắc hình
phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần bắt các bị cáo cách ly khỏi
đời sống xã hội một thời gian, mức hình phạt đối với bị cáo T phải cao hơn bị cáo
H và tuyên phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp với đề xuất của Viện kiểm sát
tại phiên tòa mới tác dụng giáo dục c bcáo thành công dân ích cho gia
đình và xã hội và có tính giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập
không ổn định, không tài sản riêng; bị cáo H gia đình thuộc hộ cận nghèo.
Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối
với các bị cáo.
[5]. Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 95/MT-PC09 bên
trong có 1,200g heroine; toàn bộ các mảnh nilon và các mảnh giấy bạc bọc ma túy
và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định đây là vật chứng của vụ án,
nhà nước cấm tàng trữ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 xe nhãn hiệu Winer, mầu trắng đen, biển kiểm soát
21B1691.76, số khung RLHKC2609GY090957, số máy KC26E1125497 01
giấy chứng nhận đăng xe mô số 066219 của xe biển kiểm soát 21B1-
691.76 mang tên Đặng Văn T; quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của
bị cáo T, bị cáo không trực tiếp sử dụng vào việc tàng trữ ma túy nên sẽ trả lại cho
bị cáo T.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều
17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đặng Văn T, Lò
Văn H. Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn H.
[1]. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn T, Văn H đều phạm tội Tàng trữ
trái phép chất ma túy”.
7
[2]. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12/01/2022.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12/01/2022.
[3]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với
các bị cáo.
[4]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47
Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong niêm phong hoàn lại sau giám định số
95/MT-PC09 có tên và chữ ký của ông Hoàng Quốc Khánh, Nguyễn Văn Học và
dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.
Trả lại bị cáo Đặng Văn T 01 xe mô nhãn hiệu Winer, mầu trắng đen, biển
kiểm soát 21B1-691.76, số khung RLHKC2609GY090957, số máy
KC26E1125497 01 giấy chứng nhận đăng xe mô s066219 của xe có
biển kiểm soát 21B1-691.76 mang tên Đặng Văn T.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2022 giữa
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã MH và Chi cục thi hành ánn sự thị xã
MH).
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Toà án.
Các bị cáo Đặng Văn T, Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai
trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đặng Văn T, Lò Văn H mặt tại phiên
tòa quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm;
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh Hưng Yên;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA
- VKSND, Công an, Chi cục THADS thị
MH;
- Các bị cáo, người bào chữa cho bị
cáo H;
- Phòng KTNV TAND tỉnh Hưng Yên; -
Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên
- u hồ sơ vụ án.
8
NGUYỄN THỊ OANH
9
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ
TỌA PHIÊN TÒA
PHAN XUÂN HÙNG ĐẶNG THỊ TUYẾT HƯƠNG NGUYỄN THỊ OANH
10
11
12
Tải về
Bản án số 31/2022/HS-ST Bản án số 31/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất